DẪN NHẬP
Những thông tin do các cơ quan truyền thông tại Đức hôm thứ Tư ngày 14.10.2026, đưa tin Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã được phẫu thuật vì ung thư phổi là nhân duyên để tìm hiểu một căn bệnh liên quan đến hàng triệu người và gia đình trên thế giới.
Ngày 13.10.2026, Tòa Thánh Vatican thông báo các bác sĩ đã cắt thùy dưới phổi phải của Ngài; xét nghiệm mô xác nhận ung thư biểu mô tuyến phổi. Sự kiện này đưa một vấn đề y học vốn rộng lớn đến gần hơn với đại chúng, trong đó có những tín hữu Cơ-đốc mong hiểu điều đang xảy ra với vị đứng đầu Giáo hội Cơ-đốc. [1]
Do đó, Biên khảo luận này trình bày những kiến thức y học cần thiết để người đọc mọi thành phần đều có thể hiểu ung thư phổi, từ sự hình thành bệnh đến phát hiện, điều trị và đời sống sau điều trị theo Y học Triệu chứng.
Phần Y học Triệu chứng giới thiệu cách nhận diện và xử lý căn qua những thông tin được công bố về trường hợp ung thư phổi của Đức Giáo hoàng Lêô XIV. Ngoài ra, ung thư nói chung và ung thư phổi nói riêng được giải trình qua lăng kính TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs giúp độc giả giúp độc giả tìm hiểu thêm quan điểm và định hướng CHẨN – ĐỊNH – TRỊ hòan toàn mới của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs đối với căn bệnh này.

MỤC LỤC
DẪN NHẬP
CHƯƠNG A – UNG THƯ PHỔI theo Y Học Triệu Chứng
I. Hiểu đúng tên bệnh
II. Căn bệnh trong bối cảnh thế giới
III. Bệnh hình thành như thế nào?
IV. Từ diễn tiến âm thầm đến phát hiện bệnh
V. Hiểu khả năng sống còn mà không biến số liệu thành số phận
CHƯƠNG B – Diễn Tiến Trường Hợp Đức GIÁO HOÀNG LÊÔ XIV và Khả Năng Xác Định Căn Nguyên
I. Từ phát hiện nốt phổi đến quyết định điều trị
II. Cuộc phẫu thuật và chẩn đoán được công bố
III. Những thông tin đầu tiên sau mổ
IV. Căn nguyên: những dữ kiện còn cần thiết
CHƯƠNG C – UNG THƯ Qua Lăng Kính Bệnh Học Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
I. Cấu trúc 4-TRỤ: TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN
II. Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung)
III. Ung Thư và Di Căn theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
III.1. Trật tự sống và sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis): “lệch nhịp” là gì trong ngôn ngữ P.E.R.G.® nach NGOs?
III.2. Sự hình thành “nơi chốn” cho tế bào „dị chứng“ hay „không thuận“
IV. Khối u hình thành: “cành” và “gốc”
V. Di căn ví như DI CƯ theo lộ trình đã mở bởi TÁC-Ý ĐANG hiện hành
VI. TÁC-Ý MỚI ĐANG hiện hành: điểm “định hướng lộ trình MỚI” (không hủy – không kháng – không chặn)
CHƯƠNG D – Kết Luận và Cảm Nhận
I. Kết luận khoa học – lâm sàng: CÀNH và GỐC
II. Kết luận sống: quyền làm chủ TÁC-Ý ĐANG hiện hành và trách nhiệm sống
III. Cảm nhận
IV. Chân ngôn bất biến của TÁC- Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
CHƯƠNG E – Phụ Lục
I. Thuật ngữ theo nội dung
II. Thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
III. Danh mục chữ viết tắt
IV. Dữ liệu và số liệu tham khảo
V. Mốc thời gian của trường hợp Đức Giáo hoàng Leo XIV
VI. Nguồn và tài liệu tham khảo
* * *
CHƯƠNG A – UNG THƯ PHỔI theo Y Học Triệu Chứng
I. Hiểu đúng tên bệnh
Phổi giúp cơ thể tiếp nhận ôxy và thải khí cacbonic. Phổi phải gồm ba thùy, phổi trái gồm hai thùy. Bởi vậy, cắt một thùy phổi khác với cắt toàn bộ một bên phổi. Khi nghe tin một người được “cắt phổi”, cần biết chính xác phần nào đã được lấy đi. [2]
Một nốt xuất hiện trên hình ảnh phổi chưa tự nó là chẩn đoán ung thư. Nốt có thể là tổn thương lành tính hoặc ác tính; hình ảnh, diễn biến qua thời gian và khi cần, xét nghiệm mô, giúp xác định bản chất.
Ung thư là tình trạng một nhóm tế bào tăng trưởng mất kiểm soát, có khả năng xâm lấn mô lân cận và lan đến nơi khác. Nếu ung thư bắt đầu ở phổi, đó là ung thư phổi nguyên phát; nếu bắt đầu ở cơ quan khác rồi lan tới phổi, tên bệnh vẫn theo cơ quan khởi phát. [3, 4]
Hai nhóm lớn là ung thư phổi không tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ. Nhóm không tế bào nhỏ chiếm khoảng 85% trường hợp; nhóm tế bào nhỏ ít gặp hơn nhưng thường diễn tiến nhanh. Ung thư biểu mô tuyến phổi thuộc nhóm không tế bào nhỏ, có đặc điểm tế bào tuyến và là thể bệnh được xác nhận ở Giáo hoàng Lêô XIV. Tên loại tế bào giúp định hướng điều trị, nhưng chưa đủ để biết bệnh nặng đến đâu. [1, 5]
II. Căn bệnh trong bối cảnh thế giới
Theo bảng ước tính GLOBOCAN 2024 của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế, toàn thế giới có khoảng 2,64 triệu ca mắc mới và 1,86 triệu ca tử vong do ung thư phổi trong năm 2024.
Châu Á chiếm khoảng 65,6% ca mắc mới, châu Âu 18,2%, Bắc Mỹ 9,8%; phần còn lại thuộc Mỹ Latinh và Caribe, châu Phi và châu Đại Dương.
Đây là tỷ lệ số ca, không phải xác suất mắc bệnh của từng người ở mỗi châu lục. [6]
Số người mắc mới và số người tử vong trong một năm không phải cùng một nhóm người. Do đó, không thể chia hai số ấy để kết luận tỷ lệ tử vong của những người vừa được chẩn đoán. Muốn so sánh nguy cơ giữa các quốc gia, còn phải xét hòan cảnh sống, quy mô dân số, cấu trúc tuổi và chất lượng ghi nhận bệnh.
