SỨC KHOẺ là TÀI SẢN QÚY NHẤT Của Đời Người! Cách Dưỡng Thân và Tâm theo Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®

SỨC KHOẺ là TÀI SẢN QÚY NHẤT Của Đời Người!
Cách Dưỡng Thân và Tâm theo Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®

KHÔNG CÓ SỨC KHỎE thì mọi thứ cũng thành VÔ NGHĨA
Đời người lại như một hiệp đấu.
Nửa trước là học hành, quyền lực, chức tước,
thành tích, tăng lương tăng chức…
Còn nửa sau là huyết áp, mỡ máu, tiểu đường,
ung thư, cô đơn, sầu não…
Nửa hiệp đầu là phấn đấu hết mình,
Nửa hiệp sau là chấp nhận, buông xuôi!

Cớ sao kiếp người mỏi mệt như vậy?
Hãy nhớ, không có bệnh cũng phải giữ gìn sức khỏe;
Không khát cũng phải uống nước;
Có phiền muộn cũng phải nghĩ cho thông;
Có lý cũng phải nhường người;
Có quyền cũng phải thấp giọng;
Không mệt cũng phải nghỉ ngơi;
Không giàu cũng phải biết đủ;
Bận mấy cũng phải luyện tập…

Bởi vì, một bộ quần áo giá trị 1 triệu,
tờ phiếu nhỏ có thể chứng minh.
Một chiếc xe giá 1 tỷ, hóa đơn có thể chứng minh.
Một căn nhà giá 3 tỷ, hợp đồng mua bán có thể chứng minh.

Nhưng một con người rốt cuộc trị giá bao nhiêu tiền?
Chỉ có sức khỏe mới có thể chứng minh!

Hãy nhớ, SỨC KHỎE chính là BẢO HIỂM của Bạn!
Vì vậy, cũng đừng mang máy tính ra tính rằng:
Bạn đã tiêu bao nhiêu tiền cho sức khỏe!
Trên đời này, Bạn nhất định có một món tiền phải tiêu,
Hoặc là để chăm sóc trước, hoặc là để chữa bệnh tật về sau.
Lựa chọn món nào là quyền của Bạn!

Có sức khỏe gọi là TÀI SẢN.
Không có sức khỏe thì chỉ còn là DI SẢN mà thôi!
Chiếc giường đắt nhất trên thế giới chính là giường bệnh!
Trên thế giới này, có thể có người lái xe thay Bạn,
Kiếm tiền thay Bạn,
Nhưng không có nhận bệnh thay Bạn được!

Đồ mất rồi đều có thể tìm thấy lại.
Nhưng có một thứ mất đi là vĩnh viễn
không thể còn tìm thấy lại được
đó chính là SINH MỆNH.
Vì mấy ai có thể quả quyết được rằng,
họ sẽ trở lại làm người…!?!?!?

(nguồn không rõ… nhưng chép lại vì thấy có ý nghĩa „cho mình“ và mọi người!)
. . . . .

CẢM NHẬN và TRIỂN KHAI

A. …những dòng chữ trên đây rất THẬT ạ! Ai đọc cũng cảm thấy thấm thía… Nói chung, điều mà ai cũng từng biết cả! Nhưng đã có mấy người THẤU HIỂU và THẬT TÂM THẬT LÒNG ÁP DỤNG cho chính bản thân của mình đâu…!

Trước tiên phải xuất phát từ sự nghiên cứu, tham khảo, tìm hiểu gọi là HỌC (văn). Rồi mới đến gia đoạn TƯ DUY, SUY NGHĨ (tư) – nhưng thật tế đây là gia đoan TU TÂM TRƯỚC, nghĩa là chuyển hoá những điều ĐÃ học hỏi, thẩm tra thành sự TÁC Ý nghĩa là Ý MUỐN THỰC HIỆN thì mới có thể thể hiện những điều ĐÃ học hỏi thông qua TÁC Ý ĐANG MUỐN thành LỜI NÓI hay HÀNH ĐỘNG gọi là TU HÀNH (tu). Chứ không phải cái gì, việc gì hay nói chung là mọi hiện tượng… đều „tự nhiên“ mà sinh – thành – hoại – diệt!

Ở điểm này, chúng ta nên suy ngẫm lại câu nói trong Chùa hay Tu Viện (chứ không phải TỰ viện!) thường được quý Chư Tôn đức nhắc đến là: TU mà KHÔNG HỌC là TU MÙ. Còn HỌC mà KHÔNG TU là ĐẢY SÁCH! Ở đây TU MÙ được hiểu là LÀM BẬY LÀM BẠ, LÀM SAI BÉT, LÀM KHÔNG ĐÚNG bởi „MÙ“ thì thấy đường gì đâu mà LÀM (hic)

Thật ra câu nói này thoáng nghe qua rất hữu lý! Bởi vì TU là HÀNH, là LÀM… mà không BIẾT gì nghĩa là HỌC để biết, thì đúng là KHÔNG LÀM ĐƯỢC gì cả, nghĩa là TU (hành, làm…) MÙ! Nhưng HỌC (văn) xong phải HIỂU nghĩa là giai đoạn TU

Nhưng khi nó KHÔNG thông qua quy trình VĂN (huệ) – TƯ (huệ) – TU (huệ) theo giáo lý Phật Đà, nghĩa là, thiếu hẳn giai đoạn TƯ là SUY NGHĨ như tinh thần „10 Điều Đừng Vội Tin“ như Như Lai từng giảng cho tộc Kalama biết là điều gì nên TIN và tin KHI NÀO… thì cũng chẳng biết LÀM THẾ NÀO – cho nghe Chư tôn giảng cả ngày, tham dự đều đặc các khoá tu học v.v… nhưng rốt cuộc ĐÚNG là ĐẢY SÁCH thật; hay LẶP LẠI giáo lý Như Lai hay tư duy của Chư Tổ như CON VẸT „đã được lột lưỡi“!

Giáo lý Nhân Quả nói đến THÂN – KHẨU – Ý. Nhưng đúng theo quy trình thì Ý DẪN ĐẦU (tác ý) thì mới có thể BIẾT nói gì, làm gì. Cho nên, chẳng cần phải học khoa bói toán, bốc quẻ để BIẾT tương lai. Mà chỉ cần NGHE những gì người ta ĐANG NÓI và THẤY những gì người ta ĐANG LÀM thì BIẾT CHẮC CHẮN 100% họ NGHĨ và MUỐN (tác ý) gì rồi. Và cái gọi là ĐANG LÀ đó chính là cái QUẢ (báo) của cái NHÂN họ ĐÃ LÀ(m); đồng thời cái ĐANG LÀ này chính là cái.

B. SỨC KHỎE con người không chỉ ở THÂN THỂ mà còn ở TÂM. Vì con người nói riêng hay mọi sinh linh đều có hai phần THÂN (sắc, rupa…có thể cân đong, đo, đếm, sờ mó, thấy được) và TÂM (danh, nama…chỉ mượn từ vựng để mô tả…không thể cân đong đo đếm hay sờ mó được).

Muốn có SỨC KHỎE, thì THÂN và TÂM cần được NUÔI DƯỠNG bằng những chất liệu từ bên trong hay từ bên ngoài đưa vào. Giáo lý nhà Phật nhìn vấn đề nuôi dưỡng thân và tâm theo nguyên tắc của BỐN LOẠI THỨC ĂN. Thầy THích Phước Tịnh giảng và được đạo hữu Tuệ Hiền phiên tả từ bài giảng “Cõi Phật Hương Tích,” Kinh Duy Ma Cật của Thầy Thích Phước Tịnh (Tinh Tấn Magazin số 2)

BỐN LOẠI THỨC ĂN NUÔI DƯỠNG THÂN và TÂM theo Phật Giáo

„Nhất thiết chư pháp do thực nhi trụ” (Kinh Tạp A Hàm).

Tất cả mọi sinh vật trên hành tinh do ăn mà sống còn, tồn tại. Cách ăn của động vật và thực vật tuy có khác biệt, nhưng tựu trung chỉ là đem dưỡng chất vào nuôi tự thể. Động vật có thể nuôi sống bằng thịt của động vật nhỏ hơn hoặc bằng cây cỏ. Tuy nhiên, những loài bò sát như rắn rung chuông hay rùa đất có thể sống bằng năng lượng đất trời nhiều tháng mà không cần gì thêm. Thực vật cũng có thể tự nuôi sống nhờ rễ cây hấp thụ chất dinh dưỡng từ đất, nhờ lá nhận ánh nắng hay bắt côn trùng. Còn loài người chúng ta thì sao?

Trong kinh Tạp A Hàm số 373, Đức Phật bảo các thầy khất sĩ, “Có bốn loại thức ăn giúp các loài sinh vật lớn lên và sống còn. Bốn loại thức ăn đó là gì? Thứ nhất là đoàn thực, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực và thứ tư là thức thực.”

1. Đoàn thực
Trong từ Hán Việt, “đoàn” có nghĩa là “vắt” hay “nắm,” như người mình thường nói là nắm cơm hay vắt cơm, vì nó khởi nguồn từ văn hóa dùng tay „viên“ thức ăn đưa vào miệng của người Ấn Độ ngày xưa. “Thực” có nghĩa là ăn. Hiểu theo nghĩa rộng, đoàn thực là loại thức ăn ở thể đặc hay thể lỏng, được đưa vào miệng. Nếu có chánh kiến, khi đưa thức ăn, thức uống vào miệng, ta biết nó bổ dưỡng hay tàn phá thân thể. Thức ăn cầu kỳ thì dễ mất đi dưỡng chất, lại làm cực công người nấu nướng. Có những thức ăn, mà sau khi thọ dụng, sẽ làm cho thân thể ta trì nặng, uể oải, tâm không còn tỉnh táo để thiền tập. Nếu có chút công phu thực tập, ta có thể chiêm nghiệm được điều nầy.

Về phương diện vật lý, sau khi ăn, máu tập trung về bao tử để giúp tiêu hóa. Nếu ta suy nghĩ, hay tính toán, máu sẽ dồn lên não, làm chậm tiêu. Thịt động vật hay thức ăn nhiều chất béo, chất ngọt từ đường góp phần không nhỏ trong việc làm trì trệ tiêu hóa và gây nên tật bệnh. Bình thường, chúng ta ăn ngày ba bữa và phải đem vào người ít nhất là hai lít nước. Vậy thì nếu không ăn, ta sống được bao lâu? Nếu không có nước uống thì sao? Điều nầy ta biết rất rõ khi đọc bản tin về số người sống sót sau những trận thiên tai, hoạn họa. Rồi còn hơi thở nữa? Ta sẽ duy trì mạng sống được bao lâu, nếu không có dưỡng khí?

Thời Đức Phật còn tại thế, ngài đã từng hỏi các thầy tỳ kheo là mạng sống con người kéo dài được bao lâu. Câu trả lời của người biết đạo là “trong một hơi thở.” Như vậy, chất dinh dưỡng giúp ta nuôi sống thân mạng này là thức ăn lành, nước uống sạch và không khí thoáng đãng. Theo thống kê mới nhất, trên trái đất chúng ta sinh sống có gần 800 triệu người đói ăn; 2.4 tỉ người không có nguồn nước sạch để uống. Vào năm 2012 đã có gần 6.5 triệu người chết vì không khí ô nhiễm. Biết vậy, ta nên tập tánh cẩn trọng trong cách tiêu dùng, không phí phạm thức ăn và nước uống. Ta cũng nên bảo vệ môi sinh để dưỡng nuôi lá phổi của mình.

2. Xúc thực
Loại thức ăn thứ hai mà Đức Phật nhắc đến là xúc thực. Đó là những cảm thọ mà ta có được khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, nhiệt độ, nghĩ suy. „Cảm thọ“ đó có thể là mừng vui, giận dữ, thương yêu, thù ghét, sầu bi, an bình, tham đắm. Cũng giống như đoàn thực, xúc thực có khả năng nuôi dưỡng hay tàn hại. Nếu xúc thực là cảm thọ hỷ lạc thì có sức mạnh vượt xa đoàn thực.

Thời nhà Đường có anh chàng thư sinh (Thôi Hộ) rời bỏ kinh kỳ loạn lạc về lánh nạn ở một vùng quê. Chàng gỏ cửa nhà kia xin nước. Người mở cửa đem nước cho chàng là một thiếu nữ tuổi đôi mươi. Đôi má nàng đỏ hồng trong ánh nắng ban mai làm chàng thư sinh ngẩn ngơ, tự hỏi má nàng hồng tự nhiên hay là ánh sắc hồng của hoa đào đang nở rộ trước sân?

Hình ảnh đó ghi đậm nét trong tâm thức của chàng, thôi thúc chàng trở lại chốn cũ vào mùa xuân năm sau, dù cho nơi chàng ở đã bình yên. Chàng gỏ cửa… một lần, hai lần, ba lần và hồi hộp đợi chờ, nhưng bên trong yên lắng như tờ. Lặng nhìn những đóa hoa đào tung cánh hồng rung rinh trước gió như đang cười nhạo kẻ si tình, chàng thư sinh múa bút để lại bài thơ trên vách nhà nàng, rồi thờ thẩn ra về. Âm tiếng Hán của bài thơ như sau.

Khứ niên kim nhật thử môn trung 
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 
Nhân diện bất tri hà xứ khứ, 
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.

tạm dịch là

Năm xưa ngày ấy cửa nầy
Mặt người con gái hây hây má đào
Năm nay người ở nơi nao
Hoa đào năm cũ cợt chào gió Đông

Một năm trôi qua, mọi sự tưởng chừng đã chìm vào quên lãng, nhưng mùa xuân kế tiếp lòng chàng lại thôi thúc tìm về vùng quê ấy. Khi đứng trước của nhà nàng, chàng nghe tiếng khóc rất não lòng của người già từ bên trong vọng ra. Đáp lại tiếng gỏ cửa của chàng là một ông lão mặt đầm đìa nước mắt. Hỏi han sự tình, chàng mới hiểu ra rằng sau khi chạy loạn về, thấy bốn câu thơ trên vách, con gái ông cụ ngày nào cũng trông ngóng người đề thơ trở lại. Trông hoài không thấy, nên cô ốm tương tư, bỏ ăn không ngủ và vừa mới nhắm mắt lìa đời. Vô cùng thương cảm, Thôi Hộ tự nhận mình là người đã đề thơ và xin được vào quì bên xác con gái cụ. Khi những tiếng gọi thầm và giọt nước mắt tiếc thương của chàng nhỏ xuống mặt người con gái, nàng chớp mắt hồi sinh… và má nàng lại ửng hồng như hoa đào đang nở rộ ngoài hiên!

Đây là một trong những giai thoại của thi ca Đường mà hầu như ai cũng biết. Câu truyện nầy chứng minh rằng xúc thực rất quan trọng. Niềm vui của hạnh phúc, của hy vọng đợi chờ, có năng lực rất lớn trong việc nuôi dưỡng thọ mạng của một con người. Với người hiểu đạo, yêu đương là ái nhiễm, là buộc ràng, là nhận chìm đời sống của nhau. Tuy nhiên, ở bình diện đời thường, „nếu trái tim của ta không có một lần nở ra, để yêu thương một người khác ngoài bản thân mình, ta sẽ không có điều kiện mở rộng lòng đến vô biên để trở thành một loại tâm từ bi thương yêu bao nhiêu con người khác!“

Xúc thực, còn được gọi là hỷ thực, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của chúng ta. Chúng ta không chỉ được nuôi dưỡng bằng gạo cơm, mà còn bằng tình thương yêu của bố mẹ, của những người bạn đời tặng cho ta. Niềm vui, hạnh phúc, sự yêu thương của người chung quanh có khi nuôi dưỡng ta nhiều hơn cả cơm gạo. Người nào sanh ra giữa cuộc đời mà không được nuôi dưỡng bằng sự thương yêu, thì khi lớn lên họ dễ trở thành những người hằn học, chán đời và dễ trở thành tội phạm. Do vì không được bảo dưỡng trong môi trường hạnh phúc, nên trái tim của họ bị khuyết tật. Người nào được nuôi dưỡng trong môi trường thương yêu và trưởng thành trong môi trường hạnh phúc, người đó dễ thành công trong cuộc đời. Họ có trái tim nhân hậu và dễ phát sinh từ tâm.

Thế nên, nếu biết nuôi dưỡng đời sống mình thì trong bảy, tám mươi năm cuộc đời, chúng ta có vô vàn điều kiện để dâng hiến sự có mặt của mình cho bao nhiêu người, mang lại niềm vui cho tự thân và cho những người “cùng hội cùng thuyền” với ta. Có điều kỳ lạ mà ít ai để ý là „mọi thứ ta cho ra, đều trở về với bản thân ta“. Sự thương yêu, thủy chung, chăm sóc, ta tặng cho người thương, không hề mất đi đâu cả, mà nó trở lại với chính tự thân ta. Có một người để ta thương và hiến tặng sự thương yêu là đủ hạnh phúc rồi. Nếu mình quan niệm tình thương là nền tảng căn bản để mở lớn trái tim con người; thế thì, có được một người để mình thương yêu là một món quà.

Quan niệm được như thế, thì chắc chắn sự thương yêu của mình không phải là một món hàng đổi chác, không phải là sự trao đổi hai chiều, không cần đối tác. Làm được như vậy, ta sẽ lấy đi sự ganh tị trong ta rất dễ. Ta chỉ muốn chia sẻ và dâng hiến niềm vui mà không cần sự đền trả của bất cứ ai. Nhờ sự có mặt của người kia, nên tôi được phơi bày lòng tôi. Được mở rộng lòng đã là một niềm vui cho chính tôi rồi, nên tôi không cần sự đền đáp bồi hoàn của người kia. Tôi không đặt lên cân, để đong đo tình cảm của hai bên xem nhiều hay ít. Hạnh phúc sẽ đến với người có quan niệm đời sống như thế. Sống với tâm niệm nầy là người biết tu ở tầng xúc thực.

3. Tư niệm thực
Tư niệm thực còn được gọi là ý chí thực, ý nguyện thực hay nguyện thực. “Tư” có nghĩa là suy nghĩ và “niệm” là nhớ. Khi tâm thức ta tràn đầy niềm mong mỏi hay khao khát một điều gì thì dù không ăn ta cũng thấy no. Xúc thực và tư niệm thực rất gần nhau về ý nghĩa, nhưng khác nhau về mức độ cạn sâu và thời gian biểu hiện. Câu chuyện Thôi Hộ là một thí dụ điển hình cho sự nối kết giữa xúc thực và tư niệm thực. Xúc thực là cảm thọ hỷ lạc, nhưng không bền bỉ và chỉ ở trên bề mặt. Tư niệm thực thì thầm lặng và kéo dài trong tâm thức.

Những người có ý chí rất mạnh có thể khống chế cái đau, có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn tưởng chừng không thể nào qua được, mới có thể tồn tại trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã. Người bị tù tội, đày ải và hủy nhục, mà với ý chí kiên cường, họ có thể vượt qua tất cả để sống còn, trở về với người thân. Nền văn minh hiện đại mà chúng ta đang thừa hưởng là kết quả của những năm tháng dài miệt mài trong phòng thí nghiệm của các nhà bác học, ngày quên ăn, đêm không ngủ.

Có những loại tư niệm thực làm ta khổ đau như rượt đuổi danh, lợi, tài, sắc. Thế nhưng, ước muốn được khỏe mạnh, sáng suốt để giúp đỡ gia đình và xã hội; ước muốn được học hỏi, tu tập, chuyển hóa để theo chân Thế Tôn và các bậc Thầy, Tổ đem ánh sáng giác ngộ cho đời, cho người là loại tư niệm thực đem lại an lạc và hạnh phúc dài lâu.

4. Thức thực
Thức thực được ví như dòng nước chảy ngầm trong đời sống. Nó có năng lực duy trì thọ mạng và nghiệp thức trong hiện đời để di chuyển vào đời sau. Nếu nó xuất hiện trên bề mặt thì trở thành tư niệm thực; và nếu cạn hơn nữa thì là xúc thực. Niềm vui, nỗi buồn, cơn giận, nỗi bất an đều có nền là tâm thức sinh diệt. Tâm thức nầy là một dòng chảy miên man, chưa bao giờ ngưng nghĩ, nhưng các bậc minh triết sẽ cảm nhận được. Khổng Tử một lần đứng bên bờ sông đã buộc miệng nói rằng: “thệ giả như tư phù, bất xã trú dạ,” có nghĩa là “chảy mãi như thế nầy chưa dừng ngày đêm.” Ông không phải chỉ nói dòng sông trôi chảy, mà còn ám chỉ dòng chảy bên trong ta.

Dòng tâm thức thầm thì trong ta cũng tương tợ với xa lộ giao thông. Chưa bao giờ dòng xe ngừng chạy trên xa lộ. Nó chỉ thưa hay dầy mà thôi. Lưu lượng của dòng tâm thức tuôn chảy trong mỗi người chúng ta còn dầy hơn rất nhiều, mà trong kinh văn gọi là bộc bố hay bộc lưu. “Bộc bố” là tiếng Hán Việt chỉ cho một dòng thác từ trên núi cao ào ạt chảy xuống, cuồn cuộn nhìn như một mảnh vải trắng từ đỉnh núi kéo dài xuống bình nguyên, nhưng thật sự không biết bao nhiêu tỷ tỷ… những phân tử nước nối kết liên tục.

Từ ví dụ nầy, Đức Phật dạy rằng ngay khi chúng ta cảm thấy mình không có suy nghĩ gì cả, dòng tâm thức nầy vẫn miên man chảy. Ngay khi ta ngủ thật say, dòng chảy nầy vẫn vận hành và tạo thành những giấc chiêm bao. Lúc đó nếu có ai đánh thức ta dậy, thì bao nhiêu hồi ức lại ào ạt kéo về. Nếu trước khi ngủ, ta suy nghĩ về một vấn đề gì, thì khi vừa thức giấc điều đó sẽ hiện lên trong tâm trí của ta. Chính khả năng duy trì dòng chảy của tâm thức giữ gìn cho ký ức ta tồn tại, và dòng chảy nầy tiếp tục duy trì cho đến lúc chuyển sang hình hài của thân kế tiếp. Điều nầy cho thấy rằng nếu trong đời nầy, ta nuôi dưỡng tâm ta bằng những điều gì, thì khi ta trở lại lần sau, điều đó sẽ bật sáng trong tâm ta trước tiên. Nếu như ta đam mê âm nhạc, thì khi trở lại trong hình hài kế tiếp không cần học ta cũng đàn được, hát được. Điều nầy cũng lý giải được sự xuất hiện của thần đồng toán học, âm nhạc hay hội họa. Hãy tỉnh tâm nhìn lại cuộc sống hiện thời của mình và những việc mình đang làm. Mình có muốn kiếp lai sinh của mình giống như bây giờ không, hay mình muốn nó khác đi. Nếu khác đi và khác như thế nào, đều do mình chọn lựa và thực hành, bây giờ và ngay trong kiếp nầy.

Bốn loại thức ăn kể trên đều mang hai đặc tính đối ngược, nuôi dưỡng hay tàn hại, an vui hay khổ nạn, thăng hoa hay trầm lụy. Người biết thương mình là người biết nuôi dưỡng thân bằng thức ăn, thức uống lành mạnh, không khí tinh sạch; biết nuôi dưỡng sáu căn bằng cảm xúc an vui; biết làm lớn lên ý nguyện phụng sự tha nhân.

Và quan trọng hơn cả là BIẾT ta đang đưa những gì vào tâm thức mình hàng ngày để định hướng cho đời sống thánh thiện cao quý hay trần tục thấp hèn bây giờ và tương lai.

C. BỐN LOẠI THỨC ĂN và PERG®
Y lý TÂM-THỂ P.E.R.G.®đặt nền tảng theo nguyên lý „vạn pháp do TÂM tạo“…“TÂM (ý) làm chủ, TÂM (ý) tạo tác…“ theo giáo lý nhà Phật.

Thầy Talgaswewe Seelananda (Giới Hỷ), một vị Sư Nam Tông kỳ cựu người Tích Lan (Sri Lanka) nói rằng: „TÂM LÀ NĂNG LỰC MẠNH MẼ NHẤT TRÊN THẾ GIỚI“. Theo chúng tôi thì TÂM còn là „năng lực và năng lượng mạnh mẽ nhất trong VŨ TRỤ (không riêng gì thế giới!)… kể cả các loài sinh linh ngoài trái đất (!) Nghĩa là tất cả những tâm lý  sầu bi khổ ưu não, tật bệnh…hay sức khỏe, hạnh phúc, an lành đều có gốc rễ từ TÂM (Ý) – đồng với sự TÁC Ý.

Những biểu hiện bệnh chứng ra bên ngoài như các triệu chứng ở thân: Nhức đầu, đau bụng, mất ngủ, suyển, gout thống phong v.v… và trầm trọng hơn là ung thư… hay các chứng bệnh tâm lý bên trong như: Stress, trầm cảm, hoảng sợ, sợ sệt, tăng động, rối loạn hành vi hay phát triển… và sâu hơn nữa là các bệnh tâm thần như: Hoảng loạn, lưỡng cực, rối loạn cá tính, sợ hãi vô cớ, kém ăn, béo phì v.v…đều PHẢI có GỐC RỄ CĂN NGUYÊN từ TÂM (Ý).

Vì thế, Liệu pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® đã phát minh ra phương pháp khám chẩn truy tìm TÁC NHÂN (TÁC Ý) CĂN NGUYÊN (gốc) của mọi loại bệnh. Rồi sau đó mới lên PHÁC ĐỒ CHUYỂN HÓA TÂM Ý gây bệnh tùy theo CĂN NGUYÊN bệnh chứng.

Y thuật để thực hiện phác đồ này chúng tôi gọi là „KÍCH HOẠT NÃO BỘ – CÀI ĐẶT LẬP TRÌNH CHUYỂN HÓA TÁC NHÂN (căn nguyên, chứ không phải „nguyên nhân“) GÂY BỆNH“

Chiêu thức này thật tế chính là những thao tác ứng dụng „BA loại thức ăn nuôi dưỡng TÂM“ là: XÚC – TƯ NIỆM và THỨC thực!

Tùy theo loại bệnh, theo 6 loại bệnh được P.E.R.G.® thẩm định, chúng tôi áp dụng cả „bốn loại thức ăn“, đặc biệt là ở bệnh ung thư hay nhiễm khuẩn. P.E.R.G.® có phác đồ DINH DƯỠNG (đoàn thực) nuôi thân riêng cho bệnh nhân. Đó là KHÔNG ĂN các loại thịt động vật và hải sản, cũng như các loại phó sản của nó (!)

Mặt khác, cho dù chưa được Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® khám chẩn để truy tìm TÁC NHÂN (căn nguyên) gây bệnh tật, nhưng có rất nhiều Bạn hữu duyên với P.E.R.G.® đã chí thành nghiêm túc thực tập bài thao tác – chúng tôi gọi là „Ý CÔNG TÂM PHÁP PERG-BS“ gồm các động tác: GÕ đầu và mặt, PHẨY tay, VỖ các vùng hệ bạch huyết, XOA bụng ngũ hành, BÓP các ngón tay và ngón chân và ẤN các móng ngón tay và ngón chân… mà cũng KHỎI bệnh; đồng thời họ còn ỔN ĐỊNH và CÂN BẰNG mọi chức năng của cả Thân và Tâm, sau đó!

Riêng đối với các đệ tử áp dụng „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp PERG®“, chúng tôi có yêu cầu „khắt khe“ và „triệt để“ hơn, đó là: Không dùng thịt động vật, hải sản…Và nhất là KHÔNG BIA RƯỢU hay những chất gây say mê!

D. Bài „Ý Công Tâm Pháp PERG-BS“ NUÔI DƯỠNG THÂN TÂM, ỔN ĐỊNH và CÂN BẰNG CHỨC NĂNG các HỆ VẬT LÝ và THẦN KINH
Chúng tôi kính giới thiệu đến các Bạn bài „Ý Công Tâm Pháp PERG-BS“ để tập thử! Xin nhấp vào links đính kèm để xem! Chúng tôi có một số đề nghị như sau:
1. Xem „thật kỹ“ trước khi bắt tay thao tác.
2. Trước và sau khi tập, uống một ly 0,3 lít nước khoáng để nguội.
3. Thời khóa tập:
3.a. Buổi sáng khi thức dậy, sau khi hít thở ba (3) hơi thở ý thức (thở bụng!), các Bạn uống ly nước rồi ngồi dậy TỰ tập. Những người không cử động được hay trẻ sơ sinh, cụ già v.v…thì nhờ thân nhân giúp thao tác…
3.b. Trưa, nếu điều kiện cho phép và tùy mức độ bệnh chứng (!)
3.c. Tối, trước khi đi ngủ.

Bài „Ý Công Tâm Pháp PERG-BS“ của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® có 6 (sáu) công năng

1. Phòng Chống Tật Bệnh
2. Ổn Định Thân Tâm
3. Nâng Cao Sức Khoẻ
4. Mở Mang Tâm Thức
5. Phát Huy Kỷ Năng
6. Khám Phá Tiềm Năng

E. KẾT
Bằng phương pháp CHẨN ĐOÁN RIÊNG do chúng tôi phát minh, Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® giúp Bạn NHẬN BIẾT NHƯ THẬT và QUÁN CHIẾU NHƯ THỊ CHƯỚNG NGẠI ĐANG gây bệnh khổ cho Bạn…

Đồng thời, liệu pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® hướng dẫn Bạn “TỰ” Kích Hoạt Não Bộ và “TỰ” Cài Đặt Lập Trình Chuyển Hóa Chướng Ngại ĐANG gây bệnh khổ cho Bạn… mà Bạn không cần phải nhờ vào một năng lượng huyền bí bên ngoài hay phương tiện ngoại vi nào cả… kể cả thuốc thang… nếu không cần thiết (!)

„…Hãy tỉnh tâm nhìn lại cuộc sống hiện thời của mình và những việc mình đang làm. Mình có muốn kiếp lai sinh của mình giống như bây giờ không, hay mình muốn nó khác đi. Nếu khác đi và khác như thế nào, đều do mình chọn lựa và thực hành, bây giờ và ngay trong kiếp nầy…“ (Thầy Thích Phước Tịnh)

Bởi vì Bạn chính là KIẾN TRÚC SƯ “TỰ” QUYẾT ĐỊNH „cuộc đời, sức khoẻ và hạnh phúc“ của mình trong đời này và vô lượng đời sau…

Bạn (thân và tâm) ĐANG LÀ
NHỮNG GÌ Bạn ĐÃ LÀ
Bạn (thân và tâm) SẼ LÀ
NHỮNG GÌ Bạn ĐANG LÀ…M

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
thứ TƯ ngày 09.08.2023

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc