
CHÚC LÀNH ĐẦU TUẦN thứ NHẤT tháng TƯ 2023
TƯƠNG TỨC TƯƠNG TÁC, INTER BEING, SỐNG CHẾT hay CÁI ĐANG LÀ
“không giống chẳng khác”
PHẢI NHẬN BIẾT SỰ SỐNG–CHẾT ĐANG CÓ MẶT TRONG TỪNG HƠI THỞ – NGAY KHOẢNH KHẮC ĐANG LÀ.
KHÔNG HỀ có cái khái niệm gọi là”CHẾT”, nghĩa là CHẤM DỨT một MẠNG SỐNG. Thật tế, CHỈ CÓ TIẾN TRÌNH tạm gọi là “VÃNG SANH (sống, sinh tiếp, tiếng Đức “Fort-Geburt”, “Fort-Existenz”) LIÊN TỤC TRONG TỪNG SÁT-NA” – theo giáo lý Phật Đà.
Và trong CHUỖI VÃNG SANH này, BẠN KHÔNG THỂ TỰA NƯƠNG BẤT KỲ MỘT AI, kể cả HƠI THỞ – mà phải TỰ QUYẾT ĐỊNH NƠI CHUỖI TÂM THỨC TÁC Ý ĐANG CÓ MẶT NGAY TỪNG SÁT-NA NỐI TIẾP này!
“Không vì có cháu con
Không vì có cha anh
Mà khi thần chết đến
Có thể tựa nương được!”
Người sáng lập ra hãng Apple, Steve Jobs, vừa có tiền lại có danh, được vạn người ngưỡng mộ và kính trọng, nhưng khi đã lâm bệnh, ông không thể dùng tiền tài hoặc danh tiếng của mình để thuyết phục bất cứ ai bệnh GIÙM cho ông cả – dù chỉ một ngày!
Vào cuối đời ông đã viết: “Bạn có thể mướn tài xế lái xe cho bạn, nhưng không thể dùng tiền để thuê bất kỳ ai bệnh thay cho bạn…Mất tài sản mình có thể tìm lại được, nhưng có một thứ khi đã mất không thể tìm lại. Đó là SỰ SỐNG.”
Thật vậy, giữa trần gian này, chúng ta có thể dẹp được một quốc gia nổi loạn bên ngoài nhưng không thể gỡ bỏ được cái chết đã có sẵn bên trong sự sống.
Con người bất lực với cái chết đã đành, thần linh cũng chẳng thể đối kháng với cái chết. Chẳng có con đường nào vượt thoát được cái chết vì cái chết luôn gắn liền với sinh mạng của chúng ta. Cuộc sống vốn vô thường, thọ mạng nào cũng đến hồi chấm dứt, thử hỏi có ai tránh khỏi được?
Nhìn lại nền tảng giáo lý của Phật dạy là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”, chủ đề “KHỔ” liên quan mật thiết đến “VÔ THƯỜNG”. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dùng 21 đoạn đầu tiên để nói về “VÔ THưỜnG”. Sau này, các bậc Thánh Tăng từ Ấn độ sang Trung Hoa, những bài Kinh đầu tiên các ngài chọn dịch để giới thiệu cho người Trung Hoa biết ánh sáng của Đức Phật đều mang chủ đề “VÔ THƯỜNG”.
Ấy vậy mà chúng ta, hay có thể nói hầu hết con người sống trên hành tinh này, luôn SỢ HÃI và muốn TRỐN CHẠY khỏi THẬT TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA CÁI SỐNG – đó chính là cái CHẾT.
Theo văn hoá Tây phương, người chết thường được trang điểm để có nhan sắc của một người đang ngủ. Người ta làm vậy để người sống đỡ sợ chết khi phải nhìn người chết.
Theo văn hoá Đông phương, như của người Việt Nam chẳng hạn, từ “CHẾT” thường bị cấm kỵ không được dùng, và được thay thế bằng những cụm từ khác như “QUA ĐỜI”, “VỀ VỚI ÔNG BA”, TỔ TIÊN” v.v… Thậm chí trong thế giới người xuất gia cũng dùng chữ “NHẬP NIẾT-BÀN”” hay “TỊCH DIỆT” hoặc giả “AN NHIÊN THỊ TỊCH” v.v… để tránh né cái từ “CHẾT”.
Khi cái chết gần kề, chúng ta còn có thói quen nương tựa vào người thân, nghĩ rằng họ có thể giúp ta triển hạn cái chết. Suy luận như vậy cũng không sai vì trên nguyên tắc, người thân là những người được kết nối với ta qua huyết thống và qua nghiệp thức, vì thế người thân ắt phải có một sự cảm thông tiềm tàng nào đó khiến ta không ngại ngần tựa nương nơi họ, nhất là nơi những người thân có cùng huyết thống.
1. HUYẾT THỐNG
Nhờ được kết nối trên bình diện huyết thống nên thế hệ ta đời nay có sự tương tác nhất định với cha ông đời trước và với con cháu đời sau. Vì vậy ta có khuynh hướng thương người có cùng huyết thống hơn thương người dưng bên ngoài. Ở Việt Nam có câu ví von: “Máu vẫn đậm hơn nước lã” là vậy. Không ai có thể quay lưng lại với sự thật này, dù ta là người Âu hay người Á, là con người của ngày hôm nay hay con người của ngàn sau.
Liên hệ huyết thống tạo thành đơn vị gia đình trong xã hội. Một xã hội nếu có nhiều gia đình hạnh phúc sẽ phát triển theo chiều hướng đi lên. Như vậy mới thấy yếu tố quyết định tính xã hội của một cộng đồng cao hay thấp được đặt trên sự yêu thương đầm ấm có mặt trong đơn vị gia đình. Muốn liên hệ huyết thống được đầm ấm như vậy, mọi người trong một đơn vị gia đình cần có khả năng truyền thông đẹp đẽ với nhau. Đây là góc nhìn cho thấy đơn vị gia đình ảnh hưởng đến xã hội.
Xã hội cũng có tác động đến đơn vị gia đình. Ví dụ, một cặp vợ chồng hay gây gổ với nhau để lại dấu ấn nặng trong tâm thức người con, khiến người con khi lớn lên không thể vươn vai hiên ngang đứng giữa trần đời. Nhưng nếu môi trường xã hội chung quanh người con đủ tốt lành, tâm thức của người con không những không bị huỷ hoại mà còn đủ vững mạnh để có thể tự vượt qua chuỗi dài bất hạnh xảy ra trong một gia đình bất hạnh.
Tôn giáo cũng xây dựng con đường tâm linh trên nền tảng hạnh phúc của đơn vị gia đình. Nếu nền tảng gia đình bị phá huỷ, đời sống tâm linh của từng thành viên trong gia đình sẽ bị tổn thương, khó có tiến bộ trên con đường tu tập. Ngược lại, khi đời sống trong gia đình có sự hài hoà, đời sống tình cảm và lý trí sẽ phát triển một cách nhẹ nhàng, thành viên trong gia đình tiến bước rất dễ trên con đường tâm linh.
Tóm lại, ta và người thân của ta được nối chặt một cách rất tự nhiên bằng sợi dây huyết thống, trải dài qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, kết nối huyết thống có thể dùng tâm lý học hiện đại để khám phá, nhưng kết nối giữa nghiệp thức là phần tiềm phục, khuất lấp, chỉ có mắt của bậc Thánh mới nhìn ra.
2. NGHIỆP THỨC
Không đơn giản chỉ là sự gặp mặt mà hai người trở thành vợ chồng của nhau. Có một lực hút rất mạnh từ nghiệp thức khiến hai người tìm đến nhau. Cũng vậy, người con chỉ có mặt giữa cuộc đời khi tìm thấy sự tương ưng với nghiệp thức của cha mẹ.Ví dụ trường hợp của một gia đình khi bà mẹ vừa cho ra đời một đứa con. Gia đình như bước ra khỏi khúc quanh nghèo khó. Thật ra đó không phải tình cờ, có thể lý giải rằng cung phúc đức của cha mẹ của đứa bé đã chuyển. Đứa bé cũng đã đến lúc được hưởng phước điền. Vì thế thần thức của đứa bé khi vừa rời thân ngũ ấm của kiếp trước liền gá vào thai người mẹ trong gia đình ấy để cùng gia đình thọ hưởng phú quý.
Sự ảnh hưởng của mối liên hệ qua nghiệp thức cũng tìm thấy trong cộng đồng của người xuất gia. Nếu chúng ta không cùng một cung bậc tâm thức, chúng ta không thể cùng có mặt cùng tu với nhau. Ví dụ có nhiều người đã từng đến thực tập tu tại Lộc Uyển, học với Sư Ông rất nhiều khoá. Thế rồi khi xuất gia, họ lại chọn những nơi chốn khác để xuất gia. Phân tích vậy để chúng ta biết có những duyên rất lành đã gieo lâu đời nên ngày nay chúng ta mới đến được với nhau trong công trình tu học.
Như vậy có thể khẳng định rằng tuy không thể nhìn xuyên qua tầng khuất lấp để thấy được dòng nghiệp thức của bản thân và người thân đang vận hành ra sao, nhưng chúng ta có thể cảm được một cách rất tự nhiên tình thương yêu của người thân trong gia đình hoặc trong Tăng lữ dành cho ta. Chính những mối tình cảm thâm sâu này đã khiến chúng ta không ngần ngại tựa nương nơi họ khi cần.
3. TỰA NƯƠNG
Thật ra tựa nương không phải là một đặc tính xấu. Hãy thử nhìn xem, một cây nếu đứng một mình sẽ không chống chọi nổi với cơn bão. Động vật nào cũng sống theo bầy đàn để dễ tồn tại. Một em bé không tựa nương cha mẹ sẽ khó có thể sống còn. Trong tập thể đồng tu, người tu cũng có những giai đoạn phải tìm “chỗ” tựa nương. Nếu trạng thái tâm thức và nội lực tu của bản thân còn ốm yếu, chưa vững niềm tin với pháp môn hành trì, hay nói cách khác là bản lĩnh tu của mình chưa có, người tu thường tìm “chỗ” để gá đời mình vào. “Chỗ” đó có thể là một nhóm nhỏ gồm bạn bè tụ nhau lại cùng sinh hoạt, hay một tập thể chư Tăng có thể tựa nương vào.
Ngoài ra, trong một cộng đồng nếu thành viên nào cũng biết tựa nương vào nhau và giúp đỡ lẫn nhau, cuộc sống của mọi người trong cộng đồng sẽ rất vững chãi. Có một bầy sư tử ở Châu Âu rất đặc biệt. Không hiểu vì lý do gì sau khi đã trưởng thành, hai con sư tử trong đàn trở thành cặp bài trùng, không rời nhau. Thế là cả hai đều trở thành sư tử chúa, cùng nhau thống lĩnh một đàn. Khi đã cùng nhau hợp tác, không bầy sư tử nào khác có thể đối địch với bầy của chúng, không cuộc săn mồi nào không thành công, và bầy đàn của chúng là bầy đàn lớn nhất. Vậy mới thấy “tựa nương vào nhau mà sống” tạo nên một sức mạnh hợp quần thật vô song.
Nói về mức độ tựa nương của từng người, nếu đứng về giới tính mà phân tích, sự luyến ái trong tâm thức của người nữ thường nặng hơn nơi người nam, nhất là của người mẹ đối với những người con bà đã cưu mang từ trong trứng nước. Do vậy mức độ tựa nương của người nữ thường luôn nhiều hơn so với người nam. Cũng chính vì tính dính mắc cao của người nữ, trong Giới pháp của Thế Tôn, đối với chư Ni, sau khi tập tu vài ba năm vẫn phải mất hai năm học Tỳ Kheo giới mới được cho phép bước vào hàng ngũ của Tỳ Kheo Ni. Trong khi đó đối với chư Tăng, chỉ cần thực tập tu vài ba năm sẽ được phép xuất gia. Ngoài ra, chư Tăng, nếu đã hoàn tục nhưng muốn gia nhập lại Tăng đoàn, chư Tăng vẫn được cho phép xuất gia lại. Nhưng đối với chư Ni, giới luật chỉ cho phép chư Ni cơ hội xuất gia một lần, nếu hoàn tục sẽ không được xuất gia lại.
Đứng về lãnh vực văn hoá, trẻ nhỏ ở xã hội Tây Phương ngay từ bé đã được giáo dục phải luôn tự cố gắng khám phá và mở rộng chân trời trong đời sống cho chính mình.Vì thế mức độ tựa nương của người Âu ít hơn của người Á. Trong khi đó, theo văn hoá Đông Phương, trẻ nhỏ nào cũng được mẹ ôm trong lòng, “ầu ơ… ví dầu” hát ru cho ngủ. Thậm chí con đã 9, 10 tuổi vẫn được phép ngủ với mẹ. Với nếp sống như vậy, mức độ tựa nương của người Á nhiều hơn của người Âu.
Đứng trên lãnh vực quốc gia, người Âu ít tựa nương vào người khác vì họ ở trong một tập thể luôn lấy nội lực tự thân để phát triển, tạo thành quốc gia phát triển. Trong khi đó nhiều quốc gia Châu Á không có niềm tin vào chính dân tộc của họ, hay đi cầu cạnh, bám víu vào những quốc gia khác. Đó là lý do người Á có khuynh hướng xem chuyện tựa nương vào người khác là chuyện bình thường.
Nếu đặt lên bàn cân trong lãnh vực tâm linh, người Âu dễ dàng bỏ được quá khứ cồng kềnh và loại trừ nghiệp ái nhanh hơn người Á vì họ được dạy phải tự thân đi khám phá một chân trời mới cho chính họ. Cũng chính nhờ vậy mà họ tiến bộ trong đời sống tâm linh nhanh hơn người Á.
Cuối cùng, đứng về phương diện tâm lý, dù là người Âu hay Á, người càng trưởng thành càng không thích đứng dưới bóng của ai, không cảm thấy cần tựa nương ai. Đây cũng là loại tâm lý của những người đã có bản lĩnh thích hiên ngang đứng trên đôi chân của chính mình. Trên con đường tu tập, nếu chúng ta là những người có bản lĩnh, chúng ta đều có khả năng sống độc lập, không những có thể tự nâng cao đời sống chính mình, mà còn giúp được người khác từ nội lực truyền đạt của chính mình với bản sắc tự thân.
Đã là đệ tử của Như Lai, dù ở tại gia trong đời thường hay đã xuất gia sống trong Già lam Tự viện, chúng ta không thể thiếu tính tự lập, không thể làm chiếc bóng của Thầy mình hay các bậc trưởng thượng khác, cũng không cần lập bè phái mà vẫn có thể sống rất hài hoà trong một tập thể trong cộng đồng. Đến lúc này, muốn tựa nương cũng được, nhưng phải là tựa nương vào hải đảo tự thân. Tự thân chúng ta phải có nội lực truyền đạt về cả pháp học lẫn pháp hành, phải làm tăng trưởng nội lực từng ngày. Không nhận diện được điều này chúng ta sẽ không bao giờ trưởng thành.
4. TRƯỞNG THÀNH
Không phải tôn giáo nào cũng giúp chúng ta trưởng thành. Có những tôn giáo hướng chúng ta về cảnh giới xa xôi hoặc về một thần linh, tin tưởng vào thế lực bên ngoài. Đây là một dạng văn hóa tôn giáo làm chúng ta ngày càng ốm yếu, không giúp chúng ta tự đào tạo nội lực. Chỉ có một vài tôn giáo quạt được năng lực ngược vào bên trong, giúp chúng ta có niềm tin nơi mình, khám phá tuệ giác trong ta. Đạo Phật chính là một trong những tôn giáo giúp chúng ta có niềm tin nơi chính mình, hướng dẫn chúng ta khơi mở kho tàng trí tuệ nơi tự thân, sống hùng mạnh khi mang hình hài năm uẩn.
Cũng không phải văn hoá nào cũng giúp chúng ta trưởng thành. Văn hoá tại các quốc gia phát triển luôn hướng con người có niềm tin nơi chính họ và cấp lãnh đạo quốc gia ra sức làm giàu cho người dân của họ. Những quốc gia chậm tiến lại thường hướng văn hoá của cả một dân tộc ra bên ngoài. Tâm thức của con người trong những quốc gia đó thường ốm yếu.
Dùng ánh sáng này rọi vào những lãnhvực khác của xã hội trong đời thường như lãnh vực giải trí. Có những trò giải trí như xem phim chẳng hạn, luôn hướng tâm thức của ta ra ngoài, làm cho tâm thức chúng ta dính chặt vào những đối tượng giải trí, khiến ta đem niềm đam mê của mình đặt vào đối tượng trước mắt nằm ngoài thân. Những trò giải trí này làm thân ta lạnh, tâm ta ốm yếu, sức khỏe bị suy nhược.
Ngược lại, có những loại trò giải trí như toạ thiền, chúng ta chỉ cần ngồi bình yên, hướng tâm thức vào trong. Trò chơi thiền tập giúp chúng ta từng bước thấy được chu kỳ sinh diệt của cảm thọ hờn giận ghét thương, như sóng nổi cồn nhưng cuối cùng cũng tự lặng xuống. Chơi trò chơi hướng nội này, phẩm chất mình không bị thất thoát, tâm mình an bình tịnh lạc, cả thân lẫn tâm nhờ vậy đều khoẻ mạnh.
Suy ngẫm cho cùng, muốn có hình hài tràn đầy nội lực, muốn có một tâm thức trưởng thành để tự thân có thể tự lập không nương tựa nơi người khác, cách hay nhất là chúng ta chọn loại trò chơi quán chiếu hướng nội.
5. QUÁN CHIẾU
Xưa nay chúng ta sống bồng bềnh theo quán tính suy nghĩ của văn hoá và xã hội tặng cho mình. Con đường quán chiếu tu tập của Thế Tôn chỉ dạy là công trình lật ngược lại những suy nghĩ đã được dòng chảy văn hoá tạo dựng. Hãy nhìn đời sống trong cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ. Có những người Việt lớn tuổi may mắn có được những người con làm được bổn phận giống như văn hoá Đông Phương đã tạo thành. Đó là loại văn hoá “con cái phải thương yêu, gần gũi, là chỗ dựa cho cha mẹ lúc về già.” Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người già khác không được may mắn như thế, phải tự lo đời sống của mình.
Chỉ cần quán chiếu đời sống xã hội như vậy thôi, chúng ta khám phá đời sống ở Hoa Kỳ của chúng ta ngày nay không còn được giống như ở Việt Nam khi xưa. Chính mình phải chịu trách nhiệm đời sống của mình, không tựa nương được vào ai lúc tuổi già. Từ đó chúng ta loại trừ đi những trách cứ mình đổ vào con cái, không đòi hỏi người thân phải nuôi nấng mình. Ở mặt cạn, chúng ta đã có được một định hướng đẹp cho đời sống.
Nếu biết quán chiếu đời sống bản thân, chúng ta sẽ thấy bản thân mình đến trần đời này chỉ một thân một mình. Trong một giai đoạn nào đó nắm được tay người hôn phối đi thêm một đoạn trong đời, rồi người ấy cũng bỏ ta đi, hoặc ta bỏ người ấy đi. Nhờ hiểu được sự thật ấy, chúng ta không đến nỗi vụng về tiêu phí đời sống mình bằng việc làm mọi thứ cho người mà quên đi chuyện mình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho chính thân tâm của mình. Thật vậy, khi hình hài này về với cát bụi, chúng ta sẽ theo nghiệp chính mình đã tạo nên, tái sinh nơi cõi tương ứng. Được cộng trú với Thiên Chúa, Phạm Thiên v.v… hay không, TẤT CẢ ĐỀU DO CHÚNG TA QUYẾT ĐỊNH.
Khi biết quán chiếu về tầng cảm thọ trong tâm thức, chúng ta sẽ khám phá những cảm xúc ấy chẳng sống đời với ta. Chúng đến rồi sẽ tự đi, hoặc sẽ được chúng ta điều phục. Nhìn ra được chân lý ấy, chúng ta không còn vô minh ôm vào thân những nỗi hoạ do cảm xúc tiêu cực gây ra mà tự nhận chìm đời mình.
Như vậy, con đường quán chiếu giúp chúng ta khám phá được bao nhiêu điều rất thực tế liên quan đến hoàn cảnh bên ngoài và đời sống bên trong. May mắn thay tất cả chúng ta hội đủ điều kiện để tự mình đi trên con đường khám phá ấy.