Phân tích quốc tế dựa trên số liệu năm 2022 cho thấy ung thư biểu mô tuyến chiếm 45,6% ung thư phổi ở nam và 59,7% ở nữ. Đông Á có tỷ suất mắc thể tuyến chuẩn hóa theo tuổi cao nhất ở cả hai giới trong nghiên cứu này. Các thể bệnh khác phân bố không giống nhau giữa các khu vực; vì thế, không có một hình ảnh dịch tễ duy nhất cho tất cả ung thư phổi. [7]
Tại Đức, số liệu năm 2022 ghi nhận khoảng 23.655 phụ nữ và 32.922 nam giới mắc mới, tổng cộng 56.577 người. Đây là dữ liệu quốc gia trong bức tranh toàn cầu, không đại diện cho toàn thế giới. [8] Bệnh thường gặp nhiều hơn ở tuổi cao, nhưng người trẻ và người chưa từng hút thuốc vẫn có thể mắc. Những nghiên cứu ở nhóm chưa từng hút thuốc cho thấy bệnh có những đặc điểm sinh học riêng và còn nhiều căn nguyên chưa được giải thích đầy đủ. [9]
III. Bệnh hình thành như thế nào?
Cơ thể liên tục tạo tế bào mới và loại bỏ những tế bào lão hóa hoặc hư hỏng. Ung thư hình thành khi cơ chế điều hòa sự tăng trưởng, phân chia và chết của tế bào bị rối loạn. Tế bào bất thường có thể tiếp tục phân chia, không đáp ứng đúng tín hiệu dừng tăng trưởng hoặc chết theo chương trình, rồi dần tạo thành khối u. Một số tế bào ung thư còn né tránh sự nhận diện của hệ miễn dịch hoặc làm biến đổi môi trường xung quanh để thuận lợi cho sự phát triển của chúng. [4]
Những thay đổi trong vật chất di truyền có vai trò quan trọng. Chúng có thể xuất hiện trong quá trình sống, do tác nhân gây tổn thương hoặc do sai sót trong hoạt động của tế bào. Một số đặc điểm di truyền làm tăng tính dễ mắc bệnh, nhưng phát hiện biến đổi gen trong khối u không đồng nghĩa với việc biến đổi ấy được di truyền từ cha mẹ. Thông thường, sự hình thành ung thư liên quan đến nhiều biến đổi và nhiều bước, không phải một sự kiện đơn lẻ có thể dễ dàng truy ngược. [10]
• Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất của ung thư phổi trong dân số. Hút thuốc trực tiếp và hít khói thuốc của người khác đều có thể gây bệnh.
• Khí radon trong môi trường, amiăng và một số tác nhân nghề nghiệp, cũng như phơi nhiễm bức xạ nhất định, là những yếu tố đã được ghi nhận. Các tác nhân có thể phối hợp làm tăng nguy cơ. [11]
• Ô nhiễm không khí và tính dễ mắc bệnh của cơ thể cũng cần được xét đến.
Tuy nhiên, người có nhiều yếu tố nguy cơ chưa chắc mắc bệnh, và người không có yếu tố nguy cơ đã biết vẫn có thể mắc. Vì vậy, hỏi “nguyên nhân của bệnh này là gì?” và hỏi “vì sao chính người này mắc bệnh?” là hai mức độ khác nhau của việc tìm hiểu. Y học triệu chứng có thể xác định nhiều nguyên nhân trong dân số mà vẫn chưa tìm được lời giải đầy đủ cho từng cá nhân. [9, 10]
• Căng thẳng tâm lý là một hướng nghiên cứu, nhưng các kết quả về nguy cơ phát sinh ung thư chưa thống nhất. Một số liên hệ có thể gián tiếp qua hành vi như hút thuốc. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về tác động của căng thẳng lên khối u cũng không tự động chứng minh rằng một suy nghĩ hoặc cảm xúc cụ thể đã gây ung thư ở một người. Việc chăm sóc đời sống tinh thần có ý nghĩa đối với người bệnh; điều đó cần được phân biệt với việc xác định căn nguyên ung thư. [12]
IV. Từ diễn tiến âm thầm đến phát hiện bệnh
Ung thư phổi có thể phát triển một thời gian mà chưa có dấu hiệu rõ. Khi có triệu chứng, người bệnh có thể ho kéo dài, khó thở, đau ngực, ho ra máu, mệt mỏi, sút cân không rõ nguyên nhân hoặc nhiễm trùng hô hấp tái diễn. Những biểu hiện này cũng gặp ở bệnh khác, nên không thể tự xác định ung thư chỉ dựa vào triệu chứng. [5]
Thăm khám, chẩn đoán hình ảnh và lấy mẫu xét nghiệm giúp làm rõ tổn thương. Xét nghiệm mô bệnh học cho biết loại tế bào; những khảo sát khác đánh giá bệnh còn cục bộ hay đã lan đến hạch, cơ quan lân cận hoặc nơi xa. Xét nghiệm phân tử, khi có chỉ định, hỗ trợ chọn phương pháp điều trị phù hợp. [2]
V. Di căn và đánh giá mức độ lan rộng của bệnh
Di căn có nghĩa tế bào ung thư từ nơi khởi phát lan sang vị trí khác, chẳng hạn xương hoặc não. Di căn không biến ung thư phổi thành một loại ung thư nguyên phát mới tại nơi đến. Việc bệnh đã lan rộng đến đâu ảnh hưởng lớn đến mục tiêu và cách điều trị. [4] Điều cần biết là khối u có thể nhỏ nhưng vẫn phải kiểm tra hạch và mức độ lan rộng; ngược lại, chỉ nghe chữ “ung thư” chưa đủ để tiên đoán diễn tiến. Chẩn đoán đầy đủ phải kết hợp nhiều dữ kiện, không chỉ kích thước nốt hoặc cảm giác khỏe yếu bên ngoài. [2, 13]
VI. Y học triệu chứng có thể điều trị đến đâu?
• Điều trị được lựa chọn theo loại tế bào, mức độ lan rộng, đặc điểm sinh học của khối u, khả năng hô hấp và thể trạng người bệnh. Ung thư phổi không có một phác đồ duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp. Hội chẩn giữa các chuyên khoa giúp cân nhắc lợi ích, nguy cơ và mục tiêu phù hợp. [5, 13]
• Khi ung thư phổi không tế bào nhỏ còn ở giai đoạn phù hợp và người bệnh đủ sức khỏe, phẫu thuật có thể được thực hiện với mục tiêu chữa khỏi. Bác sĩ lấy khối u cùng phần mô cần thiết và đánh giá hạch. Phạm vi cắt có thể là một phần thùy, một thùy hoặc rộng hơn, tùy bệnh cảnh. Một số trường hợp cần điều trị trước hoặc sau mổ nhằm giảm nguy cơ bệnh còn sót hay tái phát. [21]
• Xạ trị tác động vào vùng tổn thương bằng bức xạ. Ở một số người có bệnh cục bộ nhưng không thể mổ, xạ trị định vị có thể là lựa chọn điều trị triệt căn. Hóa trị dùng thuốc tác động lên tế bào ung thư và có thể phối hợp với xạ trị hoặc phương pháp khác. Khi bệnh đã lan rộng, mục tiêu thường là kiểm soát bệnh, kéo dài sự sống và giảm triệu chứng; mức đáp ứng khác nhau giữa từng người. [22]
• Điều trị nhắm trúng đích dựa vào một đặc điểm cụ thể của tế bào ung thư. Muốn sử dụng phù hợp thường cần xét nghiệm tìm dấu ấn liên quan. Đây không phải thuốc dùng chung cho mọi ung thư phổi; khối u có thể không mang đích cần thiết hoặc phát triển khả năng kháng thuốc sau một thời gian. Phương pháp này vẫn có tác dụng phụ và cần được theo dõi. [14]
• Miễn dịch trị liệu giúp hệ miễn dịch chống lại ung thư. Một số thuốc làm giảm cơ chế kìm hãm đáp ứng miễn dịch mà khối u có thể lợi dụng. Tuy nhiên, không phải ai cũng đáp ứng; phản ứng miễn dịch còn có thể ảnh hưởng đến mô lành. Vì vậy, “tăng miễn dịch” là cách nói quá chung để mô tả một phương pháp điều trị đòi hỏi lựa chọn và giám sát cụ thể. [15]
• Trong mọi giai đoạn, chăm sóc hỗ trợ có vai trò thiết thực: giảm đau, giảm khó thở, hỗ trợ ăn uống, giấc ngủ, tinh thần và sinh hoạt. Chăm sóc giảm nhẹ có thể bắt đầu cùng lúc với điều trị ung thư, không chỉ dành cho những ngày cuối đời. Nhu cầu tâm linh của người bệnh cũng có thể được tôn trọng và hỗ trợ trong quá trình chăm sóc. [16]
VII. Hiểu khả năng sống còn mà không biến số liệu thành số phận
Dữ liệu Hoa Kỳ của chương trình SEER, giai đoạn chẩn đoán 2016–2022, cho thấy tỷ lệ sống tương đối sau năm năm của ung thư phổi và phế quản khoảng 65,5% khi còn khu trú, 38,2% khi lan vùng và 10,5% khi đã di căn xa. Những nhóm này là phân loại thống kê về mức độ lan rộng, không tương ứng hoàn toàn với mọi phân nhóm giai đoạn lâm sàng. Đây cũng không phải số liệu riêng của ung thư biểu mô tuyến. [17]
“Tỷ lệ sống tương đối sau năm năm” so tỷ lệ sống sau năm năm của nhóm người bệnh với tỷ lệ sống kỳ vọng của nhóm dân số có các đặc điểm tương ứng. Chỉ số này không có nghĩa người bệnh chỉ sống được năm năm, cũng không đồng nghĩa với tỷ lệ chữa khỏi. Nó mô tả một nhóm người trong một thời kỳ, không dự đoán chính xác số phận của cá nhân. [17]
Kết quả còn phụ thuộc vào thể bệnh, dấu ấn phân tử, bệnh kèm theo, khả năng tiếp cận điều trị và đáp ứng thực tế. Một ca mổ thuận lợi là thông tin tích cực về cuộc mổ; muốn đánh giá kiểm soát ung thư lâu dài vẫn cần kết quả bệnh học và theo dõi. [13]
VIII. Cuộc sống sau điều trị
• Sau điều trị, người bệnh cần được theo dõi theo tình trạng cụ thể. Khám lại và các xét nghiệm thích hợp giúp đánh giá hồi phục, nhận biết tác dụng không mong muốn và phát hiện bệnh trở lại. Tái phát có thể xảy ra tại nơi cũ hoặc vị trí khác; khi ấy hướng điều trị được xem xét lại. [2]
• Sự hồi phục không chỉ được đánh giá qua hình ảnh khối u. Khả năng thở, đi lại, ăn ngủ, làm việc và duy trì các mối quan hệ đều thuộc chất lượng sống. Hỗ trợ về tâm lý cùng sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội giúp người bệnh đối diện với sự bất định mà căn bệnh đem lại. Những hỗ trợ ấy có thể đi cùng điều trị chuyên khoa, tùy nhu cầu và sự lựa chọn của người bệnh. [16]
IX. Phòng ngừa và phát hiện sớm
• Giảm tiếp xúc với khói thuốc, ô nhiễm và tác nhân nghề nghiệp là những biện pháp phòng ngừa quan trọng. Phòng ngừa giúp giảm nguy cơ, không tạo ra bảo đảm tuyệt đối rằng một người sẽ không mắc bệnh. [11]
• Tầm soát là kiểm tra tìm bệnh ở người chưa có triệu chứng. Chụp cắt lớp vi tính liều thấp có thể giảm tử vong do ung thư phổi ở những nhóm nguy cơ cao được lựa chọn thích hợp. Tuy nhiên, tầm soát cũng có thể phát hiện dấu hiệu nghi ngờ nhưng không phải ung thư, dẫn đến kiểm tra thêm; đôi khi phát hiện tổn thương vốn không gây hại trong đời người. Bởi vậy, tầm soát cần được thực hiện trong một chương trình có quy trình theo dõi bảo đảm chất lượng, không phải cứ chụp càng nhiều càng tốt. Người đã có triệu chứng cần được đánh giá chẩn đoán, không chờ đến một đợt tầm soát. [3]
CHƯƠNG B – Diễn Tiến Trường Hợp ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊÔ XIV Và Khả Năng Xác Định Căn Nguyên
I. Từ phát hiện nốt phổi đến quyết định điều trị
Ngày 11.10.2026, sau thời khóa đọc kinh Truyền Tin, Đức Giáo hoàng Lêô XIV thông báo bác sĩ phát hiện một nốt nhỏ một nốt nhỏ nằm giới hạn tại một vùng của phổi bên phải trong những lần kiểm tra gần đây. Ngài cho biết tổn thương được phát hiện sớm và đã quyết định phẫu thuật theo khuyến nghị của bác sĩ. Ngài cũng cảm ơn sự gần gũi về tinh thần của mọi người và phó thác bản thân vào lời cầu nguyện của họ. [18]
Thông báo này cho biết hoàn cảnh phát hiện và quyết định điều trị. Cụm từ “phát hiện sớm” trong lời công bố ban đầu chưa thay thế kết quả phân giai đoạn đầy đủ sau khi đánh giá mô, hạch và những yếu tố liên quan. Thời điểm phát hiện cũng không phải thời điểm chắc chắn bệnh bắt đầu hình thành. [13, 18]
II. Cuộc phẫu thuật và chẩn đoán được công bố
Ngày 13.10.2026, Ngài được phẫu thuật tại Bệnh viện Gemelli ở Rôma. Theo thông báo y khoa do Vatican công bố, các bác sĩ cắt thùy dưới phổi phải bằng kỹ thuật nội soi lồng ngực có hỗ trợ video nhằm lấy bỏ tổn thương một cách triệt để. Xét nghiệm mô trong cuộc mổ xác nhận ung thư biểu mô tuyến phổi. Cuộc mổ kéo dài khoảng 90 phút, được báo cáo thành công, không có biến chứng; sau đó Ngài tỉnh lại và trở về phòng bệnh sau một thời gian theo dõi ngắn. [1]
Thông tin chính xác:
• một thùy phổi phải đã được cắt bỏ, không phải toàn bộ lá phổi phải.
