GIÁM ĐỊNH LUẬN: Vị Trí Pháp Lý, Quyền Sở Hữu Trí Tuệ và Quyền Sử Dụng Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs Trong Hoạt Động Quảng Bá, Truyền Thông và Thực Hành


DẪN NHẬP
Trong thời gian gần đây, một thực tế đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn, đó là việc danh xưng P.E.R.G.® được sử dụng trong nhiều hoạt động quảng bá, truyền thông, giới thiệu dịch vụ, tư vấn sức khỏe, video mạng xã hội, bài viết chuyên môn, hội thảo trực tuyến và nhiều hình thức thực hành khác liên quan đến lĩnh vực sức khỏe tâm thần, tâm lý học, trị liệu và phát triển bản thân.

Nhân duyên trực tiếp dẫn đến việc thực hiện giám định luận này xuất phát từ một video được công bố trên mạng xã hội mang chủ đề “Sự thật về cơn hoảng loạn mà không ai nói cho bạn biết”.

Trong nội dung video, người trình bày giải thích nguyên nhân hình thành cơn hoảng loạn, mô tả cơ chế vận hành của hiện tượng này trong đời sống tâm thần và đồng thời giới thiệu P.E.R.G.® như một phương pháp hỗ trợ điều trị các rối loạn tâm thần liên quan.

Thoạt nhìn, thì việc sử dụng tên gọi P.E.R.G.® trong các hoạt động truyền thông có thể được hiểu như một hỗ trợ phổ biến kiến thức và mở rộng khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với nhiều phương pháp hỗ trợ sức khỏe.

Tuy nhiên, khi một danh xưng đã được đăng ký bảo hộ pháp lý và đồng thời sở hữu trí tuệ gắn liền với một hệ học thuật xác định, thì câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là người trình bày đang nói gì, mà quan trọng hơn là họ đang quy chiếu vào hệ nào để trình bày, đang sử dụng cơ sở học thuật nào để giải thích chủ đề đang nói đến, và nội dung đó có thực sự tương ứng với học thuyết, nguyên lý, thuật ngữ và phạm vi hành hoạt của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs hay không.

Chính từ câu hỏi này mà nhu cầu khảo sát, đối chiếu và giám định trở nên cần thiết.

Bởi lẽ, trong lãnh vực truyền thông hiện nay, không hiếm trường hợp một danh xưng được sử dụng để giới thiệu một nội dung hoàn toàn khác với nền tảng học thuật đã tạo ra danh xưng đó. Khi điều này xảy ra, người xem, người học, người bệnh hoặc công chúng nói chung rất dễ có một sự hiểu lầm dẫn đến việc đồng nhất giữa tên gọi và nội dung được trình bày, mặc dù trên thực tế hai phạm trù đó hoàn toàn không tương ứng với nhau.

Đối với Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs, vấn đề này càng cần được làm rõ hơn bởi từ khi được bảo hộ pháp lý và sở hữu trí tuệ vào ngày 11.06.2012 đến nay, P.E.R.G.® nach NGOs không chỉ là tên gọi của một phương pháp thực hành, mà còn là danh xưng gắn liền với một hệ thống nhận biết, một hệ học thuật và một nền tảng khảo sát độc lập đã được định hình trong quá trình sáng lập và phát triển TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

Giám Định Luận này không phê phán cá nhân, tổ chức hay bất kỳ hoạt động truyền thông nào, mà nhằm nhận biết một cách khách quan xem nội dung đang được trình bày dưới danh xưng P.E.R.G.® nach NGOs thực chất đang sử dụng nền tảng học thuật nào để tiếp cận đối tượng khảo sát và giải thích nguyên nhân dẫn đến triệu chứng cũng như cách  can thiệp như thế nào.

Từ đó có thể xác định được mối tương ứng giữa nội dung được truyền thông với nội hàm học thuật của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs cùng những điểm khác biệt, những nguy cơ nhầm lẫn có thể phát sinh. Từ đó, những khuyến nghị cần được thiết lập nhằm bảo đảm tính chính xác học thuật, tính minh bạch chuyên môn cũng như tính rõ ràng pháp lý và sở hữu trí tuệ đối với việc sử dụng danh xưng P.E.R.G.® nach NGOs dưới mọi hình thức quảng bá, truyền thông và thực hành.

MỤC LỤC
DẪN NHẬP

CHƯƠNG A – Cơ Sở Pháp Lý Và Chủ Thể Sở Hữu P.E.R.G.® nach NGOs

CHƯƠNG B – Đặc Tính Độc Lập Của TÁC-Ý HỌC P.E.R.G.® nach NGOs Theo Nền Tảng 4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y
I. Nền tảng thứ nhất là 4-TRỤ.
II. Nền tảng thứ hai là 3-CHẨN.
III. Nền tảng thứ ba là 4-Y.

CHƯƠNG C – Trường Hợp Minh Họa Từ Video Truyền Thông Về Triệu Chứng Hoảng Loạn
I. Tóm tắt nội dung video “Sự thật về cơn hoảng loạn mà không ai nói cho bạn biết”
II. Xác định học thuật được trình bày trong Video
III. Đối chiếu với TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs
IV. Nhận định về mức độ tương ứng và không tương ứng
V. Chương trình đào tạo và tài liệu giảng dạy
VI. Bảng đối chiếu các phương pháp xuất hiện trong video theo 4-TRỤ TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs

CHƯƠNG D – Những Đề Nghị
I. Tránh nhầm lẫn giữa danh xưng và nội dung học thuật.
II. Tránh nhầm lẫn giữa công cụ và hệ thống
III. Tránh nhầm lẫn giữa triệu chứng và căn nguyên khảo sát
IV. Tránh nhầm lẫn giữa ứng dụng cá nhân và hệ thống học thuật chính quy.

