
A. VĂN
Có một đệ tử hỏi Phật rằng: “Ngài có thần thông và từ bi, vì sao vẫn còn những kẻ chịu khổ vậy?
Phật rằng: “Như Lai tuy có sức thần thông rất lớn. Nhưng có bốn (4) điều vẫn không thể thực hiện được, chính là:
Điều 1: NHÂN QUẢ không thể ĐỔI THAY!
TỰ gieo NHÂN thì TỰ nhận QUẢ. KHÔNG MỘT AI có thể nhận thay.
Điều 2: TRÍ TUỆ không thể CHO ĐƯỢC!
Bất kỳ ai muốn có trí tuệ thì phải TỰ MÌNH TU HỌC và TỰ THÂN TRÃI NGHIỆM
Điều 3: DIỆU PHÁP không thể DIỄN TẢ ĐƯỢC!
Bản thể chân thật của vũ trụ không thể dùng ngôn ngữ giải thích mà hiểu được. Chỉ có thể HIỂU BẰNG THỰC CHỨNG.
Điều 4: KHÔNG CÓ DUYÊN không thể ĐỘ!
Người không có duyên thì họ không bao giờ nghe những lời nói mà ta chia sẻ. Mưa trời tuy lớn, cây không rễ khó mà thấm nước. Phật môn tuy rộng mở, khó độ người vô duyên.
B. TƯ
1. NHÂN QUẢ.
Đối tượng của bốn điều mà Đức Phật nói đến không ai khác hơn là MÌNH, là TÔI, là BẠN, là BỆNH NHÂN, là NGƯỜI ĐIỀU TRỊ (bác sĩ, lương y)… và CON NGƯỜI.
Nếu thế thì không có gì để thắc mắc về những nỗi khốn khổ, lầm than, nghèo đói, bệnh tật, thất học, vô đạo đức, sự bạo tàn… của thế giới và con người ngày nay trên hành tinh này nữa!
Đức Phật là ĐẠI Y VƯƠNG mà Ngài còn THÀNH THẬT THÚ NHẬN như thế, thì bệnh khổ của con người không một thần y, thượng đế hay thần linh… nào có thể NHẬN LÃNH hay GÁNH CHỊU THAY được.
Mà có lành bệnh hay không là cho chính bản thân bệnh nhân TỰ quyết định đến 80 phần trăm. Tỷ lệ còn lại là thuốc men kể cả mọi phương pháp trị liệu của Đông, Tây, Nam, Bắc Y… kể cả các phương pháp y học bổ sung, tâm linh hay năng lượng, dưỡng sinh gì đó… cũng chỉ là phương tiện hỗ trợ với 20 phần trăm cho việc chữa lành!
Mọi phương tiện hay công cụ như vậy được nhà Phật ví như NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG.
Bệnh nhân không thể bám víu, dính mắc, trông cậy hay cầu cạnh vào phương tiện để có thể lành bệnh được. Ngược lại, chính họ CHỈ CẦN MƯỢN phương tiện để TỰ MÌNH CHỮA LÀNH bệnh, chứ không có một phương tiện nào như phương pháp trị liệu hay hay thuốc men v.v… có thể làm cho họ DỨT bệnh được cả.
Vì sao? Vì phương tiện là DUYÊN. Bệnh nhân cần phải HIỂU (diệu pháp, bản thể của hiện tượng) và NHẬN BIẾT (trí tuệ) nguyên nhân chính xác của căn bệnh để áp dụng phương pháp được hướng dẫn.
Còn bệnh có thuyên giảm mau hay chậm hoặc dứt hẳn hay không là do PHƯỚC BÁU (nghiệp) của họ gây ra – gọi là BIỆT NGHIỆP!
Tuy nhiên, cái NGHIỆP của người điều trị cũng ảnh hưởng không ít đối với việc trị bệnh; qua đó họ có giúp được bệnh nhân giảm thiểu hay dứt hẳn triệu chứng hay không – đối với bệnh nhân, thì người trị bệnh là cộng nghiệp của họ! Ý nói đến Y ĐẠO và Y ĐỨC của điều trị viên ảnh hưởng rất lớn đối với bệnh nhân trong lúc trị bệnh!
