“Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ kheo và nói như sau:
Khổ lụy, này các Tỷ kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Ví như, này các Tỷ kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu có gắn mồi thịt vào trong một hồ nước sâu và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỷ kheo, chỉ cho ác ma; lưỡi câu có gắn mồi thịt chỉ cho lợi đắc, danh vọng và cung kính.
Tỷ kheo nào thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, danh vọng và cung kính đã đến, Tỷ kheo ấy được gọi là Tỷ kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Do vậy, này các Tỷ kheo, các ông phải học tập như sau: “Đối với lợi đắc, danh vọng và cung kính đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Đối với lợi đắc, danh vọng và cung kính chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ II, chương 6, phẩm 1, phần Lưỡi câu, VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.390)
. . . . .
LỜI BÀN:
QUYỀN LỢI, DANH VỌNG và UY QUYỀN là điều mọi người sống trên đời đều mong muốn chiếm hữu. Ban đầu, con người thường mong cầu lợi dưỡng, mơ ước làm giàu. Một khi đã đầy đủ về phương diện vật chất, con người có khuynh hướng tìm cầu địa vị, chức tước và danh vọng. Không dừng lại ở chỗ có tiền, có danh, tập khí tham lam cố hữu của con người luôn khát khao uy quyền, thống lãnh và nhiếp phục thiên hạ; thích thú, hả hê khi được mọi người cung kính, khép nép và sợ hãi.
Lợi danh và cung kính thật ngon ngọt, hấp dẫn nhưng lại không có nhiều nên mọi người phải tranh chấp, xâu xé, chụp giựt… và đó là căn nguyên của mọi đổ vỡ, mâu thuẫn, xung đột, bất hạnh ở đời. Không ít người bị lợi danh làm mờ mắt, bất chấp hậu quả, không ngại thủ đoạn, lường gạt, xu nịnh, thậm chí vô liêm sỉ đến độ can tâm bán mình, vong thân, vong bản.
Theo tuệ giác của Thế Tôn, DANH LỢI và CUNG KÍNH giống như miếng mồi ngon bao bọc bên ngoài một lưỡi câu sắc nhọn. Đối với người xuất gia, tiếp xúc với mồi ngon lợi danh và cung kính thì lại càng cẩn trọng hơn. Vì người xuất gia có một đặc điểm kỳ đặc khác với người đời là sau một thời gian tu hành thì phước đức tăng trưởng, dẫu không cầu nhưng lợi danh và cung kính tự đến.
Thọ nhận sự dâng cúng, tôn vinh và kính trọng của tín đồ là trách nhiệm của người xuất gia để tạo phước báo cho tín đồ song cũng ngay chính ở đây ẩn tàng một hiểm họa khôn lường. Nếu không chánh niệm để tri túc và thiểu dục thì chắc chắn bị dính câu, rơi vào bất hạnh, chịu sự sai khiến của kẻ khác.
Vì thế, muốn thành tựu giải thoát, vượt ra ngoài mọi sự kềm tỏa, người con Phật phải luôn tâm niệm, quán sát về sự nguy hiểm của dục. Lợi danh và cung kính chẳng khác nào chút mật trên lưỡi dao, vị ngọt ngon của chút mật ấy luôn gần kề với tai họa đứt lưỡi.
(Các bài viết trên FB Quảng Tánh, mọi người có thể chia sẻ mà không cần xin phép)
. . . . .
CẢM NHẬN
Bài Kinh được Thế Tôn giảng dạy cho chúng tỳ kheo là những vị „xuất sĩ“ là những vị đi „tu“ để NHẮC NHỞ về CÁI HẠI nghiêm trọng của LỢI – DƯỠNG gồm „Quyền Lợi, Danh Vọng và Uy Quyền“ đối với hàng tỳ-kheo
Còn đối với hàng „cư sĩ“ là Phật tử tại gia thì cái hại của lợi – dưỡng được nhắc đến NGŨ DỤC gồm TÀI, SẮC, DANH, THỰC, THÙY!
NGŨ DỤC nghĩa là gì? Là 5 món tham muốn của chúng sanh, từ súc sanh đến con người kể cả loài thần tiên, người xuất sĩ cũng như cư sĩ… bất kể AI chưa „thành“ Thánh đều bị vướng mắc – có ít hoặc nhiều, chứ không thể nào không có (!).
Nếu không điều phục NGŨ CĂN gồm Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và để cho năm giác căn này BỊ NGŨ DỤC „xỏ mũi“ thì rơi ngay vào nẽo ác chắc chắn dẫn đến hệ lụy theo quy trình nhân quả lập tức – chỉ có sớm hay muộn!
NGŨ DỤC còn gọi là NGŨ ĐỘC TIỂN nghĩa là năm mũi tên độc hại. Cho nên, tham đắm ngũ dục tức TỰ dâng cuộc đời làm tấm bia cho năm mũi tên độc đó hướng đến!