V. Tránh nhầm lẫn giữa quyền ứng dụng và quyền đại diện học thuật.
VI. Tránh nhầm lẫn giữa sử dụng danh xưng và quyền sở hữu trí tuệ

CHƯƠNG E – Kết Luận

CHƯƠNG F – PHỤ LỤC
I. Tài liệu pháp lý liên quan đến P.E.R.G.® nach NGOs
II. Tài liệu tham khảo về sở hữu trí tuệ và nhãn hiệu
III. Glossar [A-Z | VN – EN – DE]

* * *

CHƯƠNG A
Cơ Sở Pháp Lý Và Chủ Thể Sở Hữu P.E.R.G.® nach NGOs

Khi khảo sát việc sử dụng danh xưng P.E.R.G.® trong truyền thông, quảng bá hay thực hành thì điều trước tiên là việc xác định rõ tính cách pháp lý của P.E.R.G.®, sở hữu trí tuệ của ai và đang được bảo hộ dưới hình thức nào.

Đây là điểm thường xuyên bị hiểu lầm không chỉ tại Việt Nam mà ngay cả tại nhiều quốc gia khác. Nhiều người khi nhìn thấy ký hiệu ® phía sau một tên gọi thường cho rằng đó là một bằng phát minh hoặc một sáng kiến khoa học đã được cơ quan nhà nước công nhận là một phát minh mới của nhân loại.

Trên thực tế, hai lãnh vực này hoàn toàn khác nhau.

Ngày 11.06.2012, Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Đức (Deutsches Patent- und Markenamt – DPMA) đã cấp chứng nhận bảo hộ danh xưng Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs – viết tắt là P.E.R.G.® nach NGOs hay P.E.R.G.® với số đăng ký 30 2012 025 325.

Điều cần được hiểu rõ là DPMA đồng thời là cơ quan quản lý nhiều lĩnh vực khác nhau của sở hữu trí tuệ. Trong cùng một cơ quan có thể đồng thời tồn tại các thủ tục liên quan đến sáng chế (Patent), giải pháp hữu ích (Gebrauchsmuster), kiểu dáng (Design) và nhãn hiệu (Marke). Vì vậy việc một hồ sơ được cấp chứng nhận bảo hộ không đồng nghĩa với việc hồ sơ đó được công nhận là sáng chế.

Đối với P.E.R.G.® nach NGOs, chứng nhận được cấp thuộc phạm vi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ (eingetragene Marke). Điều này có nghĩa rằng nhà nước Đức xác nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với tên gọi P.E.R.G.® nach NGOs trong những lĩnh vực đã được đăng ký và bảo hộ, chứ không phải là xác nhận đây là một phát minh kỹ thuật theo nghĩa của Luật Sáng chế.

Nói cách khác, DPMA không thẩm định P.E.R.G.® nach NGOs theo tiêu chuẩn của một phát minh kỹ thuật mới, không đánh giá tính mới kỹ thuật, không đánh giá trình độ sáng tạo kỹ thuật và cũng không đánh giá khả năng áp dụng công nghiệp như đối với một bằng sáng chế.

Ngược lại, DPMA xác nhận rằng danh xưng P.E.R.G.® nach NGOs đáp ứng các điều kiện để được bảo hộ như một tài sản sở hữu trí tuệ thuộc lĩnh vực nhãn hiệu và được quyền sử dụng độc quyền trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ đã đăng ký.

Theo chứng nhận bảo hộ ngày 11.06.2012, phạm vi bảo hộ của P.E.R.G.® nach NGOs được xác định thông qua Danh mục Hàng hóa và Dịch vụ (Verzeichnis der Waren und Dienstleistungen) thuộc các nhóm đã được đăng ký, gồm

. Nhóm 05 liên quan đến các sản phẩm và tài liệu phục vụ mục đích sức khỏe.
. Nhóm 41 liên quan đến hoạt động đào tạo, giảng dạy, huấn luyện, hội thảo, truyền đạt kiến thức và các hoạt động giáo dục chuyên môn.
. Nhóm 44 liên quan đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tư vấn, hỗ trợ trị liệu và các hoạt động thực hành chuyên môn thuộc phạm vi được đăng ký.

Chính ba nhóm được bảo hộ này tạo nên cơ sở pháp lý xác định phạm vi sử dụng hợp pháp của danh xưng P.E.R.G.® nach NGOs.

Điều này cũng đồng thời giải thích vì sao việc sử dụng tên gọi P.E.R.G.® trong các video truyền thông, các chương trình đào tạo, các bài viết chuyên môn, các hoạt động quảng bá dịch vụ hay trong thực hành chuyên môn không chỉ là vấn đề ngôn ngữ hay truyền thông đơn thuần, mà còn liên quan trực tiếp đến pháp lý và quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Khi một danh xưng đã được pháp luật bảo hộ, thì việc sử dụng danh xưng đó cần bảo đảm rằng nội dung được giới thiệu phải tương ứng với nền tảng lý thuyết và chuyên môn gắn liền với danh xưng ấy. Nếu danh xưng được sử dụng để trình bày một hệ thống khác, một nền tảng học thuật khác, một học thuyết khác hoặc một phương pháp khác thì nguy cơ nhầm lẫn học thuật và pháp lý là điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Chính vì vậy, trọng tâm Giám Định Luận này là xác định nội dung đang được truyền thông bằng mọi hình thức dưới danh xưng P.E.R.G.® có thực sự tương ứng với học thuật và kỹ thuật của liệu pháp Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs hay không.