6. KHÁM PHÁ
Có một hình hài và có một tâm thức biết suy tư là đã có đủ điều kiện để đi trên con đường khám phá tự thân. Đây là con đường hướng vào bên trong, khám phá cảm thọ từ đâu sinh khởi, an lạc hạnh phúc tự mình tạo được cho mình không? Và quan trọng hơn cả, tìm ra bên cạnh hình hài sinh diệt này có một thứ bất sinh bất diệt.
Muốn đi trọn được con đường khám phá, chúng ta cần phải có định lực.Cũng giống như muốn khám phá bầy ong sinh con thế nào, bảo vệ con làm sao, nếu chỉ tập trung quan sát trong ba phút rồi bỏ đi chơi, hai hôm sau quay lại tập trung quan sát tiếp, chúng ta sẽ chẳng khám phá được điều gì. Định lực có được nhờ thực tập ăn uống, đi đứng trong chánh niệm cũng chưa đủ.Nếu thực tập chánh niệm chưa tới nơi tới chốn, chắc chắn con đường khám phá tự nội không thể thành tựu. Năng lực chánh niệm phải dày, bén, nhọn, và sâu hơn rất nhiều mới khám phá đời sống bên trong được.
Để xây dựng định lực, dừng tâm lại ngay phút giây bây giờ là bước đầu tiên. Khi thấy tâm của ta chớm chạy về phương nào, chúng ta biết ngay tâm đang lang thang. Dùng định lực, chúng ta mang tâm lang thang về dừng lại ngay bây giờ và ở đây. Thân làm chi, tâm luôn có mặt để quan sát động thái của thân. Pháp thực tập này có tên gọi là “Niệm Thân Hành”. Một khi chúng ta có định lực nhờ thực tập “Niệm Thân Hành”, việc đi sâu vào trong tâm thức để hiểu rõ biểu đồ thân tâm không còn là việc khó làm.
7. BIỂU ĐỒ
Biểu đồ thân tâm gồm BỐN (04) vòng tròn. Vòng tròn trong cùng tượng trưng cho phần thân vật chất. Vòng tròn “THÂN” được vòng tròn “CẢM XÚC (thọ)” bao quanh. Bên ngoài vòng tròn “CẢM XÚC” là vòng tròn “SUY NGHĨ (tưởng)” vận hành rầm rì huyên thuyên hơn phố chợ cả ngày với ký ức nhớ về quá khứ hoặc nghĩ suy hướng về tương lai. Vòng tròn ngoài cùng là vòng tròn “TÂM BẤT ĐỘNG”, chính là nền tảng của tâm, là NĂNG LỰC NHẬN BIẾT, nó KHÔNG CÓ TIẾNG NÓI CỦA SUY NGHĨ hay CỦA TIẾNG NÓI RẦM RÌ. Bản chất tâm ấy chỉ THUẦN ÁNH SÁNG, NHÌN LÀ BIẾT, TRỰC TẾP, VÔ NIỆM thế thôi.
Từ biểu đồ này, chúng ta thấy phần thân của chúng ta di chuyển bất cứ nơi đâu đều có NĂNG LỰC TÂM CỐT LÕI PHỦ TRÙM TOÀN THÂN. Ngay cả phần cảm thọ vui buồn, bất an cũng luôn được bản chất tâm cốt lõi này bao bọc. Không có ký ức về quá khứ nào không nằm trong vùng trời của tâm cốt lõi. Cũng không có dòng suy nghĩ nào toan tính cho tương lai có thể vượt ra ngoài “vòng tròn TÂM BẤT ĐỘNG”.
Tóm lại, MỌI THỨ ĐỀU ĐƯỢC VÙNG NĂNG LƯỢNG “NHẬN BIẾT” CHIẾU SÁNG.
Thế nhưng chúng ta lại SỐNG NHIỀU NHẤT TRÊN TẦNG CẢM XÚC – mặc dù “vòng tròn cảm xúc” là phần rất bé nhỏ trong biểu đồ tâm. Chúng ta không ngần ngại đồng nhất mình vào cảm thọ buồn vui, gọi “hạnh phúc” này là“hạnh phúc của tôi”, “bất hạnh” kia là “bất hạnh của tôi” v.v…
Tệ hơn nữa, khi cảm xúc sinh khởi, chúng ta liền mời gọi phần ký ức đến để gia cố thêm cho phần ý thức. Có những nỗi buồn trong quá khứ khi quay về không đủ tàn phá ta, nhưng ta lại vụng dại dùng ý thức để thêu dệt thêm, khiến nỗi thất vọng càng đầy hơn, từ đó dìm mình trong nỗi bất hạnh.
Thật ra muốn sống trong “vòng tròn” nào là QUYỀN CHỌN LỰA của chính ta. Nếu muốn sống trong “vòng tròn tâm bất động”, chúng ta chỉ cần thực tập bất kỳ pháp môn nào của Thế Tôn đã dạy, sớm muộn gì cũng đạt được thành quả mong muốn.
