1- Con người từ đâu đến thế giới này?
2- Đến thế giới này để rồi bị sanh, già, bệnh, chết?
3- Khi còn ở nơi thế giới này, tranh giành, hơn thua, chém giết với nhau, sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả?
4 – Chết rồi sẽ đi về đâu?
Bốn điều trắc ẩn trên, ban đầu Thái Tử Tất Đạt Đa đặt ra, tìm hỏi và học với tất cả những quan chức có học vấn cao trong triều đình, nhưng không một ai trả lời làm cho Thái Tử thỏa mãn được cả. Tiếp tục, Thái Tử đi hỏi các vị tu theo Tiên đạo cao nhất, danh tiếng nhất, nhưng cũng không vị nào trả lời được. Sau khi Thái Tử xuất gia, tức ra khỏi nhà, để tìm hiểu bốn thắc mắc nói trên. Ban đầu, Thái tử dụng công tu đạt được các thiền như:
1- Sơ thiền.
2- Nhị thiền.
3- Tam thiền.
4- Tứ thiền.
5- Thiền Phi Phi Tưởng.
6- Thiền Diệt Tận Định.
Tuy đã đạt đến các cảnh thiền như vậy, nhưng Ngài cũng không biết rõ giải đáp của bốn cái thắc mắc trên. Sau cùng, Thái Tử quyết định tỉnh tọa để tâm và thân sinh vật lý của Ngài được thanh tịnh, rỗng lặng, hằng tri. Bỗng nhiên tâm Ngài phát sáng, THẤY và BIẾT RÕ RÀNG tất cả những thắc mắc của Ngài, là nhờ đạt được pháp môn thiền này, nên Ngài gọi là “Như Lai Thanh Tịnh Thiền”. Đây là sự „thiền định không dụng công“ cứ để tự nhiên tâm và thân sinh vật lý thanh tịnh là phải.
Nói theo hiện nay, Đức Phật đã “phát minh” ra “công thức” thực tập thiền Thanh Tịnh. Khi Ngài sắp lìa bỏ thế giới này, Ngài truyền trao thiền Thanh Tịnh này lại cho ông Ma Ha Ca Diếp, làm Tổ Sư thiền Thanh Tịnh đời thứ nhất. Các đời Tổ sau truyền cho nhau pháp môn thiền Thanh Tịnh này, các Ngài gọi là Thiền Tông.
Sao gọi gọi là Thiền Tông?
Vì pháp môn thiền này, các Tổ truyền cho nhau, có bài kệ truyền thiền hẳn hoi. Được truyền đúng theo qui cách mà Đức Phật đã dạy. Đặc biệt, có tập kệ Huyền ký mà Như Lai truyền lại cho hậu thế. Vì có dòng truyền riêng của nó, nên được gọi là Thiền tông. Các Tổ sư thiền truyền cho nhau, nên các Ngài gọi là Tổ sư thiền.
Pháp môn Thiền tông là pháp môn không dụng công tu bất cứ gì cả, đồng nghĩa là không phải khổ công ngồi thiền, hành kiểu này hay kiểu khác, mà chỉ cần TRỰC NHẬN ra Phật Tánh của chính mình và hằng sống với Phật Tánh ấy là đủ. Vì sao vậy?
Người ta thường ví Tu có nghĩa là Sửa. Mà tất cả những gì thuộc về vật lý thì mới có thể sửa được.
Ví như ta sửa cái nhà, sửa cái xe, sửa cái thân người này cho nó đẹp đẽ hơn. Còn Phật Tánh của chúng ta NÓ vốn rất quý mà chúng ta không chịu nhận NÓ và hằng sống với NÓ, mà lại đi sửa NÓ. Khi Ngài Lục Tổ Huệ Năng ngộ đạo, Ngài có thốt lên:
– Chính “NÓ” xưa nay không phải một vật!
– Chính “NÓ” hằng thanh tịnh!
– Chính “NÓ” hằng sáng suốt!
– Chính “NÓ” không sanh, không diệt!
– Chính “NÓ” trùm khắp…!
Mà đã “KHÔNG PHẢI MỘT VẬT” thì làm sao mà sửa được. Bởi vậy, ngày nay chúng ta nghe nói số người tu hành thì nhiều, còn số người “đạt đạo” thật chẳng là bao là lý do này vậy!
Trích THIENTONG.COM
. . . . .
CẢM NHẬN
Theo “Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®”, thuật ngữ THIỀN là một “khái niệm phổ thông” mang tính chung chung để ám chỉ các phương pháp, chiêu thức, công thức v.v… được thực tập bằng nhiều cách, nhiều kỹ thuật, nhiều thể loại khác nhau v.v… giúp hành giả “ĐEM TÂM VỀ THÂN”, nghĩa là THÂN ở đâu thì TÂM ở đó và TÂM ở đâu thì THÂN ở đó (!).