Theo giáo lý Phật đà, NGŨ DỤC là 5 thứ THAM MUỐN sau:
1. Tài dục: Tham MUỐN vật chất như nhà cửa, của cải, vàng ngọc, tiền bạc…
2. Sắc dục: Tham MUỐN sắc đẹp mỹ miều;
3. Danh dục: Tham MUỐN địa vị cao sang, danh vọng, tiếng tốt;
4. Thực dục: Tham MUỐN thức ăn ngon, vị ngọt…
5. Thùy dục: Tham MUỐN ngủ nghỉ nhiều.
Nó cũng là năm thứ dục lạc của trần cảnh nên cũng gọi là NGŨ TRẦN gồm:
1. Sắc dục: Tham THẤY sắc đẹp, ưa thích tướng tốt…
2. Thinh dục: Tham NGHE tiếng hay, dịu ngọt. lời êm ái, ru ngủ…
3. Hương dục: Tham NGỮI mùi thơm ngạt ngào…
4. Vị dục: Tham ĂN đồ ăn thức uống ngon ngọt…
5. Xúc dục: Tham ĐỤNG CHẠM những thứ mềm dịu, êm ái…
Trong đó, Thấy – Nghe – Ngữi – Nếm (ăn) – Xúc là NĂM GIÁC CĂN
Theo giáo lý Pháp Cú (dhammapada) Kinh, 21 Phẩm đầu nói về Ý, riêng phẩm „Song Yếu“ (yamaka-vaggo) nói rằng:
Ý DẪN ĐẦU CÁC PHÁP,
Ý LÀM CHỦ Ý TẠO.
Cho nên năm món dục gồm tài sắc danh thực thùy là „mẫu số chung“ hay là tên gọi chung cho mọi cái tham muốn, ái luyến v.v… bất kể đó là AI đều do sự TÁC Ý muốn „chiếm hữu“ năm trần cảnh là đối tượng của năm giác căn điều khiển dẫn dắt!
Tùy theo hoàn cảnh, vị trí, điều kiện thuận lợi, chức vị ngoài đời cũng như trong đạo v.v… mà cái Ý tham muốn này được biểu hiện tương ứng với điều kiện hay duyên ĐANG là… Nghĩa là phải có cái NHÂN, chứ tự bản thân cái gọi là TRẦN CẢNH làm DUYÊN cho GIÁC CĂN không thể sanh khởi bất cứ điều gì! NHỎ tham ít, LỚN tham nhiều… nghĩa là:
„Có, có, có thêm, có thêm nữa, vẫn chưa hài lòng!“
(yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha)
Cho nên mọi sự tham muốn, đam mê, ái nhiễm v.v… không tư nhiên mà có. Mà phải do sự một sự TÁC Ý tương ứng đối tượng thông qua giác căn dẫn đến cái BIẾT so đo, phân biệt, thêm mắm thêm muối, thêu dệt ảo tưởng … khiến „lòng“ (tâm) THAM xuất hiện, chứ chẳng có DUYÊN gì KHỞI cả, nếu không có TÁC Ý (nhân)!
Nhưng từ đâu có tác ý tham muốn này?
Đơn giản dễ hiểu bởi sống không có ý thức BIẾT rằng:
Mọi pháp KHÔNG THẬT CÓ
bởi do NHÂN DUYÊN SANH.
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT,
ĐANG vận hành TỪNG SÁT-NA.
Nhờ vậy, mới có thể thực hành pháp môn BIẾT KHÔNG THÊM nghĩa là Ý NHƯ VẠN SỰ NHƯ NÓ ĐANG LÀ thì còn gì để mà tham muốn nắm bắt. Mà không có cái gì để nắm bắt thì có cái gì để buông bỏ! Chứ cái gọi là năm Dục KHÔNG THẬT CÓ. Chúng do „nhân“ TÁC Ý „duyên“ Căn Trần mà „sanh“ Thức „Tham Muốn“!
Điều này chúng ta nhận ra gì? Xin thưa, theo giáo lý Phật đà: Tất cả mọi hiên tượng sanh – thành – hoại – diệt, tât dịch dị bệnh khổ tâm đau thân hay sức khỏe, hạnh phúc v.v… đều chịu ảnh hưởng trực tiếp qua điều kiện „ắt có và đủ“ của lập trình Nhân – Duyên – Hội Ngộ – Thời. Cho nên luôn khẳng định nói rằng:
Chúng sanh ĐANG là
CÁI tác ý của họ ĐÃ là.
Chúng sanh SẼ là
CÁI tác ý của họ ĐANG là…m!
Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát
Thương kính chúc muôn loài Sức Khỏe Bình Thường, luôn An Lành với „Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC được ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
Kính mong các Bạn lưu ý cho lúc liên lạc qua internet hay điện thoại – Kể từ ngày Chủ nhật ngày 31.03.2024, châu Âu kể cả Đức đã đổi giờ mùa HÈ: 2 sáng ngày thứ HAI lên thành 3 giờ. Nghĩa là, giờ Việt Nam sẽ đi TRƯỚC giờ Đức hay châu Âu 5 tiếng. Ví dụ, Việt Nam là 3h CHIỀU thì Đức và châu Âu là 10h SÁNG
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ TƯ ngày 03.04.2024
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover. www.hannover-wendepunkt.de/team/


Bình luận