8. THỰC TẬP
Chúng ta có thể thực tập từng bước pháp hành trì rất đơn giản như sau. Bước đầu chúng ta thực tập NHẬN DIỆN HƠI THỞ “VÀO RA”. Hơi thở thuộc “vòng tròn thân”. Chúng ta đang đứng trên “vòng tròn tâm bất động”. Chúng ta quan sát hơi thở. Hơi thở là đối tượng bị ta quan sát. Lúc này hơi thở được năng lực nhận biết của chúng ta phủ trùm.
Một khi thực tập quán sát hơi thở đã vững, chúng ta có đủ chánh niệm để thực tập bước kế, đó là thực tập QUAN SÁT những CẢM THỌ “vòng tròn cảm xúc (thọ)”. Cảm thọ buồn vui, hờn giận, bất an đang đến đi sinh diệt trong tự tâm mình đều được năng lực nhận biết của chúng ta phủ trùm.
Dần dần chúng ta sẽ quan sát được phần thâm sâu hơn nằm trong “vòng tròn SUY NGHĨ (tưởng, hành)”. Những KÝ ỨC, những TIẾNG NÓI THÌ THẦM TRONG ĐẦU, hay những DÒNG SUY NGHĨ “trồi lên rồi biến mất” cũng đều được NĂNG LƯỢNG “NHẬN BIẾT” của chúng ta PHỦ TRÙM.
Bước cuối cùng, chúng ta thực tập AN TRÚ NGAY NƠI “vòng tròn TÂM BẤT ĐỘNG” để tự cảm nghiệm được bản chất tâm đang chiếu sáng tràn đầy nhận biết. Chúng ta KHÔNG DÍNH CHI đến buồn vui hờn giận, chẳng liên can chi đến suy nghĩ, ký ức ĐẾN ĐI như những người khách rời quán trọ.
Khi đã an trú vĩnh hằng nơi trạng thái tâm cốt lõi, chúng ta sẽ khám phá ra “vòng tròn thân” luôn được “vòng tròn tâm” bao bọc. “Vòng tròn cảm thọ”, “vòng tròn suy nghĩ” cũng từ “vòng tròn tâm bất động” mà sinh khởi. BẢN CHẤT THẬT CỦA TA CHÍNH LÀ VÒNG TRÒN “TÂM BẤT ĐỘNG” – CHƯA TỪNG SINH DIỆT.
Đất trời, cỏ cây, người qua lại, tất cả các pháp đó đều là đối tượng bên ngoài của ta, không phải là ta. Cảm xúc buồn vui hờn giận lo lắng bất an ý nghĩ thầm thì cũng ở ngoài ta, không phải là bản chất tâm chân thật của ta.
Đạt đến đây, chúng ta đã hoàn thiện con đường khám phá tâm cốt lõi, những rong rêu đóng bên trong đều rớt sạch. Đứng NGAY NƠI “vòng tròn tâm bất động”, ta sống với trạng thái an bình tịnh lạc, không sắc màu, cảm xúc. Các vị A La Hán trong quá khứ cũng đi trên con đường này để chứng nghiệm tuệ giác, thành tựu Thánh quả. Đây là con đường giúp chúng ta đoạn được tử sinh, không còn phải lang thang trong ba cõi sáu đường nữa.
9. KẾT LUẬN
Ốm yếu, thích nương tựa nơi người thân là bản chất của con người mà hầu hết chúng ta đều có. Trong cuộc sống đời thường, một em bé khi vừa bước vào đời hãy còn non nớt rất cần được cha mẹ chở che. Trong cuộc sống của người xuất gia, người mới vào tu cũng rất cần được Tăng đoàn nuôi dưỡng. Tuy nhiên đến một lúc nào đó người con phải rời khỏi tầm tay của cha mẹ để tự bơi lội trong cuộc đời của mình. Cũng vậy, người xuất gia khi đã thọ Tỳ kheo phải tự trưởng thành. Đến giai đoạn tiếp Tăng, độ Chúng, người xuất gia phải rèn mình thành một người có bản lĩnh, vừa có năng lực rắn rỏi tự nội, vừa có khả năng sống hợp quần với môi trường chung quanh.
Sợ chết và cố tránh né cái chết cũng là bản chất của con người vốn ai trong chúng ta cũng có. Nhiều Tôn giáo cố gắng giải thích những gì xảy ra sau khi chết để tín đồ của họ đỡ sợ chết. Chỉ duy Đức Thế Tôn dạy đệ tử của Ngài PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI CÁI CHẾT TRONG TỪNG HƠI THỞ – NGAY GIÂY PHÚT SỐNG ĐANG LÀ. Đây là nét rất đặc thù chỉ có trong giáo lý Đạo Phật. Người ta cho rằng đạo Phật rất bi quan. Sự thật đạo Phật không bi quan cũng chẳng lạc quan. Đạo Phật chỉ nói lẽ thực có mặt nơi đời sống để chúng ta giác ngộ, thức tỉnh, không trốn chạy cái chết, không ỷ lại vào người thân.
Có ý thức được sự chết, cạn nhất chúng ta không liệng đời mình vào buồn giận ghét thương, sống lành với mình, sống đẹp với người, sống an lạc từng phút giây. Có thấy được hình hài mình đang chết dần từng ngày, chúng ta sẽ không hoang phí cuộc đời, không lấp đầy tâm thức sợ chết bằng cách tìm lãng quên trong ma tuý, trong các cuộc hội họp bạn bè, hay những việc làm hướng ngoại làm nô lệ cho vật chất.