Ngoài ra NÓ chẳng là CÁI gì cả (nothings)
Mục đích của thiền tập không phải giúp cho hành giả “đạt được” hay “thành tựu” bất kỳ một năng lực, quyền năng, thần thông, dưỡng sinh, sống bất tử hoặc giả đạt tầng tâm linh cao v.v… hay CHỨNG NGỘ một CÁI gì cả… hoặc giả để TRỊ BỆNH (sic)
Mục đích DUY NHẤT của Thiền tập – bất kỳ kiểu gì – cũng CHỈ là những cách, kỹ thuật, phương pháp giúp hành giả có khả năng:
NHẬN BIẾT NHƯ THỊ (samatha) và QUÁN CHIẾU NHƯ THẬT (vipassana) mọi pháp NHƯ NÓ ĐANG LÀ. Và nhận biết như thị (samatha) và quán chiếu như thật (vipassana) cả hai pháp này cùng lúc biểu hiện một pháp đơn giản dễ hiểu, dễ làm và dễ thành… nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM!
Chính cái BIẾT KHÔNG THÊM này, không riêng gì Lục tổ Huệ Năng mà tất cả mọi bậc Thánh, các Tổ Phật Giáo, các vị gọi là Thiền sư v.v…, mà ngay cả Thái Tử Tất Đạt Đa sau khi GIÁC NGỘ tánh NHÂN DUYÊN SINH của mọi pháp, sau này được Ngài giảng dạy qua pháp TỨ DIỆU ĐẾ làm nền tảng cốt lõi của giáo lý Phật Đà… bất kể anh tu tập theo pháp môn nào, tông phái nào hay trường phái nào… kể cả khi anh vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc cõi an lành của Phật A Di Đà… thì cũng chỉ có tu tập pháp TỨ DIỆU ĐẾ và 37 Phẩm Trợ Đạo… thì Ngài LUÔN AN TRÚ nơi cái BIẾT KHÔNG THÊM này cho đến khi Ngài xả BÁO thân để lìa trần thế… hiện trạng thường được nói đến là Thế Tôn „NHẬP“ Niết Bàn (?) Vậy thử hỏi, lúc còn tại thế sau khi giác ngộ, Ngài CHƯA TRỤ Niết Bàn hay sao?… mà phải đợi đến khi chết mới NHẬP Niết Bàn???
Đồng thời cái BIẾT KHÔNG THÊM ĐANG LÀ chính là khái niệm ám chỉ NÓ – theo Lục Tổ Huệ Năng khi Tỉnh Ngộ – và NÓ hay cái BIẾT KHÔNG THÊM ĐANG LÀ cũng „không giống chẳng khác“ trạng thái liễu tri, giác ngộ… NÓ cũng là phật tánh, chân như, niết bàn, cực lạc v.v…và v.v… và chính NÓ là SỰ THẬT của VẠN PHÁP có nội hàm trong chân ngôn sau:
Ta (pháp) ĐANG LÀ
CÁI (pháp) ta ĐÃ LÀ
Ta SẼ LÀ
CÁI ta ĐANG LÀ…M!
Chân ngôn này là „đáp án“ ưu tư được Thái Tử Tất Đạt Đa đặt ra để tìm chân lý về SỰ THẬT của mọi pháp hữu vi cùng vô vi – ngắn gọn là:
1. Con người TỪ ĐÂU ĐẾN?
2. Họ ĐANG Ở ĐÂY làm gì?
3. Họ chết SẼ ĐI ĐÂU?
Đồng thời, đáp án này được hiểu theo Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® có nghĩa là: Mọi pháp hữu vi cùng vô vi đều BẮT ĐẦU và CHẤM DỨT NGAY NƠI ĐANG LÀ!
Cho nên nếu muốn không bị cái vòng xoắn luân hồi luẫn quẫn này trói buộc dẫn dắt thì chẳng phải cần dụng công tìm kiếm – phung phí thời gian… mà chỉ cần sống ý thức từng sát-na ngay từng suy nghĩ, lời nói và hành động với cái BIẾT KHÔNG THÊM NHƯ NÓ ĐANG LÀ!
Điều này chắc hẳn ai cũng biết, cũng thấy NÓ ngay từng khoảnh khắc!Tuy nhiên, họ thấy và biết nhưng „luôn thêm bớt“ nên mới KHỔ vì cái „THÊM BỚT“ này! Chứ bản thân tự tánh của mọi pháp không khổ, không lạc, không khổ không lạc!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
thứ Ba ngày 17.10.2023
Nơi BẮT ĐẦU cùng CHẤM DỨT của mọi PHÁP!
—


Bình luận