
PSYCHE News 26/13Sept2023
NGUYÊN NHÂN RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý (ADHD) – Nguy cơ tử vong cao do TỰ TỬ và TAI NẠN của những người bị ADHD
A. NHỮNG BỆNH TÂM LÝ ĐI KÈM ADHD
Bệnh nhân mắc chứng RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý (attention deficit hypetractivity disorder, ADHD) có nguy cơ tử vong sớm do tai nạn hoặc tự tử cao hơn. Một nghiên cứu hiện nay của Thụy Điển cho thấy các bệnh đi kèm về tâm lý như RỐI LOẠN SỢ HÃI (anxiety disorder), RỐI LOẠN HÀNH VI (behavioral disorder) hoặc LẠM DỤNG CHẤT GÂY NGHIỆN (substance abuse) đóng một vai trò khá quan trọng ở đây.
Một nghiên cứu của Đan Mạch trong năm 2015 cho thấy rằng, bệnh nhân mắc ADHD có tỷ lệ tử vong cao gấp đôi so với những người cùng lứa tuổi không mắc bệnh. Để khảo sát chi tiết về nguyên nhân tử vong không có lý do cao đối với người mắc bệnh ADHD và yếu tố nào đóng vai trò ở vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu do Shihua Sun điều hành thuộc Viện Karolinska ở Stockholm và đại học Örebro tiến hành phân tích. Họ đánh giá dữ liệu của 2,68 triệu người sinh ra ở Thụy Điển trong khoảng thời gian từ 1983 đến 2009. Trong số này, có 86.670 người với 3,2% đã được chẩn đoán ADHD.
Theo phân tích, cho đến nay đã có 424 bệnh nhân ADHD tử vong; nguy cơ tử vong là 11,6 trên 10.000 người trên năm, cao hơn đáng kể so với nhóm so sánh với 2,2 trên 10.000 người trên năm. 35,8% số ca tử vong ở bệnh nhân ADHD là do tai nạn và 31,4% là do tự tử. Điều này có nghĩa là nguy cơ tự tử tăng lên gấp 9 lần và nguy cơ tử vong do tai nạn tăng lên gấp 4 lần.
Nhìn chung, bệnh nhân người lớn bị ảnh hưởng nhiều hơn đáng kể so với trẻ em. Ngoài ra, nguy cơ tử vong sớm tăng lên cùng với số lượng bệnh tâm lý đi kèm. Ở những bệnh nhân có từ 4 bệnh đi kèm trở lên, tỷ lệ tử vong tăng lên gấp 25 lần. Ngược lại, những người chỉ được chẩn đoán ADHD có tỷ lệ tử vong tăng 40%. Các bệnh đi kèm bao gồm rối loạn hành vi, rối loạn ăn uống (eating disorder), thiểu năng trí tuệ (intellectual limitations), rối loạn phổ tự kỷ (autism spectrum disorders) rối loạn lưỡng cực (bipolar disorders), tâm thần phân liệt (schizophrenia), rối loạn lo sợ (anxiety disorder), trầm cảm (depression) và lạm dụng chất gây nghiện (subsatnce abuse). Hầu hết các bệnh đi kèm (trừ bệnh tự kỷ và thiểu năng trí tuệ) đều làm tăng nguy cơ tử vong. Các tác giả viết trong ấn phẩm đăng trên tạp chí “JAMA Psychiatry” rằng: Mối liên hệ đặc biệt rõ rệt với sự lạm dụng chất gây nghiện.
Ông Sun trong một thông cáo báo chí của viện nói rằng: “Hiểu rõ hơn về vai trò của các bệnh tâm lý đi kèm đối với tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ADHD có thể đơn giản hóa các nỗ lực giám sát, can thiệp và phòng ngừa”.
Chất kích thích (stimulant)cũng có thể đóng một vai trò ở đây. Một nghiên cứu gần đây của Hoa Kỳ cho thấy rằng việc sử dụng sớm các chất này có thể bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng ADHD tránh khỏi các vấn đề phát triển khó khăn ở trường học, các vấn đề về hành vi, trầm cảm và nghiện ngập.
Nguồn: DOI: 10.1001/jamapsychiatry.2019.1944
B. NHIỀU ĐÀN ÔNG và PHỤ NỮ MẮC CHỨNG ADHD ĐÃ TÌM CÁCH TỰ TỬ
Rối loạn tăng động giảm chú ý (attention deficit hyperactivity disorder, ADHD) có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm lý khi trưởng thành.
