Trước hết chúng ta phải hiểu Tâm là gì ? Trong tiếng Hán, Tâm là trái tim. Từ cái nghĩa tâm là trái tim, rồi sau mớisuy diễn ra tâm là tấm lòng, cho rằng tâm là tấm lòng suy nghĩ. Một bài thơ chữ Hán nói về tâm theo nghĩa này như sau:
三點如星像
橫鉤似月斜
披毛從此得
做佛也由他
“Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”
Bài thơ này ví von cũng rất hay. Chữ Tâm 心 trong chữ Hán được mô tả có ba chấm như ba ngôi sao (Tam điểm như tinh tượng),còn móc câu nằm ngang như ánh trăng nghiêng (Hoành câu tợ nguyệt tà). Phi mao tùng thử đắc, tố Phật dã do tha: Mang lông đội sừng tức làm thân trâu, ngựa… là do tâm này, ,mà Phật cũng từ nó.
Định nghĩa tâm xét theo nghĩa tiếng Phạn thì có khác. Theo tiếng Phạn, tâm (citta) có nghĩa là tích tập. Định nghĩa này được thấy trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của Bát-nhã (quyển 6): tích tập danh tâm 積集名心. Nó do gốc động từ là CI (cinoti): tích chứa, tích lũy, tăng trưởng và cũng có nghĩa là quán sát, tri nhận, cảm nhận. Đây là định nghĩa đặc biệt trong thuật ngữ Phật giáo, đặc biệt là Đại thừa. Nghĩa thông thường của nó, được nói là do gốc động từ cit hay cint (cintayati): tư duy, suy tưởng. Tâm là cái TƯ DUY.
Nói tâm là cái TÍCH TẬP: tích tập gì?
Một cách tổng quát, đó là kinh nghiệm hay nhận thức được tích lũy. Vậy tâm là kinh nghiệm đời sống; tất cả những gì đã từng trải, bằng hành động và nhận thức, tích lũy lại thành tâm. Nếu diễn tả ra trong cuộc đời con người, từ khi bắt đầu biết suy nghĩ, biết hành động và có ghi nhớ, cho đến khi chết; tất cả những ghi nhớ trong óc não còn lại đó gọi là tâm. Chính những ghi nhớ đó tác thành một con người hoặc thiện hoặc ác tùy theo kinh nghiệm môi trường, hoàn cảnh. Vì thế, ta nói tâm hướng dẫn đời sống con người.
Như vậy, Tâm đó chính là Nghiệp, là hành vi của con người, vì những năng lực tạo ra hành vi của con người không bao giờ mất. Chúng ta không nói tới luật bảo tồn năng lượng, nhưng phải biết rằng không có cái gì mất đi trong hành động của chúng ta.
Kinh nói: bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm. Thế giới này không sanh cũng không diệt, không có cái gì xuất hiện hoàn toàn mới mẻ cũng không có cái gì biến mất đi hoàn toàn. Chúng sanh luân hồi vô thủy, chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, như gạo biến thành cơm, cơm biến thành những dưỡng chất trong dạ dày, tiêu hóa, rồi thải ra, thành da, máu thịt,… khi chết, da máu thịt này biến thành phân tro, phân tro này đem bón trở thành cây trái, rau cỏ…, trở lại làm thực phẩm cho người và vật, theo một quá trình sanh diệt, sống chết nữa. Như vậy, chúng ta thấy rằng, thân này chết nhưng nó không mất mà trở thành những cái khác, biến thành phân tro, đất…, những cái này cũng không mất mà trở thành máu thịt của con người, tức là không có cái gì sanh và cũng không có cái gì hủy diệt mà chỉ có sự biến thái nghĩa là biển đổi trạng thái
Tâm cũng vậy, nó tích lũy. Những gì được làm, được nói năng, suy nghĩ, hoặc thiện, hoặc bất thiện, thảy đều không mất; mà tự chúng là sự biến thái của tâm từ một trạng thái này sang trạng thái khác.