HÃY NƯƠNG TỰA VÀO NĂNG LỰC TỰ THÂN MÀ TU TẬP, để có đặc tính kiêu hùng dũng mãnh của một người đã trưởng thành, để biết sử dụng nguồn lực của tự thân lẫn nguồn lực chung quanh, để đến được điểm đích của tiến trình tu là thành tựu Niết Bàn.
Thầy Thích Phước Tịnh, chủ nhật ngày 16.06.2019
Phiên tả dựa theo pháp thoại ‘Kết Một Tràng Hoa – Phẩm Quán Chiếu Vô Thường 07
[Nghe thêm: http://thienquantam.com/…/13566-09-quan-chieu-vo-thuong-09]
. . . . .
CẢM NHẬN
Giáo lý Phật Đà, đối với chúng tôi sau 40 năm VĂN – TƯ – TU và từng BỊ HÔN MÊ (koma) KHÔNG CÒN KIỂM SOÁT được HƠI THỞ mới có KINH NGHIỆM TRẢI QUA GIAI ĐOẠN này. Ngoài ra chỉ là LÝ THUYẾT “suông” mà thôi! Bản thân chúng tôi ĐÃ TRẢI NGHIỆM bốn (04) lần 1985, 199, 2010, 2022 – nghĩa là trên 40 năm qua sống ở xứ người, mới thật sự NGHIỆM được thế nào là VÔ THƯỜNG trong từng SÁT-NA “THỞ” – chứ khoan nói đến chuyện bài bản ĐẾM SỐ HƠI THỞ RA VÀO để BIẾT MÌNH SỐNG (sic)
SỰ THẬT này VƯỢT TRÊN mọi khái niệm, mặc định, tôn giáo, tín ngưỡng, học thuyết, tư tưởng, khoa học, văn minh, giáo dục, xã hội, chính trị, đạo đức, chủng tộc, ngôn ngữ v.v… và v.v…
Nói cách khác, những SỰ THẬT đó chính là lý TỰ NHIÊN sự vận hành của vũ trụ và hiện hữu của mọi sinh linh. Nó là CHÂN LÝ miên viễn, bất di bất dịch của mọi hiện tượng vật lý và phi vật lý.
Đó là nguyên lý NHÂN DUYÊN SANH.
Vì lẽ, mọi pháp vật lý (sắc) và phi vật lý (tâm) KHÔNG TỰ NHIÊN mà sinh – thành – hoại – diệt (!). Nên nó KHÔNG THẬT CÓ (!) Vì do nhân duyên sanh và không thật có nên nó VÔ THƯỜNG, hằng biến đổi liên tục vượt khỏi và độc lập với biên giới của không gian và thời gian. Trong mỗi khoảnh khắc – thuật ngữ nhà Phật gọi là sát-na, nhanh hơn một cái chớp mắt – mọi pháp danh (tâm, phi vật lý) – sắc (thân, vật lý) đã KHÔNG GIỐNG cái “nó” trong sát-na “TRƯỚC ĐÓ” và “SAU ĐÓ”; nhưng nó KHÔNG KHÁC nhau.
Đây là NĂNG LƯỢNG chuyển hóa, thúc đấy nhau “tiến về phía trước”. Mọi pháp vật lý hay phi vật lý ĐANG di chuyển “tiếp tới”, chứ không đứng lại một chỗ. Cho nên, nhà bác học Albert Einstein hay các khoa học gia khác hoặc thuyết lượng tử hiện đại cũng đã và đang áp dụng nguyên lý này vào các công trình nghiên cứu khảo sát cho sự “tiến hóa” của nhân loại qua các phát minh khoa học công nghiệp, kỹ nghệ, y khoa v.v..
Sự TIẾN HÓA và HIỆN HỮU của mọi hiện tượng HỮU hay VÔ VI đều dựa trên nguyên lý VÔ THƯỜNG mangbản chất TƯƠNG TỨC TƯƠNG TÁC.
Tính chất TƯƠNG TỨC TƯƠNG TÁC được triển khai như sau:
1. KHÔNG KHÁC (tương tức) – nghĩa là cái ĐANG LÀ “TỨC” là cái ĐÃ LÀ và “TỨC” là cái SẼ LÀ.
2. KHÔNG GIỐNG (tương tác) – nghĩa là cái cái ĐANG LÀ được TÁC thành từ cái ĐÃ LÀ và cái ĐANG LÀ “hiện đang” TÁC thành cái SẼ LÀ…
Đây chính là nguyên lý TUẦN HOÀN TỰ NHIÊN của mọi hiện tượng (pháp), không phải do Đức Phật chế tác, mà là những điều được Ngài NHẬN BIẾT bằng TRÍ TUỆ TỈNH THỨC, chứ không phải từ KIẾN THỨC hay nói cách khác là TRÍ THỨC (!)
Cho nên, có thể NHẬN BIẾT rõ 8 điểm chu trình tiến hóa của tự thân – KHÔNG THỂ TỰA NƯƠNG AI – được Thầy Phước Tịnh lý giải cũng không ngoài tính chất “bất khả phân” của TƯƠNG TỨC và TƯƠNG TÁC, mà Thầy Nhất Hạnh gọi là “Inter-Being” (!) Còn chúng tôi gọi là “CÁI ĐANG LÀ” (!)
Y Học và Y Lý của “Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®” cũng không ngoại lệ. Nó quy chiếu nguyên lý này mà thành hình phương pháp (y phương, y thuật) để “KHÁM CHẨN – TƯ VẤN – TRỊ LIỆU – GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO” theo một công thức, quy trình riêng biệt KHÔNG GIỐNG CHẲNG KHÁC là:
Mọi pháp (vật lý và phi vật lý) ĐANG LÀ
CHÍNH là những gì nó ĐÃ LÀ và
Mọi pháp (vật lý và phi vật lý) SẼ LÀ
CHÍNH là những gì nó ĐANG LÀ…M
Vì lẽ đó, y học, y lý và y thuật của Y Pháp TÂM- THỂ P.E.R.G.® chỉ chú trọng quan tâm đến việc NHẬN BIẾT và CHUYỂN HÓA (làm mới) cái ĐANG LÀ để mang lại SỨC KHOẺ và HẠNH PHÚC cho bản thân và mọi sinh linh NGAY ĐANG LÀ (sát-na) và VÔ LƯỢNG ĐANG LÀ LIỆN TỤC TIẾP NỐI (!)
TÓM LẠI: Theo bản thể tự tánh, mọi pháp vật thể cùng phi vật thể THAY ĐỔI LIÊN TỤC TỪNG SÁT-NA. Nghĩa là TIẾN HÓA KHÔNG NGỪNG. Nói cách khác là: Diệt để Sinh (thành, hoại) rồi Diệt rồi Sinh …. CHẾT để mà SỐNG, và SỐNG để rồi CHẾT….
Nhưng ai cũng SỢ CHẾT và theo quy luật trên, chúng tôi dùng khái niệm sau thì CHÍNH XÁC NHẤT, đó là VÃNG SANH (SANH TIẾP, SANH TỚI… chứ không có chuyện chết là hết!) và cũng không có chuyện TÁI SANH (!).
Tiến trình VÃNG SANH này DIỄN RA NGAY TRONG TỪNG SÁT-NA ĐANG LÀ!
Cái ĐANG LÀ này (vãng sanh) và nó KHÔNG GIỐNG CHẲNG KHÁC
1. cái ĐÃ LÀ (hiện hữu, sống “trước” đó 1 sát-na) và
2. cái SẼ LÀ (sự hiện hữu “sau” sát-na vãng sanh)
Mang tính QUYẾT ĐỊNH và làm NĂNG LƯỢNG cho TỪNG SÁT-NA VÃNG SANH là: Sự TÁC Ý “NHẤT TÂM BẤT LOẠN” ĐỊNH HƯỚNG CHO TỪNG SÁT-NA VÃNG SANH NỐI TIẾP!
Nói chung, đừng có SỢ CHẾT. Vì không bao giờ có CÁI hay SỰ CHẾT mà chỉ là một ĐỘNG TỪ duy nhất là: VÃNG SANH = SỐNG TIẾP NHƯ THẾ NÀO TÙY VÀO NGHIỆP LỰC và sự CHUYỂN NGHIỆP (hướng vãng sanh) bằng NĂNG LƯỢNG “NHẤT TÂM BẤT LOẠN” Ở TỪNG SÁT-NA VÃNG SANH “ĐANG LÀ” tiếp nối nhau không ngưng nghỉ!!!
Thật dễ hiểu, phải không thưa các Bạn!
Nếu vị nào có hay còn nghi vấn về chủa đề chúng tôi chia sẻ bên trên, kính xin nêu ra để mọi người cùng tỏ tường nhé! Mục đích, thực tập chuẩn bị cho cái SÁT-NA VÃNG SANH “ĐANG LÀ” này!
Để làm gì nhỉ? Đơn giản, dễ hiểu… là chỉ để SỐNG CHO CÓ Ý NGHĨA và TRỌN VẸN (viên mãn) “NGAY ĐANG LÀ”… có phải thế không nhỉ! Sự THị HIỆN của Như Lai trong cõi Ta Bà này cũng chỉ cvì một HẠNH NGUYỆN DUY NHẤT là CHỉ cho chúng sanh cách “SỐNG ĐANG LÀ”. Bởi NIẾT BÀN, CỰC LẠC, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT … CHỈ CÓ MẶT “NGAY ĐANG LÀ” chứ KHÔNG PHẢI Ở Đông Tây Nam Bắc hay ở CÕI nào khác v.v… hay bất kỳ ở đâu để MONG CẦU TÌM ĐẾN ĐÓ! – hoang tưởng. mê tín… quyến thuộc của MA VưƠNg (!)
Thương kính chúc mọi người, mọi nhà THÂN TÂM AN LẠC – Ý NHƯ VẠN SỰ.
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc-Diệp
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.RG.®
Chủ nhật ngày 02.04.2023
#phapthoai_perg
#phatphap_perg
#yly_perg

Bình luận