Một nghiên cứu tiêu biểu trên toàn quốc của Canada do các nhà khoa học Esme Fuller-Thomson, Raphaël Nahar Rivière, Lauren Carrique và Senyo Agbeyaka thuộc đại học Toronto thực hiện cho thấy tỷ lệ tìm cách tự tử (suizide attempts) trong đời ở phụ nữ mắc ADHD là 24% cao hơn đáng kể so với phụ nữ không mắc ADHD là 3%.
Nhìn chung, những người trưởng thành mắc ADHD có nhiều khả năng đã tìm cách tự tử nhiều hơn những người được hỏi không mắc ADHD với 14,0% so với 2,7%. Cứ một trong bốn phụ nữ thì có một người mắc chứng ADHD đã từng có ý định tự tử.
I. NHỮNG NHÂN TỐ.
60% mối liên hệ giữa ADHD và việc tìm cách tự tử đã giảm đi khi các triệu chứng như trầm cảm và rối loạn lo âu được quan tâm đến trong cuộc sống.
Giới tính nữ, trình độ học vấn thấp, lạm dụng chất gây nghiện, trầm cảm và bạo lực mãn tính trong gia đình ở trẻ em đã được xác định là những yếu tố độc lập dẫn đến việc tìm cách tự tử ở những người mắc ADHD.
Nam giới mắc chứng ADHD cũng có nhiều khả năng muốn tự tử (9%) hơn nam giới không mắc ADHD (2%)
II. BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Những người trưởng thành mắc chứng ADHD từng phải chịu đựng bạo lực mãn tính trong gia đình từ cha mẹ có nguy cơ tự tử cao gấp ba lần so với những người cùng lứa tuổi mắc chứng ADHD chưa từng trải qua nghịch cảnh thời thơ ấu này.
Bạo lực gia đình từ cha mẹ được xác định là “mãn tính” (chronic) nếu nó xảy ra hơn 10 lần trước khi người được hỏi ý kiến 16 tuổi.
Nghiên cứu đã khảo sát một mẫu trích ngang tiêu biểu cho toàn quốc gồm 21.744 người Canada, 529 người trong số họ cho biết rằng họ đã được chẩn đoán mắc chứng ADHD. Dữ liệu từ cơ quan „Khảo sát Y tế Cộng đồng Canada-Sức khỏe Tinh thần“ (Canadian Community Health Survey-Mental Health)
Nguồn: Cơ quan „Lưu trữ nghiên cứu tự sát“ (Archives of Suicide Research) – https://doi.org/10.1080/13811118.2020.1856258
. . . . .
CẢM NHẬN
A. TỔNG QUAN
I. RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý (attention deficit hypetractivity disorder, ADHD) là một triệu chứng chiếm 5% trong số trẻ em và thanh thiếu niên trên toàn cầu, theo Viện Robert-Koch tại Đức.
II. Chứng ADHD có mặt ở mọi nền văn hoá và quốc gia trên thế giới. Tần suất xuất hiện được gọi là „phổ biến“ (prevalence). Tính phổ biến này được định nghĩa bằng nhiều khái niệm như: Tần suất chẩn đoán (diagnostic prevalence) – ví dụ, tần suất chẩn đoán y tế về một căn bệnh hay triệu chứng nào đó trên tổng số quần chúng trong 12 tháng qua, hay một tuầ nqua v.v…; tần suất hiện trạng (true/field prevalence); tần suất điều trị (treatment prevalence); tần suất tiêu biểu (administrative prevalence).
Điều có thể thấy rõ rằng: Những người mắc chứng ADHD đôi khi nhìn thế giới của họ và những gì xảy ra xung quanh họ khác biệt đáng kể so với những người khác trong cùng điều kiện. Vì thế, họ thường được những người xung quanh cho là “yếu đuối về tính cách” (weakness of character).
III. Trẻ em hoặc thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý ADHD nói chung rất bốc đồng nghĩa là có xu hướng hành động đột ngột (action suddenly) thiếu suy nghĩ. Khi một ý tưởng nảy ra, chúng không tính đến hậu quả mà làm theo những ý tưởng đầu tiên và đơn giản hành động mà không cần suy nghĩ.
IV. Nguyên nhân của ADHD
Nguyên nhân và cơ chế phát triển của ADHD đến nay vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng một số lượng lớn các yếu tố ảnh hưởng do di truyền riêng lẻ tương tác với các yếu tố ảnh hưởng khác, ví dụ như các biến chứng khi mang thai và sinh nở hoặc các yếu tố môi trường, dẫn đến những sai lệch phát triển trong các mạch điều khiển thần kinh có trách nhiệm cho sự phát triển của các triệu chứng.
Những sai lệch phát triển trong mạch điều khiển tế bào thần kinh này bao gồm những thay đổi trong hệ thống dẫn truyền thần kinh (đây là những chất truyền tin thiết lập mối liên hệ giữa các tế bào não riêng lẻ), đã được chứng minh ở trẻ em mắc ADHD.
Theo suy nghĩ hiện nay, nhiều bệnh lý khác nhau có thể dẫn đến biểu hiện lâm sàng của ADHD. Điều này cũng có nghĩa là không phải tất cả những người bị ảnh hưởng đều có những bất thường về tâm thần kinh và sinh học thần kinh GIỐNG NHAU làm cơ sở cho các triệu chứng của họ. Những bất thường này không đặc trưng cho ADHD nhưng cũng có thể xảy ra ở các rối loạn khác.
Kết quả của các nghiên cứu về giải phẫu thần kinh cho thấy ADHD liên quan đến các rối loạn chức năng của một số mạch điều khiển tế bào thần kinh, các thành phần thiết yếu của chúng là thể vân (striatum) là một phần của hạch nền (basal ganglia) và não vùng trán (frontal brain).
Nhưng những sai lệch cũng được tìm thấy ở tiểu não (cerebellum) vàcác vùng não khác của trẻ bị ADHD. Các mạch điều khiển được đề cập có liên quan đáng kể đến việc vận hành và thực hiện mối tương tác (operate) về mặt thần kinh (neuronal) của động lực (motivation), cảm xúc (emotion), nhận thức (cognition), và hành vi vận động (movement behavior).
Sự Rối Loạn Chức Năng (dysfunction) các mạch điều khiển này có liên quan đến việc cung cấp quá mức hoặc thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh hay còn gọi là chất truyền tin (neurotransmitller) ở một số vùng não nhất định. Ở chứng ADHD, các chất truyền tin DOPAMINE Và NOREPINEPHRINE đặc biệt quan trọng.
Bởi sự Rối Loạn Chuyển Hóa Chất (metabolic disorder) và Rối Loạn Chức Năng Trong Não, những người bị ảnh hưởng chỉ có thể tập trung sự chú ý vào một việc ở một mức độ hạn chế; họ bị suy giảm khả năng tự điều chỉnh (self-regulation). Đồng thời, việc tiếp cận các khả năng và thông tin hiện có bị cản trở, khiến cho việc lập kế hoạch hành động hướng tới trở nên khó khăn hơn.
V. Khuynh hướng di truyền
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng: Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ADHD. Bằng chứng thuyết phục cho điều này đến từ các nghiên cứu về gia đình, cặp song sinh và nhận con nuôi.
Các nghiên cứu về sinh đôi cho thấy 80% các cặp song sinh từ một trứng (identical twins) và gần 30% các cặp song sinh từ hai trứng (fraternal twins) đều có các triệu chứng giống nhau.
Dựa vào các nghiên cứu di truyền phân tử cũng đã được sử dụng để xác định các vùng riêng lẻ trong bộ gen người cho thấy có những thay đổi điển hình ở những người bị ADHD. Những thay đổi tương ứng đã được phát hiện, đặc biệt là trong thông tin di truyền chịu trách nhiệm hình thành và truyền chất truyền tin dopamine. Tuy nhiên, những thay đổi được xác định cho đến nay chỉ có thể giải thích sự phát triển của ADHD ở mức độ rất nhỏ.