• Việc phẫu thuật được mô tả là triệt để cho biết mục tiêu lấy bỏ tổn thương; chưa tự nó bảo đảm không còn nguy cơ tái phát về sau. [1, 13]
III. Những thông tin đầu tiên sau mổ
Sáng 14.10.2026, Vatican cho biết đêm đầu sau phẫu thuật diễn ra yên ổn. Mô được lấy ra tiếp tục được khảo sát; thời gian nằm viện dự kiến khoảng một tuần. Đây là thông tin về hồi phục ban đầu. [19]
Bản tin Reuters ngày 14.10 dẫn thông báo Vatican cho biết Ngài đã bắt đầu đi lại trong phòng, ăn uống bình thường và được vật lý trị liệu hô hấp. Xét nghiệm máu và phim ngực cho kết quả phù hợp với diễn tiến hậu phẫu bình thường. Các dấu hiệu ấy phản ánh tình trạng hồi phục trước mắt; chưa xác định kết quả điều trị ung thư lâu dài. [20]
IV. Căn nguyên: những dữ kiện còn cần thiết
Trong các thông báo y khoa được dẫn ở đây, nguyên nhân riêng gây ung thư ở Ngài chưa được xác định. Muốn đánh giá đầy đủ cần biết tiền sử tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ và những thông tin bệnh học thích hợp. Việc khối u nằm ở phổi phải hoặc thuộc thể tuyến không đủ để xác định một tác nhân duy nhất gây bệnh. [1, 19]
CHƯƠNG C – UNG THƯ Qua Lăng Kính Bệnh Học Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
I. Cấu trúc 4-TRỤ: TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN
Theo TÁC‑Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, bốn TRỤ gồm TÂM – TÁC‑Ý – NĂNG – THÂN. Trọng tâm khảo cứu là nhận biết CÁI GÌ ĐANG hiện hành (Presently, continuously operating) dẫn đến những gì ĐANG xảy ra (Presently, continuously happening) tương ứng trong đời sống của đối tượng đang được khảo sát.
• TÂM: Life Data Bank
• TÁC-Ý: Presently, continuously operating will
• NĂNG: Pycho-energetic intensity, level of Psyche or Psychiatry
• THÂN: Soma – level of Body or Psyche
Bốn TRỤ (Four Pillars) này không thể tách rời nhau, đồng thời cũng không thể tồn tại song song như những thực thể độc lập. Chúng tương tác và vận hành liên tục trong một „Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành“ (Logic WIRK-Ordnung“ / Logical-natural presently continuously operating order) theo nguyên lý „đầu VÀO là đầu RA“ (INPUT-OUTPUT Principle).
1. TÂM (life data bank)
TÂM được hiểu như một NGÂN HÀNG (KHO) DỮ LIỆU SỐNG (Life-Data-Bank), nơi toàn bộ thông tin của cuộc sống được ghi-nạp và lưu giữ.
TÂM theo TÁC‑Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs – với nghĩa là KHO DỮ LIỆU SỐNG – không được định nghĩa như “ý thức” theo nghĩa triết học hay tâm lý học, mà là nền thông tin ĐANG hiện diện – vận hành trong mỗi con người. Từng kinh nghiệm, ký ức, diễn giải và định vị bản thân trong cuộc sống được hình thành từ những gì đã và đang được tiếp nhận thông qua các giác quan – dùcó ý thức hay không có thức, trong trạng thái tích cực hay tiêu cực hoặc thụ động – đều được ghi-nạp và lưu giữ tại KHO DỮ LIỆU SỐNG gọi là TÂM này
Vì chỉ là một cái KHO chứa, nên bản chất của TÂM là “ba KHÔNG”: không TRI – không THỨC – không GIÁC (“Three NOTs”: “no Recognition” – “no Consciousness” – “no Awareness”). Do đó, cái gọi là TÂM hoàn toàn không có chức năng TỰ sử dụng hay vận hành những dữ liệu sẵn có – nó có thể ví như một „thư viện khổng lồ“, chỉ cung cấp dữ liệu lưu trữ cho chủ thể sử dụng dữ liệu ấy, được gọi là TÁC-Ý.
2. TÁC-Ý (Presently, continuously operating will)
TÁC‑Ý là ý muốn hành động, ĐANG hiện hành và định hướng mọi tạo tác thông qua dữ liệu từ kho TÂM. TÁC‑Ý không phải những điều đã qua hoặc điều sẽ đến. Chính vì ĐANG hiện hành nên TÁC‑Ý là CHỦ THỂ của tất cả những điều được LÀM MỚI ngay trong khoảnh khắc ĐANG LÀ (the present moment).
Nói cách khác, khi TÁC-Ý thuận hay nghịch (lệch) „Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành“ (Logic WIRK-Ordnung) của dòng sống, thì hai trụ kế tiếp là NĂNG và THÂN chịu ảnh hưởng trực tiếp, tương ứng.
3. NĂNG (Psycho-energetic intensity, level of Psyche or Psychiatry).
NĂNG được hiểu là mức độ hay cường độ trạng thái tâm lý sinh học ĐANG có mặt (Presently, continuously appearing), tương ứng với TÁC‑Ý ĐANG hiện hành. NĂNG không phải năng lượng theo nghĩa vật lý. Trong quy trình 4‑TRỤ, NĂNG giữ vị trí tương tác trung gian giữa TÁC‑Ý ĐANG hiện hành và những gì ĐANG xảy ra ở THÂN.
4. THÂN (Soma – level of Body or Psyche).
THÂN là tầng sinh học hữu hình (Somatic) cũng như vô hình (Psyche). Ở đây bao gồm tế bào, mô, cơ quan, hệ miễn dịch, nội tiết, thần kinh và toàn bộ tiến trình sinh lý.
THÂN là NƠI ĐANG xảy ra (Presently, continuously happening) những gì tương ứng với mức độ hay cường độ của NĂNG ĐANG có mặt. Các cơ quan, tế bào, phản ứng sinh học, triệu chứng và bệnh cảnh đều ĐANG xảy ra trên, trong và ngoài THÂN.
II. Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung; Logical-natural presently continuously operating order)
Khái niệm “Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành” hay „Logic WIRK-Ordnung“ TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs như một quy luật tiến hóa chung cho tất cả các tiến trình tồn tại.
LOGIC nghĩa là thuần lý, ở đây không phải là suy luận hình thức, triết học v.v… mà là sự nối tiếp tự nhiên của từng điểm trong một hệ thống đang vận hành theo nguyên lý „đầu VÀO không giống chẳng khác đầu RA“ (Input – Output).
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành (Presently, continuously operating) chọn dữ liệu từ kho TÂM để định hướng cách vận hành;
• lập tức NĂNG ĐANG có mặt (Presently, continuously appearing) tương ứng;
• đồng thời những gì ĐANG xảy ra (Presently, continuously happening) trên, trong và ngoài THÂN được biểu hiện qua các hiện tượng sinh học.
Tiến trình này diễn ra ngay trong khoảnh khắc ĐANG là (the present moment) theo „trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành“ (Logical-natural presently continuously operating order).
Khi quá trình tương tác này được xem là bị LỆCH “Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành” (Logic WIRK-Ordnung) trong một thời gian ngắn hay dài, thì biểu hiện sinh học xuất hiện tương ứng như vậy.
Trong bối cảnh ung thư, nốt, khối u và quá trình diễn tiến của nó cũng được đặt trong sự tiến hóa này.
III. Ung Thư và Di Căn theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
III.1. Trật tự sống và sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis): “lệch nhịp” là gì trong ngôn ngữ P.E.R.G.® nach NGOs?
Trong sinh học tế bào, sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis) là cơ chế chết theo chương trình, giúp loại bỏ tế bào bất thường và duy trì cân bằng mô.
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, apoptosis được nhìn như một biểu hiện sinh học tiến hóa theo “Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành” (Logic WIRK-Ordnung; logical-natural, presently and continuously operating order). Khi quá trình tiến hóa này vận hành thuận (logic) được mô tả theo trật tự sau:
• TÂM cung cấp dữ liệu sống cho TÁC-Ý;
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành định hướng cách vận hành;
• NĂNG ĐANG có mặt ở trạng thái tương ứng;
• dẫn đến hiện tượng sinh học ĐANG xảy ra phía trên, bên trong và ở ngoài THÂN
thì cơ chế tự loại bỏ tế bào lệch (illogic) chuẩn diễn ra như một phần tự nhiên sự tiến hóa trong quá trình sống của tế bào.
“Lệch nhịp” (illogical operation) trong ngôn ngữ P.E.R.G.® nach NGOs được dùng để mô tả trạng thái vận hành nghịch với trật tự nêu trên; phản ứng tức thời được diễn giải như sau:
TÁC-Ý ĐANG hiện hành „nghịch“ (inllogical) trật tự (Logic WIRK-Ordnung), thì NĂNG ĐANG có mặt tương ứng; dẫn đến lập tức những hiện tượng tương ứng ĐANG xảy ra trên, trong và ngoài THÂN.
Xin đơn cử một ví dụ:
Khi có một điều gì đó xảy ra không NHƯ Ý, không phù hợp với ý muốn (tác-ý) ĐANG hiện hành thì một cơn bực tức có thề xuát hiện nghĩa là NĂNG ĐANG có mặt tức thời với biểu hiện như:
• nét mặt nhăn nhó, cáu kỉnh ĐANG xảy ra trên THÂN.
Nhưng khi cường độ NĂNG gia tăng, các biểu hiện có thể gồm:
• những lời nói khiếm nhã được thốt ra ĐANG xảy ra bên trong THÂN, biểu lộ trạng thái bực tức qua lời nói;
• động tác vung tay, vung chân ĐANG xảy ra ở ngoài THÂN, biểu lộ trạng thái bực tức bằn hành động.
III.2. Sự hình thành “nơi chốn” cho tế bào „dị chứng“ hay „không thuận“ (naughty)
TÁC-Ý ĐANG hiện hành „nghịch“ hay „lệch“ không được hiểu như một điều “sai trái về đạo đức”, mà là:
Sự định hướng vận hành KHÔNG THUẬN với trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành của dòng sống (Logic WIRK-Ordnung).
Khi TÁC-Ý ĐANG hiện hành bị LỆCH lâu dài:
• NĂNG trở nên nặng, căng, hoặc phân ly,
• nền vận hành sinh học ở THÂN không còn nhịp nhàng,
• cơ chế TỰ LÀM MỚI suy giảm hay mất chức năng.
Trong bối cảnh này, tế bào „dị chứng“ hay „không thuận“ (naughty) xuất hiện không phải như một sự kiện tách rời, mà như biểu hiện của trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành của dòng sống (Logic Wirk-Ordnung) ĐANG bị lệch.
“Nơi chốn” ở đây không mang nghĩa đạo đức hay ẩn dụ, mà chỉ một trật tự vận hành bị LỆCH, nơi cơ chế loại bỏ tế bào dị chứng không còn vận hành „thuần lý“ (logical).
IV. Khối u hình thành: “cành” và “gốc”
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs:
• Khối u là một hiện tượng hữu hình ĐANG xảy ra nơi THÂN (Output).
• Nó chỉ là cái bóng (Output) của hình (Input) — NĂNG ĐANG có mặt tương ứng TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
Có thể nhận thấy:
• “Cành”: khối u sinh học – kích thước, vị trí, giai đoạn.
• „Gốc”: TÁC-Ý ĐANG hiện hành „nghịch“, dẫn đến “lệch“ khỏi trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung).
Vì thế:
• Điều trị “CÀNH” chỉ có thể làm thay đổi hiện tượng sinh học.
• “GỐC” chỉ được LÀM MỚI khi TÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI.
V. Di căn ví như DI CƯ theo lộ trình đã mở bởi TÁC-Ý
Trong y học triệu chứng, di căn được mô tả như sự lan truyền tế bào ung thư qua máu và bạch huyết.
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, di căn được hiểu là:
sự luân chuyển của cùng một tiến trình do TÁC-Ý ĐANG hiện hành và NĂNG ĐANG có mặt.
Khi trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung) đã lệch trong thời gian dài, biểu hiện nơi THÂN không dừng ở một vị trí. Cho nên di căn không phải một “sự kiện mới”, mà là sự mở rộng của cùng một lộ trình đã được xác lập trước đó.
Thuật ngữ “di cư” được dùng ở đây để chỉ:
sự vận động của biểu hiện sinh học theo một hướng đã được thiết lập trong thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung) bị “lệch” (illogical).
VI. TÁC-Ý MỚI ĐANG hiện hành: điểm “định hướng lộ trình MỚI” (không hủy – không kháng – không chặn)
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.®, nach NGOs, LÀM MỚI lộ trình sống không được hiểu như:
• hủy tế bào,
• tạo một cuộc đối kháng nội tại,
• chống lại hoặc chặn đứng cơ chế sinh học,
TÁC-Ý MỚI ĐANG hiện hành là điểm “định hướng lộ trình MỚI” trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung). Khi TÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI:
• NĂNG tự biến đổi cường độ,
• tiến trình vận hành sinh học biểu hiện tương ứng,
• lộ trình đã mở trước đó không còn được tiếp tục, vì hướng MỚI ĐANG hiện hành.
“Định hướng lộ trình MỚI” không mang nghĩa cưỡng chế, mà là không tiếp tục cung cấp điều kiện để duy trì lối cũ. Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, điều trị không bắt đầu từ THÂN, mà bằng kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH để nhận biết chính xác:
TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh ĐANG xảy ra trên hoặc bên trong THÂN.
Sau đó, TÁC-Ý ĐANG hiện hành gây bệnh được LÀM MỚI, gọi là lập trình (program) thông tin (messenger) TÁC-Ý MỚI „mPERG/News“. Qua kỹ thuật Kích hoạt Não bộ (Brain Stimulation) „PERG-BS“, nội dung lập trình này được cài đặt vào não bộ nhằm hình thành những thần kinh MỚI (new neurons) làm điểm “định hướng lộ trình MỚI” THUẬN với trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung).
Các kỹ thuật chuyên biệt này của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs được thực hiệntheo trình tự 4-Y (Four Medicines): Y-LÝ (Medical Theory) – Y-HỌC (Medical Science) – Y-THUẬT (Medical Technique) – Y-HÀNH (Medical Practice).
Hai kỹ thuật:
• Kích hoạt Não bộ (Brain Stimulation) „PERG-BS“ dùng để cài đặt nội dung đã lập trình;
• lập trình (program) thông tin (messenger) TÁC-Ý MỚI „mPERG/News“;
thuộc về Y-THUẬT trong 4-Y.
CHƯƠNG D – Kết Luận và Cảm Nhận
I. Kết luận khoa học – lâm sàng: CÀNH và GỐC
Trong toàn bộ Biên khảo luận này, ung thư được trình bày theo hai hệ quy chiếu:
• Theo y học triệu chứng, ung thư là một bệnh lý có sự tăng sinh tế bào mất kiểm soát (apoptosis); khối u, di căn, đáp ứng điều trị và biến cố sinh học là các mốc chính của tiến trình bệnh.
• Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, ung thư được hiểu như biểu hiện cuối của một quá trình TÁC-Ý đang hiện hành ĐÃ và ĐANG hiện hành lệch khỏi trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung), qua cấu trúc 4-TRỤ:
TÂM (Life Data Bank) – TÁC-Ý (Presently, continuously operating will) – NĂNG (psycho-energetic intensity, level of Psyche or Psychiatry) – THÂN (Soma – level of Body or Psyche)
Qua đó:
Khối u được hiểu và ví như CÀNH.
Còn TÁC-Ý ĐANG hiện hành „lệch“ sinh khối u được ví như GỐC.
Điều trị CÀNH có thể làm thay đổi biểu hiện sinh học. Nhưng „làm mới“ GỐC là điểm định hướng một lộ trình MỚI cho cuộc sống. Hai cách tiếp cận này không loại trừ nhau, nhưng không trùng nhau về đểm can thiệp. Mỗi hệ quy chiếu có điểm can thiệp khác nhau.
Việc phân biệt rõ CÀNH và GỐC là điểm mấu chốt của toàn bộ Biên khảo luận này.
II. Kết luận sống: quyền làm chủ TÁC-Ý ĐANG hiện hành và trách nhiệm sống
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs:
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành là điểm định hướng ngay trong khoảnh khắc ĐANG LÀ (the present moment).
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành không phải khẩu hiệu tích cực;
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành là điểm định hướng ĐANG là (just moment).
Khi TÁC-Ý thuận (logic) với trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic Wirk-Ordnung) của dòng sống, tiến trình có tính liên tục. Khi TÁC-Ý nghịch hoặc lệch (illogic) khỏi trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành này, thì NĂNG và THÂN bắt buộc chịu ảnh hưởng tương ứng.
Điều này đặt ra một điểm rất căn bản:
Con người không chỉ là đối tượng điều trị, mà là chủ thể ĐANG định hướng sự vận hành của một tiến trình sống. Và quyền làm chủ TÁC-Ý ĐANG hiện hành đồng thời cũng là trách nhiệm sống. Trách nhiệm này không mang nghĩa đạo đức, mà là trách nhiệm nhận biết mình TÁC-Ý ĐANG hiện hành của mình đang theo lộ trình nào.
III. Cảm nhận
Có những cơn mưa rơi trên mặt đất đã khô từ lâu. Nếu chỉ nhìn vào những giọt nước, người ta thấy mặt đất ướt. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, mưa không phải bắt đầu từ mặt đất.
Nó bắt đầu từ một quá trình vận hành liên tục trong bầu khí quyển.
Ung thư cũng vậy.
Khối u không xuất hiện trong một khoảnh khắc. Nó là điểm cuối của một chuỗi vận hành ĐANG diễn ra âm thầm. P.E.R.G.® nach NGOs không đứng dưới mưa để trách giọt nước, mà nhìn vào quá trình hình thành của cơn mưa. Khi quá trình tạo mưa được nhìn nhận trong trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành, sự việc không còn được nhìn như một điều bất ngờ hay ngẫu nhiên, mà như biểu hiện của một tiến trình ĐÃ và ĐANG diễn ra liên tục.
IV. Chân ngôn bất biến của TÁC- Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
• „TÁC-Ý ĐANG hiện hành thế nào – HỌ như thế ấy“.
EN: „As the presently and continuously operating will is, so is the person.“
DE: „Wie der gegenwärtig fortlaufend wirkende Wille ist, so ist die Person.“
• “TÁC-Ý ĐANG hiện hành ở đâu – ĐANG sống nơi đó.”
EN “Where the presently and continuously operating will is active, there life unfolds.
DE; “Wo der gegenwärtig fortlaufend wirkende Wille aktiv ist, findet das Leben statt.”
Cho nên,
• Ung thư chỉ là một bệnh cảnh (cành);
• Còn TÁC-Ý ĐANG hiện hành THUẬN (logic) hay NGHỊCH (illogic) với trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logic WIRK-Ordnung) của dòng sống mới là nền (gốc).
Kính chúc Đức Giáo Hoàng Lêô XIV thân tâm an lành, vững bước trong mục vụ và luôn được nâng đỡ bởi tình thương của mọi người.
EN: May Pope Leo XIV be blessed with well-being in body and spirit, steadfastness in his mission, and the sustaining love of all.
DE: Möge Papst Leo XIV. mit Wohlergehen an Leib und Seele gesegnet sein, in seiner Sendung standhaft bleiben und stets von der Liebe aller getragen werden.
CHƯƠNG E – Phụ Lục
I. Thuật ngữ theo nội dung
Cắt thùy phổi: phẫu thuật lấy bỏ một thùy phổi (lobectomy / Lobektomie).
Chăm sóc giảm nhẹ: chăm sóc nhằm giảm đau khổ và cải thiện chất lượng sống trong bệnh nặng (palliative care / Palliativversorgung).
Dấu ấn sinh học: đặc điểm đo được giúp nhận diện bệnh hoặc định hướng điều trị (biomarker / Biomarker).
Di căn: sự lan của ung thư từ nơi khởi phát đến vị trí khác (metastasis / Metastase).
Điều trị nhắm trúng đích: điều trị tác động vào đặc điểm phân tử cụ thể có liên quan đến ung thư (targeted therapy / zielgerichtete Therapie).
Đột biến: thay đổi trong trình tự vật chất di truyền (mutation / Mutation).
Miễn dịch trị liệu: điều trị giúp hệ miễn dịch chống lại ung thư (immunotherapy / Immuntherapie).
Mô bệnh học: khảo sát mô để nhận diện những biến đổi bệnh lý (histopathology / Histopathologie).
Nốt phổi: tổn thương dạng nốt được phát hiện ở phổi; tên gọi này chưa xác định lành tính hay ác tính (pulmonary nodule / Lungenrundherd).
Phơi nhiễm: sự tiếp xúc của cơ thể với một tác nhân (exposure / Exposition).
Sinh thiết: lấy mẫu mô hoặc tế bào để xét nghiệm (biopsy / Biopsie).
Tái phát: bệnh xuất hiện trở lại sau một thời gian được kiểm soát hoặc không còn phát hiện (recurrence / Rezidiv).
Tầm soát: tìm dấu hiệu bệnh trong nhóm người chưa có triệu chứng (screening / Früherkennungsuntersuchung).
Tỷ lệ sống tương đối: tỷ lệ sống quan sát được ở nhóm người bệnh chia cho tỷ lệ sống kỳ vọng ở nhóm dân số có đặc điểm tương ứng, trong cùng khoảng thời gian (relative survival / relatives Überleben).
Tỷ suất chuẩn hóa theo tuổi: tỷ suất đã điều chỉnh theo một cấu trúc tuổi chuẩn để hỗ trợ so sánh (age-standardized rate / altersstandardisierte Rate).
Tỷ suất mắc mới: số ca mắc mới tính trên một quy mô dân số trong một khoảng thời gian xác định, thường biểu thị bằng số ca trên 100.000 người mỗi năm (incidence rate / Inzidenzrate).
Ung thư biểu mô tuyến phổi: thể ung thư phổi có đặc điểm biệt hóa tuyến (lung adenocarcinoma / Adenokarzinom der Lunge).
Ung thư phổi không tế bào nhỏ: nhóm ung thư gồm nhiều thể bệnh, trong đó có ung thư biểu mô tuyến (non-small cell lung cancer / nichtkleinzelliges Lungenkarzinom).
Ung thư phổi nguyên phát: ung thư bắt đầu từ tế bào tại phổi (primary lung cancer / primärer Lungenkrebs).
Ung thư phổi tế bào nhỏ: nhóm ung thư có đặc điểm tế bào nhỏ và thường diễn tiến nhanh (small cell lung cancer / kleinzelliges Lungenkarzinom).
Yếu tố nguy cơ: đặc điểm hoặc sự phơi nhiễm làm tăng khả năng mắc bệnh (risk factor / Risikofaktor).
II. Thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
| 4-TRỤ: Four Pillars / Vier Säulen
1. TÂM: Kho Dữ liệu Sống / Life Data Bank / Lebens-Daten-Bank
• Bản chất của TÂM là „ba KHÔNG“ gồm: „không TRI“ – „không THỨC“ – „không GIÁC“: The essence of TÂM consists of the “Three NOTs”: “no Recognition” – “no Consciousness” – “no Awareness” / Das Wesen des TÂM besteht aus den „Drei NICHTs“: „kein Erkennen“ – „kein Bewusstsein“ – „kein Gewahrsein“
| TÂM-THỂ: Psyche–Soma (psychosomatic) / Psyche–Soma (psychosomatisch)
2. TÁC-Ý: Presently, continuously operating will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
• Đang hiện hành: Presently, continuously operating / gegenwärtig fortlaufend wirkend
• TÁC-Ý đang hiện hành: Presently, continuously operating Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
• TÁC-Ý đang hiện hành gây bệnh: Presently continuously operating disease-causing Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender krankheitsverursachender Wille.
• TÁC-Ý Học: TÁC-Ý-Science / TÁC-Ý-Kunde
| LÀM MỚI TÁC-Ý: Renewal of TÁC-Ý / Erneuerung der TÁC-Ý
| „TÁC-Ý ĐANG hiện hành thế nào – HỌ như thế ấy“.
EN: „As the presently and continuously operating will is, so is the person.“
DE: „Wie der gegenwärtig fortlaufend wirkende Wille ist, so ist die Person.“
| “TÁC-Ý ĐANG hiện hành ở đâu – ĐANG sống nơi đó.”
EN “Where the presently and continuously operating will is active, there life unfolds.
DE; “Wo der gegenwärtig fortlaufend wirkende Wille aktiv ist, findet das Leben statt.”
3. NĂNG: psycho-energetic intensity, level of Psyche or Psychiatry / psycho-energetische Intensität (Ebene der Psyche oder Psychiatrie).
• Đang có mặt: Presently, continuously appearing / gegenwärtig fortlaufend erscheinend
4. THÂN: Soma (level of Body or Psyche) / Soma (Ebene von Körper oder Psyche).
• Đang xảy ra: Presently, continuously happening / gegenwärtig fortlaufend geschehend.
• NƠI đang xảy ra: Location where something is presently and continuously happening / Ort des gegenwärtig fortlaufend Geschehenden
| Bệnh TÂM–THỂ: psychosomatic diseases / psyxchosomatische Erkrankungen
| 3-CHẨN: Three Diagnoses / Drei Diagnosen
1. SƠ Chẩn: Initial Diagnosis / ERST-Diagnose
2. TIỀN Chẩn: Preliminary Diagnosis / VOR-Diagnose
3. CHÁNH Chẩn: Main Diagnosis / HAUPT-Diagnose
| CHẨN–ĐỊNH–TRỊ: Diagnosis – Indication Assessment – Therapy / Diagnostik–Indikationsstellung–Therapie
| 4-Y: Four Medicines / Vier Medizinen
1. Y-LÝ: Medical Theory / medizinische Theorie
2. Y-HỌC: Medical Science / medizinische Lehre
3. Y-THUẬT: Medical Technique / medizinische Technik
4. Y-HÀNH: Medical Practice / medizinische Praxis
gồm ba HÀNH: TỰ nhận biết (self-awarenes) – TỰ thực hiện (self-practice) – TỰ LÀM MỚI (self-renewal),
| Logic WIRK-Ordnung: Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành: Logical-natural presently continuously operating order / Logisch-natürliche gegenwärtig fortlaufend wirkende Ordnung
| Ý an – NĂNG ổn – THÂN bình: TÁC-Ý at ease · NĂNG stable · THÂN balanced / TÁC-Ý in Ruhe · NĂNG stabil · THÂN ausgeglichen
| Ý Như Vạn Sự: TÁC-Ý corresponds to all things as they are (positive) / TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind (positiv)
| Vạn Sự Như Ý: All things correspond to TÁC-Ý as it is (negative) / Alle Dinge entsprechen der TÁC-Ý so, wie sie ist (negativ)
| Nguyên lý Ba W: Principle of the Three Ws: Where – How – What / Prinzip der drei Ws: WO – WIE – WAS
| Nguyên lý INPUT–OUTPUT: INPUT–OUTPUT Principle / INPUT–OUTPUT-Prinzip
III. Danh mục chữ viết tắt
YHTC: Y học triệu chứng (symptom-oriented medicine / symptomorientierte Medizin)
WHO: Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization / Weltgesundheitsorganisation).
IARC: Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (International Agency for Research on Cancer / Internationale Agentur für Krebsforschung).
NCI: Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute / Nationales Krebsinstitut der USA).
SEER: Chương trình Giám sát, Dịch tễ học và Kết quả cuối cùng của Hoa Kỳ (Surveillance, Epidemiology, and End Results / Programm zur Überwachung, Epidemiologie und Erfassung von Endergebnissen).
GLOBOCAN: Cơ sở dữ liệu ước tính gánh nặng ung thư toàn cầu của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (Global Cancer Observatory: Cancer Today / Globales Krebsobservatorium: Krebs heute).
IV. Dữ liệu và số liệu tham khảo
Toàn cầu, năm 2024: 2.637.005 ca mắc mới; 1.861.839 ca tử vong. Phạm vi: nhóm khí quản, phế quản và phổi, cả hai giới, mọi lứa tuổi. Nguồn GLOBOCAN 2024, bảng công bố ngày 08.07.2026. [6]
Toàn cầu, năm 2022: tỷ trọng ung thư biểu mô tuyến trong ung thư phổi là 45,6% ở nam và 59,7% ở nữ. Đây là cơ cấu thể bệnh, không phải nguy cơ mắc của toàn bộ nam giới hay nữ giới. [7]
Đức, năm 2022: 56.577 ca mắc mới, gồm 23.655 nữ và 32.922 nam. Không so sánh trực tiếp số ca này với tỷ suất trên dân số. [8]
Hoa Kỳ, SEER 2016–2022: tỷ lệ sống tương đối sau năm năm khi ung thư còn giới hạn tại nơi khởi phát là 65,5%; lan vùng 38,2%; di căn xa 10,5%. Dữ liệu chung cho ung thư phổi và phế quản, không phải tiên lượng riêng cho Giáo hoàng Lêô XIV. [17]
V. Mốc thời gian của trường hợp Giáo hoàng Lêô XIV
11.10.2026: công bố phát hiện nốt phổi và quyết định phẫu thuật. [18]
13.10.2026: phẫu thuật cắt thùy dưới phổi phải; xét nghiệm mô trong mổ xác nhận ung thư biểu mô tuyến. [1]
14.10.2026: công bố thông tin hồi phục ban đầu và tiếp tục xét nghiệm mô sau mổ. [19, 20]
VI. Nguồn và tài liệu tham khảo
Các nguồn dưới đây được truy cập ngày 14.10.2026 và rà soát lại ngày 16.10.2026. Số trong ngoặc vuông ở cuối đoạn dẫn đến mục tương ứng. Số liệu được giữ theo năm nghiên cứu hoặc năm thống kê, không đồng nhất với ngày truy cập.
[1] Vatican News. Pope Leo XIV undergoes successful lung surgery. 13.10.2026.
[2] NCI. Non-Small Cell Lung Cancer Treatment (PDQ), Patient Version.
[3] NCI. Lung Cancer Screening (PDQ), Patient Version.
[4] NCI. What Is Cancer?
[5] WHO. Lung cancer. 16.04.2026.
[6] IARC. Global Cancer Observatory: GLOBOCAN 2024. Lung fact sheet. 08.07.2026.
Nhấp để truy cập 15-trachea-bronchus-and-lung-fact-sheet.pdf
[7] IARC. Global lung cancer incidence according to subtype: new study highlights rising adenocarcinoma rates linked to air pollution. 03.02.2025. Nghiên cứu dữ liệu năm 2022.
[8] Trung tâm Dữ liệu Đăng ký Ung thư, Viện Robert Koch. Lungenkrebs. Số liệu năm 2022. https://www.krebsdaten.de/Krebs/DE/Content/Krebsarten/Lungenkrebs/lungenkrebs_node.html
[9] NCI. NIH study illuminates lung cancer origins in never smokers. 2021.
[10] Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ. What Causes Lung Cancer?
[11] NCI. Lung Cancer Prevention (PDQ), Health Professional Version.
[12] NCI. Stress and Cancer.
[13] NCI. Non-Small Cell Lung Cancer Treatment (PDQ), Health Professional Version.
[14] NCI. Targeted Therapy to Treat Cancer.
[15] NCI. Immunotherapy to Treat Cancer.
[16] NCI. Palliative Care in Cancer.
[17] NCI, SEER. Cancer Stat Facts: Lung and Bronchus Cancer. Dữ liệu sống còn 2016–2022.
[18] Vatican News. Pope Leo: I will undergo surgery soon to remove nodule in my lung. 11.10.2026.
[19] Vatican News. Pope Leo has calm night in hospital after successful lung surgery. 14.10.2026.
[20] Reuters. Pope Leo back on his feet after shock cancer diagnosis. 14.10.2026.
[21] Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ. Surgery for Non-Small Cell Lung Cancer.
[22] Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ. Treatment Choices for Non-small Cell Lung Cancer, by Stage.
Hoàn tất thứ SÁU ngày 16.10.2026
© Ngoc-Diep NGO | All rights Reserved
Ghi chú:
1. Nội dung CHƯƠNG A, B và một phần của E được hình thành từ những dữ liệu do ChatGPT cung cấp.
2. CHƯƠNG C và D cùng những thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs do nhà sáng lập Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs thực hiện.
3. Minh họa do AI tạo.


Bình luận