Vấn đề này càng trở nên có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay khi quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được quan tâm trên phạm vi quốc tế. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng liên tục được hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sáng tạo, các chủ sở hữu nhãn hiệu, các tổ chức đào tạo và các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên môn.

Do đó, việc xác định rõ tư cách pháp lý và sở hữu trí tuệ của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs ngay từ đầu không chỉ giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc, mà còn tạo cơ sở khách quan cho việc khảo sát các nội dung truyền thông, quảng bá và thực hành sử dụng danh xưng P.E.R.G.® có tương ứng với những nội dung được khảo sát trong các phần tiếp theo của Giám Định Luận này hay không.


CHƯƠNG B
Đặc Tính Độc Lập Của TÁC-Ý HỌC P.E.R.G.® nach NGOs Theo Nền Tảng 4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y

Để có thể khảo sát mức độ tương ứng giữa các nội dung truyền thông, quảng bá hay thực hành đang sử dụng danh xưng P.E.R.G.®, trước hết cần xác định nền tảng học thuật gốc của P.E.R.G.® nach NGOs là gì.

P.E.R.G.® nach NGOs là nhãn hiệu đã được đăng ký và bảo hộ tại Cộng hòa Liên bang Đức từ ngày 11.06.2012.

Tên đầy đủ của phương pháp là Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt theo NGOs (Psychosomatische Energetische Reflexzonentherapie am Gesicht P.E.R.G.® nach NGOs) – viết tắt là P.E.R.G.® nach NGOs hoặc P.E.R.G.®

Chủ sở hữu nhãn hiệu là Ngô Ngọc Diệp.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn P.E.R.G.® như một phương pháp phản xạ trên mặt, một phương pháp thư giãn bằng năng lượng, một phương pháp vật lý tác động cơ thể hay một cách hỗ trợ tâm lý thì không hoàn toàn phản ánh đầy đủ bản chất của liệu pháp này. Vì thế:

. P.E.R.G.® nach NGOs không chỉ là một tên gọi.
. P.E.R.G.® nach NGOs cũng không chỉ là một kỹ thuật.
. P.E.R.G.® nach NGOs lại càng không chỉ là một số thao tác vật lý hay những lời tư vấn hỗ trợ tâm lý được sử dụng thực hành một cách riêng lẻ.

Mà P.E.R.G.® nach NGOs là một hệ thống độc lập bao gồm nền tảng nhận biết về y lý – y học – y thuật và y hành cũng như thuật ngữ chuyên môn đặc biệt, có quy trình riêng biệt về khảo sát, định-chẩn, thực hành, giáo trình đào tạo và phương pháp ứng dụng riêng đã được sáng lập và phát triển trong suốt quá trình tật bệnh của bản thân, học hỏi, nghiên cứu, giảng dạy và thực hành của tác giả.

Điều cần biết thêm rằng, trong quá trình sáng lập, hình thành và hành hoạt của P.E.R.G.® nach NGOs sở hữu chủ đã từng học hỏi, thực hành, áp dụng nhiều phương pháp, sử dụng nhiều phương tiện nên có nhiều kinh nghiệm lâm sàng với những phương pháp như phản xạ trên mặt, năng lượng học, ngũ hành kinh dịch, trắc nghiệm cơ bắp, tứ niệm xứ của Phật giáo, những thủ thuật thao tác kích hoạt não bộ, các phương tiện quan sát lâm sàng cũng như nhiều kỹ thuật vật lý trị liệu và tâm lý thực hành khác.

Tuy nhiên, các điều này chỉ là những phương tiện, công cụ được tích hợp và biến đổi thích nghi cho việc sử dụng các nền tảng học thuật và y thuật của P.E.R.G.® nach NGOs.

Cho nên, những phương tiện đó tự chúng không phải là P.E.R.G.® nach NGOs.

Ví như bánh xe không phải là chiếc xe. Động cơ không phải là chiếc xe. Vô lăng không phải là chiếc xe.

Do đó, việc đồng nhất các công cụ được tích hợp đã được biến chế áp dụng thích nghi toàn bộ nền tảng y lý – y học – y thuật và y hành của P.E.R.G.® nach NGOs là sự nhầm lẫn đáng kể giữa phương tiện và hệ thống, giữa công cụ và học thuyết, giữa bộ phận và tổng thể.

Đặc tính độc lập này là trọng tâm nền tảng căn bản của P.E.R.G.® nach NGOs gồm

4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y.

Ba nền tảng này không thể tồn tại tách rời nhau mà tương tức tương tác lẫn nhau như ba chân của một chiếc vạc đồng. Các ứng dụng can thiệp y tế thiếu một trong ba cơ sở này thì tất cả sự trình bày, cách quảng bá, sử dụng dưới danh xưng P.E.R.G.® tuyệt đối không phải là hệ thống TÁC-Ý học của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt của P.E.R.G.® nach NGOs với cơ sở pháp lý và sở hữu trí tuệ của nó đã được chứng nhận và bảo hộ.

I. Nền tảng thứ nhất là 4-TRỤ.
Đây là hệ y-lý nhận biết dùng để quán chiếu khảo sát mọi trật tự LOGIC vận hành tự nhiên bất tận đang có mặt ở mọi hiện tượng hữu hay vô vi. Bốn TRỤ gồm có

1. TÂM là công cụ ví như cái kho tiếp nhận và tích trữ tất cả dữ liệu sống đã và đang hiện hành. Chức năng kế tiếp của TÂM là cung cấp dữ liệu cho TÁC-Ý định hướng cách đối phó, phản ứng với mọi tình huống đang có mặt. Bản chất của TÂM là „ba không“ gồm: „không TRI“ – „không THỨC“ – „không GIÁC“.
2. TÁC-Ý còn gọi là Ý MUỐN. TÁC-Ý là chủ thể ĐANG hiện hành định hướng tạo tác mọi hiện tượng hữu hay vô vi thông qua dữ liệu từ TÂM.
3. NĂNG là mức độ hay cường độ TÂM LÝ tương ứng TÁC-Ý đang hiện hành.
4. THÂNNƠI xảy ra tất cả những gì tương ứng mức độ hay cường độ của NĂNG đang hiện hành

Theo hệ thống này, mọi hiện tượng đang xảy ra đều được khảo sát theo trình tự TÁC-Ý đang là dẫn đến NĂNG đang là và THÂN đang là.

Điểm khác biệt của nền tảng này đối với tất cả các hệ khác là không bao giờ dừng lại ở triệu chứng hay hiện tượng hữu hình (thân) hay vô hình (tâm-lý) đang xảy ra, mà liên tục quán chiếu truy cập để nhận thấy và biết rõ CÁI GÌ đang hiện hành dẫn đến triệu chứng hay hiện tượng ấy.

Y pháp quán chiếu truy cập để nhận thấy và biết rõ CÁI GÌ này được thực hiện bằng 3-CHẨN

II. Nền tảng thứ hai là 3-CHẨN.
Đây là quy trình khảo sát nhằm xác định TÁC-Ý đang có mặt dẫn đến triệu chứng đang xảy ra ở THÂN. Ba CHẨN gồm có

1. SƠ Chẩn ứng dụng phản xạ trên mặt để loại trừ triệu chứng bệnh THÂN (somatic).
2. TIỀN Chẩn ứng dụng trắc nghiệm cơ bắp để xác định triệu chứng xảy ra ở thân chính xác là bệnh tâm-thể tức là bệnh thân (somatic) do tâm lý (psyche) là NĂNG gây ra.
3. CHÁNH Chẩn ứng dụng trắc nghiệm cơ bắp và ngũ hành xác định TÁC-Ý đang có mặt dẫn đến NĂNG gây ra bệnh xảy ra ở THÂN.

Với quy trình này, mọi tên bệnh hay triệu chứng không phải là điểm đầu mà TÁC-Ý mới là căn nguyên chính của quá trình định-chẩn

III. Nền tảng thứ ba là 4-Y.
Đây là quy trình can thiệp sau khi đã xác định được TÁC-Ý đang hiện hành.

1. Y Lý là nền tảng nhận biết 4-TRỤ
2. Y Học là quy trình thiết lập TÁC-Ý mới
3. Y Thuật là những kỹ thuật thao tác
4. Y Hành là các phương pháp giúp người bị ảnh hưởng có khả năng tự thực hiện y thuật

Trong toàn bộ hệ thống này, Y Thuật chỉ là một phần của toàn bộ quy trình 4-Y.

Các kỹ thuật như kích hoạt não bộ „PERG-BS“ xuyên sọ „tCFS“ (transCranial Finger Stimulation) và xuyên mặt „tFFS“ (transFacial Finger Stimulation) cũng như lập trình TÁC-Ý mới „mPERG/New“ (messenger P.E.R.G.) hay những thao tác hỗ trợ khác đều thuộc phạm vi Y Thuật.

Nếu chỉ sử dụng phần Y thuật mà không có Y Lý, không có Y Học và không có Y Hành thì phần Y thuật này không phải là hệ thống TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs chính quy.

Chính vì vậy, khi khảo sát bất kỳ nội dung của một hệ thống y học nào đang sử dụng danh xưng P.E.R.G.®, thì câu hỏi cần đặt ra không phải là người trình bày có sử dụng từ P.E.R.G.® hay không, mà câu hỏi cần đặt ra là
. nội dung ấy có đang hiện hành trên nền tảng 4-TRỤ hay không?
. cách định bệnh có áp dụng quy trình 3-CHẨN hay không?
. và phương pháp can thiệp có tương ứng với trình tự 4-Y hay không?

Nếu ba tầng nền tảng trên không hiện hành trong nội dung trình bày thì dù danh xưng P.E.R.G.® có được nhắc đến, thì những điều được mô tả hoàn toàn không tương ứng với TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs chính thống.

Vì vậy, trong Giám Định Luận này, ba nền tảng 4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y được sử dụng như hệ quy chiếu chuẩn để đối chiếu, đánh giá và nhận diện mức độ tương ứng giữa nội dung được truyền thông với nền tảng học thuật chính quy của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

CHƯƠNG C
Trường Hợp Minh Họa Từ Video Truyền Thông Về Triệu Chứng Hoảng Loạn

I. Tóm tắt nội dung video
Video với chủ đề “Sự thật về cơn hoảng loạn mà không ai nói cho bạn biết” tập trung giải thích hiện tượng hoảng loạn như một triệu chứng tâm lý và sinh lý thường gặp trong đời sống hiện nay.

Theo nội dung được trình bày, cơn hoảng loạn được hiểu là nó không phải là một nguy hiểm thực sự đối với tính mạng mà là một vòng lặp báo động của cơ thể và hệ thần kinh.

Khi xuất hiện các cảm giác như hồi hộp, khó thở, căng ngực, run rẩy hoặc chóng mặt, não bộ diễn giải những tín hiệu này như một dấu hiệu nguy hiểm, từ đó tiếp tục kích hoạt phản ứng báo động làm tăng các triệu chứng. Người trình bày cho rằng chính sự sợ hãi đối với triệu chứng đang xuất hiện đã góp phần duy trì và khuếch đại cơn hoảng loạn.

Từ nhận định đó, video hướng dẫn người xem không chống lại triệu chứng, không cố gắng loại bỏ cảm giác đang có mặt, thay vào đó học cách quan sát, chấp nhận, thả lỏng cơ thể và chờ hệ thần kinh tự điều hòa trở lại.

Xuyên suốt nội dung video, trọng tâm được đặt vào việc làm giảm cường độ của cơn hoảng loạn thông qua thay đổi cách phản ứng đối với những cảm giác đang xuất hiện nơi cơ thể và tâm lý.

II. Xác định học thuật được trình bày trong Video
Để xác định học thuật được nói đến, điều trước tiên cần khảo sát các ý được lần lượt nêu ra trong Video như

. “Hoảng loạn chỉ là một triệu chứng.”
. “Não hiểu tín hiệu cơ thể là nguy hiểm.”
. “Càng sợ hãi triệu chứng thì cơn hoảng loạn càng tăng lên.”
. “Không chống lại triệu chứng.”
. “Hãy chấp nhận cảm giác đang có mặt.”
. “Ngồi yên và chờ cơn hoảng loạn đi qua.”
. “Tôi đang là cái tôi đã là – Tôi sẽ là cái tôi đang là.”

Khi đối chiếu với các học thuật hiện hành có thể nhận thấy rằng các ý tưởng trên thuộc về ba phương pháp.

1. Liệu pháp nhận thức – hành vi (Cognitive Behavioral Therapy).
Trọng tâm của phương pháp này cho rằng: Não bộ diễn giải sai các tín hiệu cơ thể thành nguy hiểm, từ đó tạo ra lo âu và phản ứng báo động quá mức. Mục tiêu là thay đổi cách diễn giải nhằm làm giảm phản ứng lo âu.
2. Liệu pháp phơi nhiễm nội cảm giác (Interoceptive Exposure).
Phương pháp này cho phép các cảm giác khó chịu xuất hiện, không né tránh, không chống cự và học cách tiếp xúc với chính những cảm giác ấy cho đến khi phản ứng báo động giảm xuống.
3. Phương pháp chánh niệm và chấp nhận (Mindfulness – Acceptance).
Trọng tâm là quan sát những gì đang xuất hiện, không phán xét, không chống lại và chấp nhận trải nghiệm đang có mặt.

Mặc dù ba phương pháp này có sự khác biệt nhất định về luận điểm và kỹ thuật thực hành, nhưng khi đối chiếu với nền tảng 4-TRỤ của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs thì cả ba đều có điểm chung là khảo sát và can thiệp tại tầng NĂNG và THÂN.

Video giải thích vòng lặp:
Triệu chứng cơ thể báo động gây lo âu khiến triệu chứng tăng lên.

Hoặc:
Cảm giác khó chịu làm sợ hãi gây phản ứng báo động khiến cảm giác tăng lên.

Toàn bộ tiến trình này đều đang khảo sát tầng NĂNG và THÂN.
Không có bước khảo sát nào nhằm xác định CÁI GÌ đang hiện hành sinh ra trạng thái NĂNG tương ứng rồi làm cho triệu chứng ở THÂN tăng lên

III. Đối chiếu với TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs
Theo nền tảng của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs, mọi biểu hiện đều được ghi nhận trong hệ thống 4-TRỤ.

. TÂM.
. TÁC-Ý.
. NĂNG.
. THÂN.

Theo quy trình 4-TRỤ, hoảng loạn không phải là điểm bắt đầu của tiến trình khảo sát.
Hoảng loạn chỉ là trạng thái tâm lý ĐANG CÓ MẶT nơi NĂNG dẫn đến triệu chứng tương ứng  ĐANG XẢY RA nơi THÂN.
TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs không đặt trọng tâm vào việc khảo sát và giải thích triệu chứng mà đặt câu hỏi khác.

TÁC-Ý ĐANG hiện hành thế nào?

Bởi theo nền tảng 4-Y của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs:

TÁC-Ý ĐANG hiện hành thế nào, thì
NĂNG ĐANG có mặt như thế,
THÂN ĐANG xảy ra biểu hiện tương ứng.

Do đó, khi khảo sát hoảng loạn, điều được ghi nhận đầu tiên không phải là nhịp tim, hơi thở, adrenaline hay cảm giác lo âu, mà là TÁC-Ý đang hiện hữu dẫn đến trạng thái ấy.