Sự tương tác giữa các gen khác nhau và sự tương tác của các yếu tố di truyền và môi trường có lẽ đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của ADHD và chỉ có ít kết quả nghiên cứu về điều này. Theo nghiên cứu hiện nay, người ta cho rằng nhiều thay đổi di truyền riêng lẻ phối hợp với nhau. Những yếu tố di truyền này cũng liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng khác, chẳng hạn như các biến chứng khi mang thai và sinh nở hoặc các yếu tố môi trường khác
VI. Các biến chứng và căng thẳng khi mang thai và sinh nở.
Việc tiêu thụ nicotin, rượu hoặc các loại thuốc khác Khi Mang Thai và Thiếu Oxy Khi Sinh được cho là làm tăng nguy cơ phát triển ADHD ở trẻ sau này. Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương khi mang thai, chấn thương hoặc chấn thương sọ não và các biến chứng Khi Mang Thai và Sinh Nở cũng liên quan đến những bất thường về TĂNG ĐỘNG sau này. Tuy nhiên, phần lớn trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng ADHD không gặp phải tình trạng căng thẳng như vậy. Ngoài ra, những biến chứng như vậy không phải lúc nào cũng dẫn đến ADHD.
VII. Ảnh hưởng tâm lý xã hội
Sự phát triển và diễn biến của ADHD có thể bị ảnh hưởng bởi GIA ĐÌNH và HỌC ĐƯỜNG. Những điều kiện sinh sống ở gia đình, ở trường mẫu giáo và trường học không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra chứng rối loạn này, nhưng chúng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và diễn biến tiếp theo của chúng.
Nếu cha mẹ của những người bị ảnh hưởng có vấn đề về tâm lý (ví dụ như các vấn đề về ADHD) hoặc nếu có nhiều tranh cãi hoặc căng thẳng nghiêm trọng về tài chính trong gia đình, thì các triệu chứng ADHD của trẻ em hoặc thanh thiếu niên có thể trở nên trầm trọng hơn. Ở đây cũng phải giả định rằng có sự tác động qua lại giữa các yếu tố của môi trường gia đình và trường học, cấu trúc di truyền của trẻ và những căng thẳng có thể xảy ra trong quá trình mang thai hoặc sinh nở.
Ví dụ, cái gọi là yếu tố nguy cơ tâm lý xã hội (psychosocial) gồm:
• Gia đình không trọn vẹn, tức là lớn lên với cha hoặc mẹ đơn thân hoặc không có cha mẹ;
• Cha mẹ bị bệnh tâm lý, đặc biệt là rối loạn nhân cách chống đối xã hội (antisocial personality disorder) của người cha;
• Gia đình bất ổn, cha mẹ thường xuyên cãi vã;
• Thu nhập gia đình thấp, điều kiện sống rất chật chội
• Không nhất quán trong cách nuôi dạy, thiếu quy tắc
• Trẻ thường xuyên bị chỉ trích và trừng phạt
B. KẾT
I. Nhân bản tin báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát về „Nguy cơ tử vong cao do TỰ TỬ và TAI NẠN của những người bị ADHD“, chúng tôi xin chia sẻ đôi điều về NGUYÊN NHÂN khả thi theo y học phương tây của chứng RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý (attention deficit hyperactivity disorder) gửi đến các Bạn tham khảo.
Qua phần TỔNG QUAN này, điều chúng tôi ghi nhận được là nhận định về tình trạng Thân và Tâm của người Mẹ TRƯỚC KHI và TRONG KHI MANG THAI cũng như LÚC SINH NỞ là yếu tố CHÍNH QUAN TRỌNG NHẤT ảnh hưởng đặc biệt đáng kể đến sự phát triển chứng ADHD cho đứa trẻ sau này.
Những điều này, chúng tôi đã trình bày và giải thích kỹ rõ ràng trong bốn (04) video sau, kính mời các Bạn theo dõi:
* Giúp người Mẹ tránh DI TRUYỀN BỆNH cho con trong lúc thụ thai (04.12.2017) https://youtu.be/BdYj6xiC3T8
* Người Mẹ Mang Thai Ảnh Hưởng Di Truyền Đến Thai Nhi (26.12.2017) https://www.youtube.com/watch?v=fPRH4KpcWyY
* Người Mẹ Mang Thai Ảnh Hưởng Di Truyền Đến Thai Nhi (27.12.2017) https://www.youtube.com/watch?v=q-hx7U0mYEg
* RỐI LOẠN THẦN KINH ảnh hưởng suy nghĩ và hành vi của Thanh Thiếu Nhi (02.01.2018) https://www.youtube.com/watch?v=OGSIsl6aQJ0
II. Ngoài ra, Y Lý – Y Học và Y Thuật „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® đã được chúng tôi trình bày trong: Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế „Ứng dụng tâm lý học, giáo dục học vào can thiệp rối loạn phát triển“ của các trẻ Tự Kỷ, Khuyết Tật Trí Tuệ, Tăng Động Giảm Chú Ý… do Trung Ương Hội Khoa Học Tâm Lý – Giáo Dục Việt Nam và trường Đại Học Hùng Vương, Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 20.05.2017 tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam.
Ngày 20 tháng Năm 2017, là mốc điểm lịch sử đánh dấu sự hiện hữu chính thức của “Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®” tại Việt Nam nhằm cống hiến một trường pháp Y Học, Y Pháp và Y Thuật mới và độc nhất trên thế giới để mang lại SỨC KHOẺ và HẠNH PHÚC cho DÂN TỘC Việt nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung – như TÂM HẠNH NGUYỆN của chúng tôi!
Suốt trên 10 năm qua (2012-2023) chúng tôi đã có kinh nghiệm lâm sàng chẩn trị cho các trẻ và thanh thiếu niên bị Rối Loạn Phát triển, Rối Loạn Tăng Động Giảm Chú Ý, Tự Kỷ, Khuyết Tật Trí Tuệ v.v… ở Việt Nam cũng như ở Đức. Hầu hết đều thành công. Tuy nhiên cũng có một ít ca cần nhiều thời gian, nhưng điều kiện khách quan có giới hạn nên CHƯA được thành tựu! Chúng tôi chân thành XIN LỖI phụ huynh và các em này và mong có DuYÊN LÀNH được giúp các em tiếp tục! Rất mong lắm thay!
Ngoài ra, chúng tôi đã – đang và sẽ TRỰC TIẾP hay GIÁN TIẾP ứng dụng Y Lý, Y Học và Y Thuật Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® giúp các trẻ em và thanh thiếu niên ở Đức nhiều năm ví dụ:
* 2010 – 2014: Giảng Viên và Huấn Luyện Viên (Lehrer und Trainer) trẻ tự kỷ và tăng động kém chú tâm tại trường trung học cấp I thành phố Hannover;
* 2010 – 2019: Giảng Viên Trại Giáo Huấn Thanh Thiếu Niên Phạm Pháp (Jugendarrestanstalt) tại Nienburg
III. Đối với các trẻ và thanh thiếu niên bị ADHD hay bất kỳ triệu chứng nào liên quan đến Rối Loạn Phát Triển – theo chúng tôi chứng Tự Kỷ (austism) hay PHỔ TỰ KỶ v.v… đều có mẩu số chung là RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN (developing disorder) – điều trước tiên là CHẨN
1. Tìm TÁC NHÂN và NGUYÊN NHÂN (gia đình, học đường, môi trường…) của các triệu chứng ấy;
2. Nếu TÁC NHÂN từ MẸ, nghĩa là người MẸ là „THỦ PHẠM“ mang đến cho trẻ triệu chứng Rối Loạn Phát Triển này, thì người MẸ là nhân vật CHÍNH của việc CHẨN TRỊ các triệu chứng của trẻ;
3. Tìm TÁC NHÂN khiến người MẸ có những SUY NGHĨ (tâm) và HÀNH VI (thân) tác động ảnh hưởng đến tình trạng rối loạn phát triển của trẻ TRƯỚC khi mang thai, TRONG lúc mang thai và lúc SINH NỞ.
Như vậy, việc can thiệp chẩn trị các trẻ và thanh thiếu niên bị Rối Loạn Phát Triển theo Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® đều LUÔN có sự ĐỒNG HÀNH HỖ TRỢ TUYỆT ĐỐI của Cha Mẹ và CẦN NHIỀU THỜI GIAN, chứ không thể một sớm một chiều được! Vì thế, phụ huynh không nên giao phó con mình cho điều trị viên hay một cơ sở can thiệp nào, bởi những phương pháp như vậy cũng chỉ là cách CHỮA NGỌN!
Vì thế cho nên, chân ngôn Y Lý của Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® ở trường hợp Rối Loạn Phát Triển của trẻ em và thanh thiếu niên được thay đổi chủ từ như sau:
Các em ĐANG LÀ
CÁI Mẹ (cha) em ĐÃ LÀ
Các em SẼ LÀ
CÁI Mẹ (cha) em ĐANG LÀ…M
… bởi dân gian có câu: CON HƯ TẠI MẸ (cha)!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
Thứ TƯ ngày 13.09.2023


Bình luận