Cho nên, muốn KHÔNG và HẾT BỆNH thì chỉ có cách CHUYỄN NGHIỆP (tâm ý) – chứ Nghiệp không thể xóa được!
Bởi vì „TÂM LÀM CHỦ – TÂM TẠO TÁC!“
Cũng vì thế mà nghiệp BẤT THIỆN chính là NĂNG LƯỢNG của nghiệp THIỆN. Bởi không có nghiệp bất thiện thì sẽ không có nghiệp thiện!!!
Đó là luận về NHÂN QUẢ KHÔNG THỂ ĐỔI THAY
Kính mời các Bạn tìm hiểu tham khảo khảo thêm về THIỆN vay BẤT THIỆN diễn ra thế nào qua link sau:
https://nangluongtamtheperg.de/2023/09/24/thien-ac-dong-thoi/
2. TRÍ TUỆ hay HUỆ
TRÍ hay TRI là sự hiểu biết. Tuy nhiên, những kiến thức, học vấn, hiểu biết của thế gian… không phải là TRÍ TUỆ. Đó chỉ là TRÍ THỨC hay TRI THỨC… những cái hiểu biết, kiến thức… bị giới hạn bởi các quy luật mặc định… nhưng CHƯA TỪNG ĐƯỢC TỰ THÂN TRÃI NGHIỆM.
Ví dụ: Ai cũng BIẾT „lửa nóng!“… đứa con nít cũng đã từng nghe người lớn hù dọa rồi… Đừng nghịch „hộp quẹt“ nghe con! „Lửa“ phựt lên „nóng“, coi chừng „bỏng“ tay đấy! Lúc đó, dứa bé chỉ có input một số thông tin (data) liên hệ và lưu trữ (save) vào não như một lập trình (software) cho các tế bào thần kinh (neuron) mà thôi!
Và đó chỉ là một mớ danh từ, khái niệm về các hiện tượng như “bật diêm“, “lửa“, “nóng“, “bỏng“. Đứa trẻ BIẾT như thế, và cái BIẾT này cũng chỉ là gọi là TRI thức chứ chưa phải là TUỆ (!) – ví như siêng năng tinh tấn đi nghe pháp miết, lạy Phật mòn đầu gối, xói trán… đọc vạn quyển Kinh v.v… những thứ đó chỉ mới là văn, nghĩa là biết „lý thuyết“, biết ngoài da như biết có „ngón tay chỉ mặt trăng“… chứ „chưa thấy“ trăng (!) Cũng như đứa trẻ CHƯA TỪNG TRÃI NGHIỆM TỰ THÂN cái cảm giác “lửa“ “nóng“ “bỏng“… như thế nào!
Một lúc nào đó, nó nghịch hộp quẹt, lấy ra một que diêm rồi quẹt lên, lửa cháy „liếm“ vào ngón tay „nóng bỏng“… giựt mình buông rơi ngay que diêm… thì lúc đó cái TUỆ hay HUỆ của nó về mớ hiểu biết trước đây về „lửa nóng“ như thế nào!
Cái gọi là TRÍ TUỆ chỉ có thể có được qua sự trãi nghiệm tự thân chứ nó không thể trình bày, diễn tả hay cho ai được… chỉ có thể cảm nghiệm, cảm nhận được mà thôi!
Nếu trẻ chưa từng trãi nghiệm qua, thì sau này nó cũng truyền đạt lại cho con cháu cũng như thế…“lửa“ “nóng“ “bỏng“… chứ suốt đời chẳng hề kinh qua cái cảm thọ „đau nhức, khổ sở… bởi cái BỎNG từ LỬA NÓNG ra sao!!!
Cũng như thế. Đường „ngọt“; chanh „chua“ v.v… Cái “ngọt” hay “chua” không thể cảm nghiệm qua sự hiểu biết quy luật được. Mà ai muốn biết đường “ngọt” ra sao, chanh “chua” thế nào… thì cứ bỏ cục đường hay ngậm miếng chanh trong miệng thì BIẾT NGAY cái “ngọt” của đường và “chua” của chanh là gì!.
Cái TRÍ TUỆ này cũng không thể ai CHO ai được.
Mà phải TỰ THÂN TRÃI NGHIỆM.
TRÍ TUỆ theo thuật ngữ nhà Phật là TRÍ BÁT NHÃ (prajna)
Đối với tật bệnh hay sức khỏe, khổ đau hay hạnh phúc cũng không khác.
Chỉ khi đã bị bệnh tật thì mới BIẾT QUÝ (trí tuệ) sức khỏe như thế nào! Còn khi chưa bị bệnh thì đa số lơ là việc giữ gìn sức khỏe!
Cũng như khi có khổ đau thì lúc đó mới BIẾT TÌM hạnh phúc. Còn khi hạnh phúc ĐANG có trong bàn tay (hiện hữu) mà không BIẾT TRÂN QUÝ nó…trong khi đó vẫn mãi duỗi rong tìm kiếm…
Trên đây là tạm luận về TRÍ TUỆ KHÔNG THỂ CHO ĐƯỢC!
Còn ngày nay, chưa CHẾT mà bàn về chết ra sao, thế nào? Chưa BỆNH, sống sung sướng vật chất đủ điều mà luận về KHỔ? … ngay cả người CƯ sĩ lẫn TU sĩ các kiểu…! Mô Phật! Họ chỉ MƯỢN lời Kinh, kinh nghiệm của TỔ… rồi mà triết lý dong dài, thi phú ví von, chữ nghĩa trứu tượng… nhan nhãn khắp nơi, nhất là trên internet cộng đồng mạng xã hội…(!)
3. DIỆU PHÁP (saddharma)
DIỆU là vi diệu, không thể nghĩ bàn.
PHÁP: Bao gồm tất cả sự vật cụ thể hay trừu tượng. Hữu hình gọi là sắc pháp; vô hình gọi là tâm pháp. Có thể tánh gọi là hữu pháp; không thể tánh gọi là vô pháp. Bất kỳ cái gì có thể cho ta một khái niệm về nó đều gọi là pháp. Giáo lý Phật đà cũng là Pháp. Mọi quy luật, truyền thuyết, kiến thức, hiểu biết v.v… bản thể, chân lý v.v… đều gọi là pháp!
Ví dụ: Các pháp NHÂN DUYÊN SANH, VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ… của nhà Phật là những bản thể chân lý (pháp) vi diệu. Đây là một SỰ THẬT không thể nghĩ bàn… vượt qua giới hạn tôn giáo, tín ngưỡng, chủng tộc, nhân văn, chính trị, xã hội, nhân sinh quan…!
Vì là VI DIỆU PHÁP, bản thể chân thật tự nhiên… không thể nghĩ bàn, nên không thể diễn tả được, không thể dạy được! Chỉ TRÃI QUA THỰC CHỨNG, TỰ THÂN TRÃI NGHIỆM thì mới có thể gọi là HIỂU được.
Các phương pháp trị liệu của y học, tây và đông y lẫn y học bổ sung, tất cả cũng là Pháp. Bệnh nhân có lòng TIN thuyết phục ở một liệu pháp nào thì hãy chí thành nghiêm túc thực tập thao tác theo phác đồ ấy… Chính bệnh nhân sẽ nhận biết được tính chất vi diệu của (liệu) PHÁP với cái kết là căn bệnh được chữa lành!
Cho nên DIỆU PHÁP không thể DIỄN TẢ ĐƯỢC!
4.
VÔ DUYÊN và ĐỘ – Đây là thuật ngữ nhà Phật DUYÊN và ĐỘ
DUYÊN là ĐIỀU KIỆN. Điều kiện có bên trong và bên ngoài. Bên trong thuộc tâm lý; bên ngoài là vật lý như hoàn cảnh, môi trường, xã hội, giáo dục v.v…
VÔ DUYÊN là KHÔNG hay THIẾU những điều kiện thuận lợi… như điếc không thể nghe âm thanh, tiếng nói; mù không thể nhìn thấy ánh sáng, sự vật v.v…
ĐỘ là GIÚP, hỗ trợ, đồng hành, chuyển hoá… từ tiêu cực thành tích cực, từ khổ đau thành hạnh phúc, từ tật bệnh thành sức khoẻ v.v…
Vô duyên KHÔNG độ nghĩa là có giúp, có lo, có nhắc nhở, có chỉ dạy… nhưng KHÔNG đổi thay, trơ trơ như gỗ đá… chẳng khác kẻ mù, kẻ điếc, kẻ câm… thì có ĐỘ cũng chẳng được – chứ không phải là BỎ MẶT, KỆ… họ! Nếu làm như thế thì BỊ NHÂN QUẢ như câu chuyện một „tăng sĩ dù đắc quả A La Hán (alahan) bị mù hai đôi mắt“. Kính mời tìm hiểu với link sau đây:
https://nangluongtamtheperg.de/2023/09/30/tac-y-va-qua-bao-mac-du-da-dac-qua-a-la-han/
C. TU
Bốn (4) điều ngay cả Thế Tôn cũng KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC ý muốn nhắc nhở người VĂN – TƯ – TU giáo lý Phật Đà muốn đạt trạng thái GIÁC NGỘ (Phật tánh, Niết Bàn, Cực Lạc, Tỉnh Thức v.v…) – bởi Niết Bàn, Cực Lạc, Giác ngộ v.v… KHÔNG PHẢI LÀ một NƠI CHỐN ĐỊA LÝ nào đó để có thể MONG CẦU TÌM ĐẾN – mà cần PHẢI biết SỐNG Ý Thức Nhận Biết trong từng sát-na như Thái Tử Tất Đạt Đa thì trạng thái Giác Ngộ thành PHẬT (bậc Giác Ngộ) sau 49 ngày tỉnh lặng HÀNH TRÌ cho đến sát-na cuối cùng khi Ngài “hít vào không thở ra được” có mặt NGAY ĐANG LÀ. Và Ngài luôn TRỤ ở trạng thái này từng sát-na cho đến khi Ngài lìa cõi trần này – điều mà trong Kinh sách ghi là “Ngài NHẬP Niết Bàn” – nhưng thật ra chắng có NIẾT BÀN nào cho một Đấng GIÁC GIẢ (Phật) để nhập hay vào cả! Cho dù ĐANG hiện hữu ở sát-na nào thì Ngài cũng ĐANG TRỤ NGAY nơi TRẠNG THÁI gọi là NIẾT BÀN rồi (!). Vì thế cho nên còn có cái Niết Bàn nào nữa để mà „nhập“, người sau Thế tôn mới „nhập nhằng“ ghi chép chuyện ra vào Niết bàn của Thế tôn, thiệt tình luôn (!):
Bởi do “NHÂN DUYÊN SINH”
nên mọi pháp KHÔNG THẬT CÓ
Chỉ NHÂN QUẢ (karma) là “LUÔN THẬT CÓ”
ĐANG vận Hành “TỪNG SÁT-NA”
Cho nên:
Chúng sinh, pháp giới (pudgala) ĐANG LÀ
CÁI (pudgala)họ, nó ĐÃ LÀ
Chúng sinh, pháp giới (pudgala) SẼ LÀ
CÁI (pudgala) họ, nó ĐANG LÀ…M
Thương kính chúc các Bạn cùng thân quyến và bằng hữu có những ngày cuối tuần đầu tháng 10.2023 THÂN YÊN TÂM AN và Ý NHƯ VẠN SỰ – đây là phương pháp Giáo Dục Đặc Biệt „3T-PERG“ của Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.G.®, nghĩa là „THÂN khoẻ – TÂM an – TRÍ khai“!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
thứ SÁU ngày 06.10.2023


Bình luận