NGHIỆP là nguồn năng lượng được tích chứa trong kho chứa gọi là tâm, phát hiện ra ngoài thành hành vi của thân, khẩu; hướng thân, khẩu đến mục tiêu, theo hướng được định bởi lực đẩy ban đầu từ tâm. Kho chứa ấy không phải nằm im lìm bất động, vì nguồn năng lượng trong nó, mà Duy thức gọi là chủng tử, hạt giống, tức hạt năng lượng; cũng gọi là tập khí hay công năng sai biệt tức một loại công năng hay năng lượng có thế lực đặc biệt tác thành những hiện tượng sai biệt mà ta biết đó là thân, tâm, thế giới. Những hạt giống năng lượng này tồn tại trong trạng thái sanh và diệt trong từng sát- na, tạo thành hình ảnh như một dòng thác chảy liên tục. Kinh nói: Nhất thiết chủng tử như bộc lưu.
Những hành vi của thân và khẩu chỉ là những vận động tự nhiên của thân và khẩu, do tác động hỗ tương giữa trong và ngoài, không mang giá trị đạo đức, không xác định thiện hay ác gì. Nhưng khi có nguồn lực từ tâm điều khiển nó theo hướng thiện hay bất thiện, bấy giờ hành vi của thân hay khẩu bị nhuốm màu hoặc thiện, hoặc bất thiện, ta gọi là nghiệp thiện và nghiệp bất thiện.
HÀNH VI ấy huân tập trở lại tâm, nghĩa là tác động trở lại tâm và biến đổi nó. Đó là sự Tích Lũy Nghiệp. Theo ý nghĩa này mà ta hiểu câu kinh sau đây: “Tam giới duy tâm”, ba cõi duy chỉ là một tâm. Ý nghĩa ấy cũng phù hợp với điều mà Phật nói trong các kinh điển Nguyên thủy: “Chúng sanh là kẻ thừa tự của nghiệp” tức hành vi của chính nó.
Nói cách khác, thế giới được thành hình tốt hay xấu, thảy đềul à sự biến thái của những gì, của tất cả hành vi, được tích lũy bởi tâm, chứa đựng trong tâm.
Chúng ta nhớ rằng, khi được phân tích, tâm có ba tầng. Tầng trong cùng, ta hãy gọi là tầng đáy; thứ đến, tầng hoạt động luôn luôn là chấp ngã và một tầng khác hoạt động bên ngoài, là các hoạt động của ý thức cùng với các giác quan. Chúng ta không nhận thức được tâm như là thấy sắc, nghe tiếng, nắm bắt ảnh tượng ý niệm, tư duy; chỉ biết rằng nó tồn tại qua những hoạt động của nó gọi là tâm sở.
Điều đó có nghĩa, tuy rằng gọi TÂM là cái TÍCH TẬP, nó cụ thể, nó tồn tại đó nhưng không thể nhận thức được nó mà phải từ những hoạt động của nó thì mới biết nó là cái gì.
BA TẦNG TÂM THỨC có khi được gọi chung thành một là TÂM-Ý-THỨC. Như trong kinh Trung A-hàm (kinh số 17), Phật nói: “Người mà tâm-ý-thức luôn được huân tập bởi tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí tuệ; người ấy do nhân duyên này tự nhiên thác sinh lên cõi trên, sinh vào thiện xứ…”;
hoặc Tạp A-hàm (kinh số 289): “Tâm-ý-thức, trong một ngày đêm, từng thời khắc, thoáng chốc sinh, thoáng chốc diệt, biến đổi không ngừng…”; hoặc như kinh Hoa Nghiêm (Phật-đà-bạt-đà-la, quyển 23): “Các dòng nước dục, hữu, kiến, vô minh, tiếp nối chảy liên tục, làm nảy sinh hạt giống của tâm-ý-thức trên mảnh đất ba cõi…”; Luận Câu-xá (quyển 4) nói: “Nó tập khởi nên được gọi là tâm. Nó tư duy trù lượng nên được gọi là ý. Nó phân biệt nhận thức nên được gọi là thức… Tâm, ý và thức, ba tên gọi cùng chỉ một nội hàm. Nghĩa tuy khác nhau nhưng thể là một.”
1. Trong đó, về tầng đáy, Thượng tọa bộ Nam phương gọi là thức Hữu phần hay Hữu chi (bhavaṅga); các nhà Du-già hành hay Duy thức luận gọi nó là thức A-lại-da (ālaya)hay thức thứ tám. Không thể nhận thức được tự thể của nó đã đành, cho đến các hình thái hoạt động của nó cũng không thể dễ dàng nhận biết. Duy chỉ có thể biết rằng nó tồn tại là do quan sát sự tồn tại của thiên nhiên, của vũ trụ, của thân và tâm. Khi nhìn cây, lá cây, mọi người đều biết rằng lá cây đó là do nhiều phân tử hợp thành, nhưng cái gì kết các phân tử đó lại với nhau được? Phải có một lực nào đó kết dính lại. Vậy, lá cây đó tồn tại và lay động như một toàn thể do bởi một năng lực nào đó. Lực đó, trong Phật giáo nói chung, được hiểu là TÂM tức kho chứa tích lũy nhiều đời nhiều kiếp của vô số hạt giống năng lực của nghiệp, để rồi đến khi chín muồi, nghĩa là sau một quá trình đã được xử lý, các hạt giống năng lực hay năng lượng ấy biến chuyển, và biến thái thành thân, tâm và thế giới; chúng được duy trì do lực tương tác, tức hỗ tương tác dụng theo quy luật nhân duyên khởi.
Chính qua hoạt động của lá cây và sự tồn tại của lá cây mà chúng ta biết rằng có một cái tâm. Đây là cái nghĩa mà chúng ta đã nói nhiều lần; chính cái nghĩa đó gọi là duy tâm, là do tâm. Tâm như vậy gọi là tâm biến, nhưng nghĩa này chưa tận cùng.
Thân thể chúng ta, trong điều kiện nào đó thì những cái như ngón tay, sợi tóc… gắn kết lại với nhau, nhưng tới một lúc nào đó thì nó rã ra, cho dù có lấy keo dán nó cũng không dính lại, như khi chết chẳng hạn. Vậy khi nào rã ra và sau khi rã ra thì nó trở thành đất, thành bụi… vẫn còn đó nhưng qua trạng thái khác.
Tóm lại, có mấy vấn đề, chúng ta đi từ từ: TÂM là sự tích tập, tích lũy kinh nghiệm. Mà kinh nghiệm là hoạt động của nghiệp, nghiệp tạo ra thế gian, nhưng cái tâm thì chúng ta không thể hiểu được, không thể biết được, vì không thấy được mà phải nhìn qua những hiệu quả của nó, tức là những công dụng, tác dụng mà nó gây ra trên mọi thứ tồn tại trong đời. Tác dụng của nó là duy trì sự tồn tại, duy trì mối quan hệ của các sự vật, tồn tại của các pháp.
Muốn biết rõ tâm và tại sao gọi nó là tâm thì phải qua một tầng nữa, tức là tại sao gọi là nó kho chứa của nghiệp?
2. Nên biết, đó là tầng thứ hai có tên là Ý. Tâm, cón ghĩa là là tích tập; còn Ý thì có nghĩa là gì? Nói vắn tắt, Ý là cái hoạt động Tư Lương. Tư lương là gì? Những cái mà ta gọi là tư duy, tư tưởng… những hoạt động của Tâm Lý, nói chung là suy lường, đắn đo ước lượng, phán đoán, v.v., gọi là tư lương; đây là nói theo nghĩa rộng nên hơi mơ hồ, không xác định. Thu gọn lại, TƯ LƯƠNG là hoạt động của một Cái Tôi.
Chúng ta biết mình đang tồn tại, đang hiện hữu, vì biết rằng có một cái tôi: Tôi đi, tôi đứng, tôi ngồi… Từ cái tâm tích lũy này, rõ ràng có thêm một tầng nữa, khiến nó lộ lên mặt biểu hiện một chút, đó là cái (chủ thể) chấp ngã. Trong nhiều tín ngưỡng tôn giáo, cái ngã hay tự ngã này được hiểu là linh hồn nằm trong thân, hoặc nó lớn bằng thân, hoặc nhỏ như hạt cát. Lớn bằng cái thân cho nên nếu vừa bứt một sợi tóc, vừa chích kim dưới bàn chân thì cả hai nơi đều cảm giác đau cùng một lúc. Có cảm giác đó, là do có linh hồn. Khi hồn lìa khỏi xác, xác chết nằm trơ không hay biết gì. Hoặc là linh hồn giống như hạt cát, như một nguyên tử trong thân có vận tốc thật nhanh. Cả hai nơi lại cùng đau một lúc, đó là do linh hồn vận chuyển rất nhanh. Trong Phật giáo không có linh hồn như vậy được thừa nhận.
3. Bây giờ sang tầng thứ ba để sẽ hiểu rõ hơn về hoạt động của THỨC. Nhưng tầng thứ ba này nếu không có hai tầng đầu thì cũng không thể hiểu nó được, vì tất cả đều phải quan hệ với nhau. Như do quan hệ với toàn thể xe mà cái khoanh tròn kia được gọi là bánh xe.
Gọi nó là THỨC, vì nó nhận biết ĐỐI TƯỢNG. Điều này ta có thể kinh nghiệm và chứng minh được bằng hoạt động của SÁU THỨC: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đây là tầng ngoài cùng của cơ cấu tâm thức, gọi là thức thường nghiệm tức là những hoạt động nhận thức mà ta có thể kinh nghiệm được bằng giác quan thường nhật. Tầng này được gọi chung là thức.
Tầng thứ hai TRUNG GIAN, như đã biết, gọi là Ý, hay là thức thứ BẢY. Nó cũng được gọi là thức, vì nhận thức về sự tồn tại của một tự ngã, một cái tôi.
Tầng trong cùng, gọi là thức thứ Tám, mà nhận thức của nó là duy trì mối quan hệ tồn tại của thân, tâm và thế giới.
Hai tầng sau này thuộc về thức siêu nghiệm, tức không thể nhận biết được bằng kinh nghiệm giác quan thường nhật. Chính yếu thường chỉ là dựa trên chính hoạt động của sáu thức tầng ngoài để khám phá ra hai tầng kia.
Đứng trước một cái gì đó mà biết rằng, cái trước mắt mình là một cái cây hay một đóa hoa, nghĩa là đóa hoa xuất hiện trong con mắt rồi cái biết khởi lên, CÁI BIẾT qua con mắt thì cái biết này gọi là nhãn THỨC; còn nghe những âm thanh trầm bỗng đô, rê, mi, fa… mà biết âm thanh này cao thấp, hay dỡ thì CÁI BIẾT qua lỗ tai này gọi là nhĩ THỨC. Còn cái biết trong cùng như đọc sách mà biết rằng đây là Nguyễn Huệ đánh Nam dẹp Bắc, đây là vua Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu, thì đó cũng là cái biết. Cái biết này dựa trên ấn tượng quá khứ; ấn tượng này do từ sách vở gợi lên hay do kinh nghiệm mà mình đã từng trải. Cái biết này không do mắt thấy tai nghe mà là do sự ráp nối của thức bên trong, gọi là ý thức. Tức là qua cái biết của con mắt, của lỗ tai, để lại; tất cả những cái biết này ghi dấu trong tâm, được tích lũy lại, rồi dựa trên đó mà ráp lại, th ìcái biết đó gọi là cái biết của ý.
Thành ra, cái biết của ý thức phải dựa trên nền tảng, là kinh nghiệm tích lũy; tức dựa trên cái tâm, là thức thứ tám. Nhưng nó cũng phải y trên một cơ quan ráp nối, có thể gọi là trung tâm xử lý dữ liệu, để ráp nối cái này với cái kia. Con bò ráp nối dữ liệu tích lũy theo kiểu nó; con chuột ráp nối cảnh theo cách của nó, để nó nhìn và hiểu thực tại theo cái cách khác nhau của mỗi loài; mặc dù mắt tai mũi lưỡi giống nhau nhưng sự ráp nối khác nhau.
Ta hãy lấy thí dụ về máy vi tính.
1. Các dữ liệu được nhập thông qua bàn phím và con chuột là SÁU THỨC.
2. Chúng được lưu trữ như là các chủng tử được tích chứa trong kho chứa thức thứ TÁM (thức a-lại-da).
3. Tại đó, chúng được đưa vào trung tâm xử lý để CHỜ xuất. Trung tâm xử lý dữ liệu đó là thức thứ BẢY.
4. Từ đó, cũng thông qua bàn phím và con chuột là sáu thức bên ngoài mà chúng được xuất, để cho ra trên màn hình nhiều thứ khác nhau, tức là toàn thể thế giới, thân và tâm của mọi loại chúng sanh.
Như vậy, ta hãy hỏi thêm lần nữa: THỨC là gì? THỨC là nhận thức, là nhận biết. Ban đầu, chỉ như là sự thấy biết của con mắt: chỉ nhìn và thấy biết, nhưng không phân biệt cái được thấy ấy là gì. Ta thường gọi đó là cái biết trực giác; thuật ngữ Phật học gọi là thức hiện lượng vô phân biệt. Nhưng khi nói: “Tôi biết tôi ĐANG nhìn/hay ĐANG thấy” thì lúc đó rõ ràng có một cái tôi ĐANG làm chủ, chủ trì sự thấy. Song, tất cả mọi cái thấy và biết đều phải thấy, biết một cái gì. Con mắt thấy, tất phải có cái gì để mà thấy.
Theo cách hiểu thông thường, cái thấy hay biết nào cũng là sự tích hợp của hai yếu tố: thức và cảnh, tức CHỦ THỂ NHẬN THỨC và ĐỐI TƯỢNG TƯƠNG ỨNG của nó. Nhưng chúng ta biết rằng, thức không tự biết nó là cái gì cả, như lưỡi dao bén không thể tự cắt đứt chính nó. Chỉ khi nào TỰ NGÃ hay Cái Tôi xuất hiện như là CHỦ THỂ NHẬN THỨC, bấy giờ thức mới nhận biết được nó và đồng thời đối tượng của nó.
Thêm bước nữa, ta cũng không biết cái tôi ấy là gì, tồn tại như thế nào. Nhưng do thấy kết quả, rồi suy luận ra có thức đang thấy, đang biết; từ những kinh nghiệm được tích lũy bởi thức, người ta suy nghĩ ra có cái linh hồn, như là chủ thể của sinh mạng và nhận thức. Thật ra đây là một quá trình, một chuỗi quan hệ.
Cho nên, chúng ta nói rằng có một cái thức để biết, và nghĩ nó là linh hồn, thì thật sự không bao giờ có cái linh hồn thường hằng bất biến như được quan niệm trong nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Ta biết có một cái tôi tồn tại, ấy là do quan hệ; quan hệ giữa trong và ngoài, nội giới và ngoại giới; nói gọn, THỨC và CẢNH, CHỦ THỂ và ĐỐI TƯỢNG của nó. Nhưng nếu chỉ y nơi sự quan hệ của hai cái thôi thì cũng không đủ để hiểu được hoạt động của nhận thức và quá trình hình thành, xuất hiện cái tôi.
Cái mà ta gọi là cái biết thì thực sự ta không biết nó là cái gì cả vì nó vô hình và không bao giờ chúng ta kinh nghiệm được, mà chỉ biết được qua hành vi của nó. Vậy cái mà chúng ta kinh nghiệm được, nắm bắt cụ thể được như nắm viên bi trong tay, và soi vào trong gương mà thấy được, cái đó gọi là con mắt, tức là căn. Con mắt mà ta thấy được, nắm được, đó là phù trần căn, tức khối thịt và các mô, cùng thủy tinh thể, tạo thành nhãn cầu, con ngươi. Phù trần căn mà hỏng, bấy giờ nhận thức con mắt không thể khởi lên vì khuyết duyên. Phù trần căn chưa hư, sắc ngoại cảnh xuất hiện và được phản chiếu lên đó, thuật ngữ duy thức gọi là đới bỉ tướng. Nhưng phù trần căn thì không bị biến đổi theo cảnh sắc; do đó, đới bỉ tướng là ảnh tượng được ghi dấu lên một loại sắc vi tế, minh tịnh, nhạy cảm, thuật ngữ gọi là tịnh sắc. Chính loại tịnh sắc này mới có thể bị kích thích bởi ngoại cảnh. Như vậy, khi cảnh phản chiếu lên phù trần căn, ghi ấn tượng lên tịnh sắc căn, bấy giờ thức xuất hiện.
KHÔNG CÓ CĂN, KHÔNG CÓ CẢNH, THÌ CŨNG KHÔNG CÓ THỨC.
Căn, cảnh và thức, ba cái hòa hiệp thành một tổ hợp ba gọi là XÚC. Giống như 2 O2 và 1 H liên kết thành một phân tử nước H2O; nếu thiếu một nguyên tử, thì cũng không thành phân tử nước được.
Từ XÚC khởi lên THỌ tức CẢM GIÁC như ý hay không thích ý. Tiếp theo thọ là TƯỞNG là những ấn tượng nhận thức được cấu trúc lại thành khái niệm, thành ý tưởng, làm cơ sở cho tư duy và ngôn ngữ; rồi từ đó khởi lên phán đoán và nhận thức. Đó là quá trình nhận thức một đối tượng, được phân chia thành nhiều giai đoạn.
Ba cái: Căn, Cảnh, Thức hợp lại, quan hệ tổng hợp với nhau, mới thành ra hiệu quả nhận thức. Khi chúng ta chia ra thì đây là thức, đây là căn, đây là cảnh; còn nếu trong tự thể tồn tại, chúng thảy đều là chủng tử như những dữ liệu được lưu trong bộ nhớ của máy vi tính. Tự bản chất, chúng là những dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng do kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung điện; rồi tùy theo lập trình mà chúng được đưa vào bộ vi xử lý để xử lý, cho ra kết quả với nhiều hình thái khác nhau trên màn hình: núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu, ghét… đủ mọi cảnh đời.
Tất cả đều là do sự ghép nối. Thuật ngữ Phật học gọi sự ghép nối ấy là phân biệt. Đôi khi nói thêm là phân biệt vọng tưởng. Phân biệt, nghĩa là cấu trúc lại thực tại. Như ta gõ bàn phím để nạp dữ liệu, đưa vào xử lý, rồi cho ra kết quả trên màn hình. Trên đó, chỉ là hệ thống kết cấu của những cột đèn vi tính sắp thành hàng ngang và dọc, mà mật độ được tính trên từng phần vuông. Mỗi cọc có ba bóng đèn nhỏ bật sang ba màu căn bản. Tùy theo lệnh từ bàn phím, sau khi đã được xử lý, các dữ liệu được bố trí theo một cấu trúc xác định, theo đó, bóng đèn nào có xung điện để được thắp sáng. Mật độ xung điện có và không tạo thành sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn, với các màu được thắp sáng pha trộn, phản chiếu lẫn nhau, tạo thành vô số hình ảnh và âm thanh. Như vòng hào quang sau tượng Phật tại các Chùa. Do sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn được bố trí thành vòng tròn, ta thấy vòng hào quang sau tượng Phật đang xoay, mà thực tế thì tất cả đều đứng im tại vị trí cố định của nó.
Như vậy, mối quan hệ kết cấu của căn, cảnh và thức hiện hành từ chủng tử riêng biệt của chúng, hòa hiệp với nhau tạo thành hình ảnh thế giới mà ta thấy, ta nghe, v.v… Thế giới xuất hiện theo sự cấu trúc của căn, cảnh thức ấy là thế giới tồn tại do bởi phân biệt. Tất cả tồn tại do phân biệt kết cấu đều có thể nói là vọng tưởng, vì nó không phản ảnh trung thực tồn tại, nó như là nó.
Chúng ta học để hiểu được bản chất của thực tại cũng giống như người kỹ sư hiểu rõ cấu tạo của vi tính, cơ bản là hiểu rõ, trong một giới hạn nào đó, quy luật vật lý, nguyên tắc nhị phân, nguyên tắc xung điện như thế nào…thì có thể xử lý công việc theo ý của mình. Đó là do trình độ hiểu biết những nguyên tắc của tồn tại, của quan hệ các hình ảnh như quan hệ của ánh sáng với những xung điện.
Tóm lại, nếu nhận thức được thực tại, thấy được thực tại, hiểu rõ được chân lý thì có thể biến đổi được thế gian này, làm cho nó tồn tại hay làm cho nó hủy diệt; đó chính là nói rằng Ma hay Phật cũng đều do tâm, ba cõi duy chỉ một tâm, là nói theo ý nghĩa này./.
Thầy TUỆ SỸ
(http://www.phatviet.com)

. . . . .