Chính vì vậy, khi việc khảo sát dừng ở NĂNG hoặc THÂN thì đối với TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs vẫn xem đây chỉ là khảo sát phần đang xảy ra.

IV. Nhận định về mức độ tương ứng và không tương ứng
Điểm tương ứng giữa video và TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs là xem trạng thái hoảng loạn như một bệnh tâm-lý dẫn đến nhiều triệu chứng khác nhau ở thân thể cần can thiệp.

Tuy nhiên, điểm không tương ứng là cơ sở luận điểm học thuật.
1. Video đi từ triệu chứng đang có mặt rồi tìm cách giải thích và điều chỉnh vòng lặp của triệu chứng.
2. TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs không bắt đầu từ triệu chứng mà đặt trọng tâm việc định-chẩn bệnh và can thiệp từ trình tự hệ thống 4-TRỤ. Nghĩa là căn nguyên mọi tật bệnh khổ tâm đau thân đều có nguồn từ TÁC-Ý đang hiện hành.

Điều này chính là luận điểm trọng tâm về sự khác biệt hoàn toàn cách khảo sát bệnh chứng của y học triệu chứng là THÂN và tâm lý trị liệu là NĂNG thì vẫn còn vị trí NGỌN chứ chưa phải GỐC bệnh là TÁC-Ý theo TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

Vì thế, nguy cơ nhầm lẫn học thuật có mặt khi hoảng loạn, lo âu, chấp nhận cảm xúc hoặc điều hòa cơ thể ở tầng NGỌN với NĂNG và THÂN đồng nghĩa với việc sử dụng hệ chính quy của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs là tầng GỐC là TÁC-Ý.

Mặt khác, nguy cơ nhầm lẫn pháp lý khi danh xưng P.E.R.G.® được sử dụng để giới thiệu các nội dung không tương ứng với hệ thống học thuật, thuật ngữ, quy trình nhận biết, định-chẩn và ứng dụng của P.E.R.G.® nach NGOs.

Trong trường hợp đó, người xem rất dễ hiểu rằng những nội dung đang được trình bày chính là TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs, trong khi thực chất các phương pháp được sử dụng lại thuộc các trường phái khác.

V. Chương trình đào tạo và tài liệu giảng dạy
Đối với P.E.R.G.® nach NGOs, lĩnh vực đào tạo và giảng dạy cần được nhìn nhận và khảo sát theo đúng thực trạng pháp lý, học thuật và kỹ năng chuyên môn.

Tính đến thời điểm thực hiện Giám Định Luận này, việc đào tạo chính thức về P.E.R.G.® nach NGOs vẫn do chính Giáo sư Ngô Ngọc Diệp, người phát minh và sáng lập Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs trực tiếp đảm nhiệm.

Riêng tại Việt Nam, hiện có một cơ sở được phép ứng dụng P.E.R.G.® nach NGOs là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một Thành viên Ứng Dụng Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs tại Hà Nội do Bác sĩ Giang Vũ điều hành và thực hiện dưới sự giám sát kỹ thuật của Giáo sư Ngô Ngọc Diệp, người phát minh và sáng lập Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs.

Tuy nhiên, việc ứng dụng chuyên môn này không đồng nghĩa với quyền được phép đào tạo, được phép cấp chứng nhận hay hướng dẫn kỹ năng chuyên môn cho người thứ ba hoặc quyền đại diện cho toàn bộ hệ thống TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

Mọi hoạt động đào tạo chính thức, chuẩn hóa học thuật, phát triển giáo trình và xác định nội dung học thuật và chuyên môn của P.E.R.G.® nach NGOs hiện nay vẫn thuộc phạm vi trách nhiệm của Giáo sư Ngô Ngọc Diệp với tư cách là người phát minh, sáng lập và chủ sở hữu nhãn hiệu P.E.R.G.® nach NGOs.

VI. Bảng đối chiếu các phương pháp xuất hiện trong video theo 4-TRỤ TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs

Hệ quy chiếuTrọng tâm khảo sátĐiểm dừng trong 4-TRỤ
Liệu pháp nhận thức – hành viCách diễn giải triệu chứngNĂNG – THÂN
Liệu pháp phơi nhiễm nội cảm giácTiếp xúc với cảm giác cơ thểTHÂN – NĂNG
Chánh niệm và chấp nhậnQuan sát và chấp nhận trải nghiệmNĂNG
TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOsCÁI GÌ đang hiện hành dẫn đến triệu chứng đang xảy raTÁC-Ý

Từ bảng đối chiếu trên, có thể nhận thấy rằng các phương pháp được trình bày trong video chủ yếu khảo sát và can thiệp tầng NĂNG và THÂN.

Vì vậy, câu hỏi chính của video là:
Làm thế nào để cơn hoảng loạn giảm xuống?

Trong khi đó, trọng tâm khảo sát bệnh tật khổ tâm đau thân của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs là:
Hoảng loạn chỉ là những gì đang xảy ra. Vậy TÁC-Ý đang hiện hành như thế nào dẫn đến tâm trạng hoảng loạn ấy?

CHƯƠNG D – Những Đề Nghị
Sau khi khảo sát cơ sở pháp lý và sở hữu trí tuệ của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs, xác định nền tảng học thuật đặc thù của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs và đối chiếu với nội dung truyền thông được khảo sát, có thể nhận thấy rằng một số ngộ nhận học thuật, chuyên môn và pháp lý hoàn toàn có thể phát sinh khi danh xưng P.E.R.G.® được sử dụng trong các hoạt động quảng bá, truyền thông và áp dụng.

Vì vậy, một số đề nghị dưới đây nhằm góp phần hạn chế những nhầm lẫn khả thi có thể xảy ra đối với người tìm hiểu, người sử dụng và công chúng.

I. Tránh nhầm lẫn giữa danh xưng và nội dung học thuật.
Một nội dung được giới thiệu dưới danh xưng P.E.R.G.® không mặc nhiên đồng nghĩa nội dung ấy là nền tảng học thuật hay chuyên môn đặc thù của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

Do đó, khi khảo sát bất kỳ nội dung nào sử dụng danh xưng P.E.R.G.®, điều cần được nhận biết trước tiên không phải là tên gọi được sử dụng, mà là cơ sở học thuật hay chuyên môn đang hiện hành bên trong nội dung ấy.

II. Tránh nhầm lẫn giữa công cụ và hệ thống
Trong quá trình hình thành và phát triển P.E.R.G.® nach NGOs, nhiều phương tiện, kỹ thuật và công cụ khác nhau đã được nghiên cứu, ứng dụng, tích hợp và thích nghi.

Tuy nhiên, các công cụ không đồng nghĩa với toàn bộ hệ thống.

Việc tích hợp sử dụng một kỹ thuật, một phương tiện hoặc một thao tác nào đó không tự động đồng nghĩa với việc đang sử dụng toàn bộ hệ thống TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

III. Tránh nhầm lẫn giữa triệu chứng và căn nguyên khảo sát
Nhiều phương pháp hiện hành khảo sát triệu chứng đang xảy ra nơi thân thể hoặc ở tâm lý.

Trong khi đó, nền tảng khảo sát của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs đặt trọng tâm vào việc nhận biết TÁC-Ý đang hiện hành dẫn đến những điều đang xảy ra đó.

Do đó, việc phát hiện một số điểm tương đồng về kỹ thuật thực hành hoặc cách diễn đạt không có nghĩa rằng các hệ thống học thuật đang khảo sát có cùng một đối tượng nhận biết.

IV. Tránh nhầm lẫn giữa ứng dụng cá nhân và hệ thống học thuật chính quy.
Những kinh nghiệm ứng dụng cá nhân, những diễn giải cá nhân hoặc những phương pháp được kết hợp từ nhiều nguồn khác nhau có thể mang lại những giá trị nhất định.

Tuy nhiên, các ứng dụng cá nhân không mặc nhiên nói lên toàn bộ nền tảng học thuật, thuật ngữ chuyên môn đặc thù, quy trình định-chẩn và phương pháp ứng dụng của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

Việc phân định rõ ràng phạm vi này sẽ giúp hạn chế những ngộ nhận không cần thiết đối với người tiếp cận.

V. Tránh nhầm lẫn giữa quyền ứng dụng và quyền đại diện học thuật.
Việc được phép ứng dụng hoặc thực hành một phương pháp không mặc nhiên đồng nghĩa với quyền đại diện cho toàn bộ hệ thống học thuật, quyền xác lập nội dung đào tạo, quyền chuẩn hóa giáo trình hoặc quyền diễn giải chính thức cho hệ thống đó.

Sự phân định rõ ràng giữa các phạm vi trách nhiệm chuyên môn, học thuật và pháp lý là điều cần thiết nhằm bảo đảm tính minh bạch và tính chính xác trong quá trình truyền thông và ứng dụng.

VI. Tránh nhầm lẫn giữa việc sử dụng danh xưng và quyền sở hữu trí tuệ
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs là một nhãn hiệu đã được đăng ký và được pháp luật bảo hộ.

Do đó, việc sử dụng danh xưng này trong truyền thông, quảng bá hay thực hành cần được đặt trong sự tôn trọng đối với quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng hợp pháp và các quy định pháp lý hiện hành.

Sự minh bạch trong việc sử dụng danh xưng không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, mà còn góp phần bảo vệ quyền được nhận biết chính xác thông tin của người tìm hiểu, người sử dụng và công chúng.

CHƯƠNG E – Kết Luận
Giám Định Luận này được thực hiện nhằm xác định tính tương ứng giữa nội dung truyền thông dưới danh xưng P.E.R.G.® với cơ sở pháp lý, sở hữu trí tuệ và nền tảng học thuật chính quy của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs.

Việc khảo sát tư cách pháp lý của nhãn hiệu P.E.R.G.® nach NGOs, xác định nền tảng học thuật đặc thù của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs trên cơ sở 4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y, đồng thời đối chiếu nội dung video truyền thông được khảo sát giúp nhận thấy rằng nội dung đang được trình bày trong video không được xây dựng trên nền tảng học thuật và chuyên môn đặc thù của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs.

Những luận điểm được sử dụng trong video chủ yếu thuộc các hướng tiếp cận của tâm lý học lâm sàng hiện đại như liệu pháp nhận thức – hành vi, liệu pháp phơi nhiễm nội cảm giác và các phương pháp quan sát – chấp nhận trải nghiệm tâm lý. Trọng tâm khảo sát và can thiệp của các phương pháp này tập trung vào những gì đang xảy ra nơi tâm lý và thân thể.