CẢM NHẬN
Kính thưa các Bạn,
nhóm từ TÂM Ý THỨC là những khái niệm, thuật ngữ có ý nghĩa khác nhau tùy góc độ của lăng kính tín ngưỡng – tôn giáo, khoa học – triết lý, nhân sinh – đạo đức v.v…
Y lý – Y học và Y thuật của Y phương minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.RG.®“ được hình thành từ trãi nghiệm và huân tập kiến thức của „Phép Lạ Sự Tỉnh Thức“, „Duy Biểu Học“ do Thầy Nhất Hạnh biên soạn; „Thành Duy Thức Luận“ và „Duy Thức Học“ do Thầy Tuệ Sỹ thuyết giảng qua dạng MP3 và chúng tôi được quý đạo hữu trong nước „lén lút“ gửi tặng để nghe và học hỏi trong những năm của thập niên trước 1989 và cuối cùng là „Tứ Niệm Xứ“ do Thầy Phước Tịnh thuyết giảng ở hải ngoại và nhất là Phật pháp Căn bản qua bộ „Phật học Phổ Thông“ của Thầy Thiện Hoa biên soạn thành nhiều đề mục cho bốn chương trình gíao lý của Sơ Thiện, Hướng Thiện, Trung Thiện và Chánh Thiện cho Gia Đình Phật Tử Việt Nam cũng như có duyên đọc tụng 10 bộ Kinh điển Đại thừa với Thầy Bổn sư Thích Như Điển, nay là Hòa Thượng Phương trượng Tổ Đình Viên-Giác, Hannover – Đức quốc trước khi nước Đức thống nhất (1990), thành phố thân yêu của quê hương thứ hai nơi chúng tôi cư ngụ, sinh sống, làm việc Đời và sống Đạo từ 1970 đến ngày hôm nay – hơn nữa cuộc đời (55 năm!)
Điều quan trong nhất đối với chúng tôi là những kiến thức, thuật ngữ, khái niệm của tạng giáo lý trên CHỈ được chúng tôi trãi nghiệm nơi bản thân trong 5 thời điểm „giữa chết và sống“ trong 55 năm qua!
Ở điểm này, chúng tôi xin thưa đại chúng rằng: Qua kinh nghiệm bản thân, khái niệm gọi là “cận tử“ không hề có! Mà chỉ có thể hiểu rằng thời điểm này là sự CHUYỂN TIẾP cái gọi là „giai đoạn tương tức tương tác của một điểm tiếp nối“ sự vận hành của „một đường thẳng“ hay sự vận hành cái sống và chết liên tục nối tiếp nhau của một „dòng hiện hữu“! Ví như, hít vào PHẢI có một khoảnh khắc NGƯNG mới có thể thở ra được! Hít vào là sống, thờ ra là chết! Nhưng PHẢI có cái gọi là chết này thì mới có cái gọi là sống tiếp tục và cứ liên tục tiếp diễn không ngừng, cho đến một lúc nào đó không báo trước mà hít vào không thở ra thì gọi là CHẾT!
Xin thưa hỏi: Cái gì CHẾT? Và cái gì vẫn tiếp tục SỐNG?
Vì sao? theo sự chia sẻ và giải thích rất đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu và rất khoa học về TÂM – Ý – THỨC của Thầy TUỆ SỸ đối với sự hình thành thân tâm này và vũ trụ thiên hà đại địa giúp cho chúng ta HIỂU rất rõ rằng: Bệnh tật hay sức khỏe, hạnh phúc hay khổ đau, giàu hay nghèo, thông minh hay vô minh v.v… đều không ngoài BA TẦNG tâm – ý – thức này mà có thể sinh thành – hoại – điệt
Cà 3 tầng này PHẢI tương tức tương tác nhau để vận hành từng sát-na HIỆN HỮU.
Tuy nhiên, cái ĐANG là như thế nào thì do thức thứ BẢY là Ý tức sự TÁC Ý chủ trì, tạo tác, theo tinh thần Phẩm SONG YẾU (yamaka vaggo), phẩn đầu tiên của PHÁP CÚ Kinh (dhamma pada) là nền cho Y LÝ; giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ còn gọi TỨ THÁNH ĐẾ (cattāri ariya-saccāni) dạy về NHÂN DUYÊN SINH với KHỔ tức bất toại nguyện, bất như ý, NGUYÊN NHÂN (tập) của khổ, TRẠNG THÁI khi hết khổ (diệt) và CÁCH làm cho hết khổ (đạo) là nền Y HỌC và TỨ NIỆM XỨ (sati patthāna) là nền Y THUẬT của Y phương minh của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“
Qua đó, chúng tôi luôn khẳng định rằng:
Sự TÁC Ý là Ý nghĩ muốn thực hiện điều gì đó bằng LỜI (khẩu) hay HÀNH ĐỘNG (cử chỉ, hành vi) nhưng BẤT TOẠI NGUYỆN dẫn đến những biểu hiện ra bên ngoài như tật bệnh khổ TÂM tức bệnh tâm lý, tâm thần KHIẾN đau THÂN (vật lý) gọi là bệnh TÂM-THỂ (psychosomatic diseases).
Bệnh TÂM-THỂ là bệnh THÂN nhưng không tìm ra nguyên nhân gì ở thân mà có nguyên nhân căn bản hay tác nhân từ sự TÁC Ý!
Kính thưa các Bạn,
từ lâu nay chúng tôi vẫn thưa với các Bạn rằng, dù y khoa rõ BIẾT rằng hơn 80% – con số này còn có thể cao hơn! – tất cả bệnh lý ở thân đều là bệnh tâm-thể, nghĩa là họ không thể tìm được nguyên nhân gì gây bệnh!
Nhưng cho đế nay, y khoa vẫn CHƯA có cách CHẨN để tìm ra cái TÂM-Ý căn nguyên gây bệnh! Họ vẫn cố gắng nghiên cứu nhưng vẫn chỉ ở NGỌN là sự biến đổi của những tế bào thần kinh hoặc các chất dẫn truyền thần kinh v.v… ở não bộ (brain) chứ vẫn CHƯA HIỂU CÁI GÌ làm chủ vận hành những biến đổi này?
Chỉ có „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ là Y pháp DUY NHẤT, ĐỘC NHẤT trên hành tinh này có khả năng và có phương pháp CHẨN tìm ra được „nguyên nhân căn bản“ hay „tác ý“ dẫn đến tất cả tật bệnh khổ TÂM và đau THÂN!
Điều này suốt trên thập niên qua ĐÃ và ĐANG được các chuyên gia y khoa nghiên cứu khảo sát và „gián tiếp“ XÁC NHẬN liệu pháp Ý Công TÂM PHÁP „PERG-BS“ nghĩa là:
„Kích Hoạt Não Bộ (brain stimulation) Cài Đặt Lập Trình „mPERG“ Chuyển Hóa Ổn Định Cân Bằng TÂM Ý cho việc Hình Thành những Thần Kinh MỚI để thiết lập vùng NÃO MỚI cho mục đích Chữa Lành tật bệnh khổ TÂM đau THÂN do nhiễm trùng, nhiễm khuẫn, nhiễm virus thậm chí do Ý nghiệp gây ra – tức khả năng giúp bệnh nhân cách TỰ chuyển hóa NGHIỆP bệnh của bản thân họ!“ và điều này giúp cho bệnh nhân có năng lượng có thể TỰ chuyển hóa nghiệp vận của họ qua sự CHUYỂN Ý nghiệp bằng Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“.
Kính mời các Bạn tham khảo tìm hiểu thêm điều chia sẻ trên của chúng tôi qua bài sau:
Kính thưa các Bạn,
theo giáo lý Nhân Duyên Sinh của Phật đà thì không một PHÁP gọi là HỮU vi CÓ thể cân đong đo đếm thấy nghe ngửi nếm va chạm tưởng tượng đến được kể cả VÔ vi KHÔNG thể cân đong đo đếm thấy nghe ngửi nếm va chạm tưởng tượng đến được không thể Độc Lập hay Ngẫu Nhiên – kể tật bệnh – mà sinh – thành – hoại – diệt được!
Thật vô cùng đơn giản dễ hiểu, bời Phật dạy rằng:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA
vì lẽ:
Ta và chúng sanh ĐANG là
TÁC Ý của ta và họ ĐÃ là;
Ta và chúng sanh SẼ là
TÁC Ý của ta và họ ĐANG là…m!
và không giống chẳng khác:
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN ĐANG là
từ TÁC Ý chủ nhân của nó ĐÃ là;
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN SẼ là
cũng do TÁC Ý chủ nhân của nó ĐANG là…m!
Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát
Chúng con thương kính chúc mười phương chúng sanh Thân Tâm Thường Lạc, luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối! Và nguyện cho những hương linh qua đời từ vô lượng kiếp trong quá khứ nhẫn đến hiện tại và tương lai được vãng sanh về cảnh giới AN LÀNH thuận theo nghiệp lực hay nguyện lực của mình!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
Tâm chú DƯỢC SƯ:
“Om Bhaisajye Bhaisajye Mahabhasajye bhaisayaraje sammudgate svaha”
“Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Tóa Ha”
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Reseah and Treatment of Long-COVID Diseases”
CHỦ NHẬT ngày 22.06.2025
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover.
https://hannover-wendepunkt.de/team/
Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:
1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo


Bình luận