Trong khi đó, nền tảng khảo sát của TÁC-Ý học P.E.R.G.® nach NGOs không đặt ở những gì đang xảy ra nơi NĂNG và THÂN, mà nhận biết CÁI GÌ đang hiện hành dẫn đến trạng thái ấy. Chính điểm khởi đầu hoàn toàn khác nhau này tạo nên sự khác biệt căn bản giữa hai hệ học thuật.

Vì vậy, việc sử dụng danh xưng P.E.R.G.® trong các hoạt động truyền thông, quảng bá, tìm hiểu hay thực hành cần được đặt trên cơ sở minh bạch học thuật và minh bạch pháp lý.

Sự phân định rõ ràng này nhằm bảo đảm tính chính xác của học thuật và chuyên môn, bảo vệ pháp lý và quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời giúp người tìm hiểu, người sử dụng và công chúng có thể nhận biết rõ họ đang tiếp cận hệ học thuật nào và đang được hướng dẫn trên nền tảng chuyên môn nào.

CHƯƠNG F – PHỤ LỤC
I. Tài liệu pháp lý liên quan đến P.E.R.G.® nach NGOs
Chứng nhận bảo hộ của cơ quan DPMA ngày 11.06.2012 tiếng Đức và Việt dịch.


II. Tài liệu tham khảo về sở hữu trí tuệ và nhãn hiệu
. Deutsches Patent- und Markenamt (DPMA)
. Markengesetz (MarkenG)
. Bundesministerium der Justiz
. World Intellectual Property Organization (WIPO)
. Madrid System for the International Registration of Marks
. European Union Intellectual Property Office (EUIPO)
. Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights (TRIPS)
. Paris Convention for the Protection of Industrial Property
. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
. Các tài liệu hướng dẫn về bảo hộ, sử dụng và thực thi quyền đối với nhãn hiệu tại Đức, Liên minh Châu Âu, Việt Nam và quốc tế.

Các tài liệu nêu trên được tra cứu từ các nguồn chính thức của cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức sở hữu trí tuệ có thẩm quyền tại Đức, Liên minh Châu Âu, Việt Nam và quốc tế.

III. Glossar [A-Z | VN – EN – DE]
. Bảo hộ pháp lý – Legal Protection – Rechtlicher Schutz
Biển hiệu – Signboard – Praxisschild
. Chánh Chẩn – Definitive Diagnosis – Hauptdiagnose
Chủ sở hữu nhãn hiệu – Trademark Owner – Markeninhaber
Công cụ – Tool – Werkzeug
Danh thiếp – Business Card – Visitenkarte
Đào tạo – Training – Ausbildung
Đăng ký nhãn hiệu – Trademark Registration – Markenanmeldung
Định-chẩn – Diagnostic Determination – Diagnostische Bestimmung
. Giám định – Expert Assessment – Begutachtung
Giảng dạy – Teaching – Lehre
. Hệ thống – System – System
Học thuyết – Doctrine – Lehrsystem
. Khảo sát – Assessment – Erhebung
Khuyến nghị – Recommendation – Empfehlung
. Mạng xã hội – Social Media – Soziale Medien
. Năng lượng học – Energy Studies – Energielehre
Nhãn hiệu – Trademark – Marke
Ngũ hành – Five Elements – Fünf Elemente
Nội dung truyền thông – Media Content – Medieninhalt
. Phản xạ trên mặt – Facial Reflexology – Gesichtsreflexzonen
Pháp lý – Legal – Rechtlich
P.E.R.G.® nach NGOs – Psychosomatic Energetic Reflex Zone Therapy on the Face
according to NGOs – Psychosomatische Energetische Reflexzonentherapie am Gesicht nach NGOs
. Quảng bá – Promotion – Werbung
Quyền sở hữu trí tuệ – Intellectual Property Rights – Rechte des geistigen Eigentums
Quyền sử dụng – Right of Use – Nutzungsrecht
. Rà soát – Review – Überprüfung
. Sơ Chẩn – Initial Assessment – Erstdiagnose
Sở hữu trí tuệ – Intellectual Property – Geistiges Eigentum
. Tác-Ý – Presently and Continuously Operating Will – gegenwärtig fortlaufend wirkend Willen –
Tác-Ý học – TA!C-Ý Study – TÁC-Ý-Lehre
Tài liệu đào tạo – Training Material – Ausbildungsunterlagen
Thực hành – Practice – Anwendung
Thương hiệu – Brand – Marke
Tiền Chẩn – Preliminary Assessment – Vordiagnose
Tờ rơi – Flyer – Flyer
Trắc nghiệm cơ bắp – Muscle Testing – Muskeltest
Truyền thông – Communication – Öffentlichkeitsarbeit
. Ứng dụng – Application – Anwendung
. Video truyền thông – Media Video – Medienvideo
. Y Hành – Practical Living Application – Medizinisches Handeln
Y Học – Diagnostic Medical Assessment – Medizinische Analyse
Y Lý – Foundational Medical Principle – Medizinische Grundauffassung
Y Thuật – Therapeutic Technique – Medizinische Technik

4-TRỤ – Four Pillars – Vier Säulen
3-CHẨN – Three Diagnostic Levels – Drei Diagnoseebenen
4-Y – Four Medical Foundations – Vier Medizinische Grundlagen


Thứ Bảy ngày 20.06.2026
© Ngoc-Diep NGO | All rights reserved

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc