DẪN NHẬP
Biên khảo luận này được thực hiện từ nhiều câu hỏi của những phụ huynh có con được bác sĩ nhi khoa chẩn đoán mắc triệu chứng TICs, như
• TICs là gì?
• Vì sao trẻ có triệu chứng này?
• Y học hiện nay chữa trị ra sao?
• Liệu pháp P.E.R.G.® có thể chữa trị được không? v.v…
Phụ huynh nhắn tin hỏi chúng tôi vì muốn tìm hiểu tường tận để biết cách giúp con. Bởi khi chưa hiểu rõ các triệu chứng, cách chẩn đoán, mục đích và giới hạn của các phương pháp chữa trị, phụ huynh khó nắm bắt đầy đủ tình trạng sức khỏe của trẻ và sự lựa chọn hướng hỗ trợ phù hợp
Từ nhân duyên ấy, BIÊN KHẢO LUẬN | Y-HỌC | TRẺ EM: TICs VÀ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN được hình thành nhằm giúp phụ huynh tìm hiểu và có thêm kiến thức không riêng về triệu chứng về TICs mà còn về các rối loạn liên quan đến tâm lý, hệ thần kinh và sự phát triển của trẻ.
Biên Khảo Luận này trình bày khá chi tiết từng bệnh từ tên gọi, nguyên nhân, triệu chứng, căn cứ chẩn đoán đến các phương pháp chữa trị, mục đích, kết quả, giới hạn, tác dụng không mong muốn và nguy cơ, kèm dữ liệu và nguồn tài liệu tham khảo.
Đồng thời, Biên Khảo Luận này giới thiệu cụ thể cách tiếp cận của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs qua 4-TRỤ và 4-Y liên quan đến CHẨN – ĐỊNH – TRỊ để đối chiếu với Y Học Triệu Chứng trong việc tiếp cận các triệu chứng TICs và những Rối Loạn Phát Triển (developmental disorders) ở trẻ em. Mục đích là muốn giúp người đọc hiểu các cách lý giải và hướng can thiệp, có cơ sở tham khảo, trao đổi và tự quyết định việc lựa chọn phương pháp can thiệp cũng như trong việc chăm sóc và hỗ trợ thích nghi cho con em mình.
* * *
MỤC LỤC
DẪN NHẬP
CHƯƠNG A – TICs và những rối loạn tâm lý và hệ thần kinh ở trẻ em theo Y HỌC TRIỆU CHỨNG
I. Những rối loạn tâm lý, thần kinh và phát triển ở trẻ em
II. Từng bệnh: nguyên nhân – triệu chứng – chẩn đoán – chữa trị – giới hạn – tác dụng – nguy cơ
1. Tên bệnh, định nghĩa và các biểu hiện được ghi nhận.
2. Tuổi xuất hiện, diễn biến và ảnh hưởng đến đời sống của trẻ.
3. Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ và những điều chưa xác định.
4. Triệu chứng; những triệu chứng hoặc bệnh cùng hiện diện.
5. Căn cứ chẩn đoán; phân biệt với những bệnh có biểu hiện tương tự.
6. Các phương pháp chữa trị, hỗ trợ và giáo dục hiện hành.
7. Mục đích, kết quả và thời gian theo dõi của từng phương pháp.
8. Giới hạn, tác dụng không mong muốn và nguy cơ.
9. Nhận định, dữ liệu và số liệu của các cơ quan y tế quốc tế và các công trình nghiên cứu liên quan.
III. Nguồn tài liệu tham khảo cho Mục II
1. Tài liệu về tên bệnh, định nghĩa và chẩn đoán.
2. Hướng dẫn chữa trị và các công trình nghiên cứu.
3. Báo cáo, dữ liệu và số liệu của các cơ quan y tế.
4. Nguồn, năm công bố và nội dung được viện dẫn.
IV. Bảng đối chiếu từng bệnh
Tên bệnh | Nguyên nhân | Triệu chứng | Chẩn đoán | Phương pháp chữa trị | Mục đích | Kết quả | Tác dụng không mong muốn| Nguy cơ
V. Giám luận
CHƯƠNG B – TICs và RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
I. Tư tưởng luận và khái niệm nền
1. 4-TRỤ: TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN.
2. 4-Y: Y-LÝ – Y-HỌC – Y-THUẬT – Y-HÀNH.
3. TÁC-Ý ĐANG hiện hành là GỐC mọi chứng bệnh.
II. “TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh” và “Di truyền KHÔNG di bệnh”. Vì sao?
1.1. TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh.
1.2. Di truyền KHÔNG di bệnh.
1.3.Nền tảng hai tuyên ngôn áp dụng cho việc CHẨN – ĐỊNH theo P.E.R.G.® nach NGOs.
III. CHẨN – ĐỊNH cho trẻ
1. Nhận biết TÁC-Ý ĐANG hiện hành nơi trẻ.
2. Nhận biết tác động ĐANG có mặt của TÁC-Ý ĐANG hiện hành, dẫn đến triệu chứng ĐANG xảy ra nơi trẻ.
3. Kết quả CHẨN – ĐỊNH làm nền định hướng cho nội dung và kỹ thuật TRỊ liệu.
IV. Ảnh hưởng của Mẹ trong quá trình THỤ – MANG – SINH và NUÔI DƯỠNG
1. Quá trình THỤ – MANG – SINH và NUÔI DƯỠNG trẻ của người Mẹ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
2. Bốn loại dinh dưỡng: ĐOÀN thực – XÚC thực – TƯ NIỆM thực – THỨC thực.
3. Ảnh hưởng của bốn loại dinh dưỡng đến sự phát triển THÂN và TÂM của trẻ từ giai đoạn thai nhi và sau sinh.
4. Sự đồng hành của người Mẹ trong quá trình điều trị trẻ bị rối loạn phát triển.
V. Ảnh hưởng của gia đình, giáo dục, học đường và môi trường sống đối với sự rối loạn phát triển của trẻ em
1. Người thân trong gia đình và những người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ.
2. Giáo viên, bạn học và những quan hệ khác trong đời sống.
3. Sự đồng hành của những người liên quan trong quá trình điều trị trẻ.
VI. Giám luận:
Trẻ em là BẢN SAO của người Mẹ
CHƯƠNG C – Đối Chiếu TICs và RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN theo 4-TRỤ / 4-Y P.E.R.G.® nach NGOs
I. Đối chiếu theo 4-TRỤ: TÂM | TÁC-Ý | NĂNG | THÂN.
II. Đối chiếu theo 4-Y: Y-LÝ | Y-HỌC | Y-THUẬT | Y-HÀNH.
III. Giám luận
CHƯƠNG D – Phụ Lục
I. Thuật ngữ theo nội dung biên khảo
II. Thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
III. Thuật ngữ bổ sung từ nội dung Chương B
IV. Tên các chữ viết tắt
V. Nguồn và tài liệu tham khảo
VI. Nguồn đối chiếu
* * *
CHƯƠNG A – TICs và những bệnh rối loạn tâm lý và hệ thần kinh ở trẻ em theo Y HỌC TRIỆU CHỨNG
I. Những rối loạn tâm lý, thần kinh và phát triển ở trẻ em
Danh mục dưới đây tập trung vào rối loạn phát triển thần kinh và các rối loạn TICs, theo Bảng phân loại bệnh quốc tế, lần sửa đổi thứ 11 (International Classification of Diseases, 11th Revision – ICD-11)
• Rối loạn phát triển trí tuệ.
• Rối loạn phát triển âm lời nói.
• Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói, gồm nói lắp.
• Rối loạn phát triển ngôn ngữ.
• Rối loạn phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ khác.
• Rối loạn phổ tự kỷ.
• Rối loạn phát triển học tập: khó khăn về đọc, diễn đạt bằng chữ viết, toán học hoặc học tập khác.
• Rối loạn phát triển phối hợp vận động.
• Rối loạn tăng động giảm chú ý.
• Rối loạn vận động định hình.
• Rối loạn phát triển thần kinh khác hoặc chưa xác định cụ thể.
• Các rối loạn TICs: hội chứng Tourette, TICs vận động mạn tính, TICs âm thanh mạn tính, TICs nhất thời và các dạng khác. iris.who.int
Tên chẩn đoán được giữ theo nguồn y học.
Chậm nói, hành vi lặp đi lặp lại và khó khăn giao tiếp được trình bày trong từng bệnh liên quan, không mặc nhiên xem mỗi biểu hiện là một bệnh riêng.
II. Từng bệnh: nguyên nhân – triệu chứng – chẩn đoán – chữa trị – giới hạn – tác dụng không mong muốn – nguy cơ
Tên bệnh và tiêu chuẩn được ghi theo nguồn tương ứng. Các số liệu nước ngoài không mặc nhiên đại diện cho trẻ em Việt Nam.
1. Rối loạn phát triển trí tuệ
Rối loạn phát triển trí tuệ (disorders of intellectual development) là hạn chế khả năng nhận thức kể cả khả năng thích nghi trong sinh hoạt. Trẻ khó tiếp thu, suy luận hoặc tự thực hiện những việc phù hợp với tuổi. Chậm nói riêng lẻ không đủ để kết luận bệnh này. [1] Rối loạn khởi phát trong thời kỳ phát triển. Trẻ nhỏ có thể chậm nhiều mặt; trẻ lớn gặp khó khăn rõ hơn khi yêu cầu học tập và tự lập tăng. Mức hỗ trợ cần thiết khác nhau giữa từng trẻ. [42]
Có thể liên quan đến bất thường di truyền, chuyển hóa, nhiễm trùng, tổn thương não hoặc phơi nhiễm độc chất. Một số nguyên nhân có từ trước sinh, quanh sinh hoặc sau sinh; nhiều trường hợp chưa xác định được nguyên nhân cụ thể. [41] Trẻ có thể khó hiểu lời hướng dẫn, học chậm và cần giúp đỡ khi ăn mặc, giao tiếp, quản lý công việc. Động kinh, khó vận động, rối loạn ngôn ngữ hoặc tự kỷ có thể cùng hiện diện, nhưng không phải trẻ nào cũng có. [42]
Đánh giá cả chức năng trí tuệ và hành vi thích nghi, kết hợp bệnh sử, khám và công cụ phù hợp với tuổi và ngôn ngữ của trẻ. Không căn cứ riêng vào chỉ số trí tuệ. Cần kiểm tra nghe, nhìn và xem xét hoàn cảnh học tập. Ở trẻ dưới 5 tuổi có chậm phát triển đáng kể ở ít nhất hai lĩnh vực nhưng chưa thể đánh giá chức năng trí tuệ một cách tin cậy, có thể dùng chẩn đoán chậm phát triển toàn diện. [1]
Can thiệp sớm, giáo dục phù hợp khả năng, trị liệu ngôn ngữ, hoạt động trị liệu và hỗ trợ gia đình. Khi xác định bệnh nền có thể điều trị, phải điều trị bệnh nền; thí dụ suy giáp hoặc một số rối loạn chuyển hóa. Thuốc điều trị bệnh đi kèm không phải thuốc nâng trí tuệ chung. [2] Mục tiêu là tăng khả năng giao tiếp, học và tự chăm sóc. Theo dõi bằng những việc trẻ thực hiện được trong đời sống, không chỉ điểm đánh giá. Hỗ trợ và đánh giá lại thường kéo dài qua nhiều giai đoạn phát triển; không có một liệu trình cố định cho mọi nguyên nhân. [1,2]
Khả năng cải thiện phụ thuộc nguyên nhân, mức độ và điều kiện hỗ trợ. Một số bệnh nền điều trị được, nhưng không thể suy ra mọi hạn chế trí tuệ đều đảo ngược được. Nguy cơ của thuốc phải xét theo thuốc thực sự được dùng và bệnh được điều trị. [2] Hội Nhi khoa Canada năm 2026 dẫn ước tính chậm phát triển toàn diện ở khoảng 1–3% trẻ dưới 5 tuổi. Đây không phải tỷ lệ rối loạn phát triển trí tuệ: hai chẩn đoán có liên hệ nhưng không đồng nhất. [1]
2. Rối loạn phát triển âm lời nói
Rối loạn phát triển âm lời nói (developmental speech sound disorder) là khó tạo hoặc sử dụng các âm lời nói phù hợp với tuổi và ngôn ngữ, khiến người nghe khó hiểu. Có thể là khó phát âm một âm hoặc dùng sai một quy luật âm trong nhiều từ. [4,5] Thường nhận ra khi trẻ học nói. Một số lỗi giảm theo phát triển; lỗi kéo dài có thể ảnh hưởng giao tiếp, sự tự tin và học đọc, viết. Tuổi làm chủ từng âm khác nhau giữa các ngôn ngữ. [4]
Nhiều trường hợp không xác định được nguyên nhân. Khó nói cũng có thể liên quan nghe kém, bất thường cấu trúc miệng hoặc rối loạn điều khiển vận động lời nói; khi đó cần xác định đúng bệnh nền. [5] Trẻ bỏ âm, thay âm, thêm âm hoặc phát âm méo. Có trẻ hiểu và diễn đạt ý tốt nhưng lời nói khó nghe rõ; có trẻ đồng thời khó ngôn ngữ, nói lắp hoặc học đọc. [4,5]
Chuyên viên đánh giá mẫu lời nói, mức độ dễ hiểu của lời nói, cơ quan phát âm và thính lực. Phải phân biệt rối loạn với những lỗi phát âm còn phù hợp với giai đoạn phát triển, khác biệt do giọng địa phương hoặc ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ trẻ sử dụng; đồng thời phân biệt với khó khăn trong lập kế hoạch vận động lời nói và rối loạn vận động lời nói do yếu cơ hoặc khó kiểm soát cơ. [4,5]
Trị liệu lựa chọn âm cần luyện, hướng dẫn cách tạo âm và tập dùng âm trong từ, câu, hội thoại. Với lỗi theo quy luật, luyện phân biệt và đối chiếu âm. Gia đình hỗ trợ bài tập được hướng dẫn; điều trị vấn đề nghe hoặc cấu trúc nếu có. [43] Mục tiêu là người khác hiểu lời trẻ và trẻ dùng âm đã học trong giao tiếp hằng ngày. Tiến bộ được đánh giá qua mẫu nói, không chỉ việc nhắc lại đúng tại buổi trị liệu. Thời gian tùy số âm sai, dạng lỗi và khả năng luyện tập. [43]
Không có một bài luyện áp dụng cho mọi nguyên nhân. Ép trẻ nhắc đi nhắc lại khi mệt có thể tăng áp lực giao tiếp; dùng chuẩn phát âm không phù hợp với ngôn ngữ hoặc giọng địa phương của trẻ có thể làm sai lệch kết quả đánh giá. [4,5] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ (American Speech-Language-Hearing Association – ASHA) dẫn tỷ lệ 2,1–23% ở trẻ 4–6 tuổi từ các nghiên cứu khác nhau. Khoảng dao động rộng phản ánh khác biệt ề tiêu chuẩn, mẫu nghiên cứu và bối cảnh ngôn ngữ, không phải một tỷ lệ chung toàn cầu. [4]
3. Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói
Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói (developmental speech fluency disorder) làm gián đoạn dòng nói. Biểu hiện điển hình là nói lắp: lặp âm hoặc âm tiết, kéo dài âm, bị nghẹn hoặc tắc khi nói. Trẻ biết điều muốn nói nhưng khó nói trôi chảy. [6] Nói lắp thường xuất hiện ở tuổi 2–6. Nhiều trẻ hồi phục, một số kéo dài. Mức độ thay đổi theo tình huống; trẻ có thể né phát biểu, đổi từ hoặc tránh giao tiếp vì sợ bị trêu. [8]
Nói lắp phát triển có liên quan đến yếu tố di truyền và những khác biệt trong cơ chế thần kinh điều khiển lời nói; cơ chế hình thành chưa được hiểu đầy đủ. Căng thẳng có thể làm biểu hiện tăng nhưng không được xem là nguyên nhân gây nói lắp phát triển. [7] Ngoài lặp hoặc tắc âm, trẻ có thể căng cơ, chớp mắt, gắng sức và tránh từ khó. Có thể kèm khó phát âm hoặc ngôn ngữ. Nói nhanh không đều, ngắt nhịp bất thường và lược âm tiết có thể gặp trong chứng nói líu (cluttering), cần được phân biệt với nói lắp; hai tình trạng có thể cùng hiện diện. [6]
Đánh giá lời nói trong nhiều tình huống, thời điểm bắt đầu, thời gian kéo dài và ảnh hưởng đến trẻ. Phân biệt sự ngập ngừng thông thường, nói lắp phát triển và rối loạn lời nói xuất hiện sau tổn thương thần kinh. [6,7]
Trị liệu lời nói kết hợp hướng dẫn phụ huynh, giảm áp lực phải nói nhanh, luyện giao tiếp và xử lý sự né tránh. Cách làm tùy tuổi; không chỉ nhắm vào số lần nói lắp mà còn giúp trẻ nói được điều mình muốn. [6] Theo dõi độ lưu loát, gắng sức và khả năng giao tiếp. Nên đánh giá khi nói lắp kéo dài 3–6 tháng, có gắng sức hoặc tiền sử gia đình; tùy biểu hiện có thể cần đánh giá sớm hơn. [7]
Không có bảo đảm mọi trẻ sẽ hết nói lắp. Buộc trẻ luôn nói thật trôi chảy có thể làm tăng né tránh. Thiết bị hỗ trợ có thể giúp một số người nhưng hiệu quả ngoài đời và độ bền không đồng đều. [6,7] Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ công bố khoảng 5–10% trẻ từng nói lắp trong một giai đoạn; khoảng 75% hồi phục và 25% tiếp tục nói lắp. Đây là diễn biến chung, không phải tỷ lệ chữa khỏi của một phương pháp. Bản thống kê năm 2025 cũng nhấn mạnh khả năng kéo dài đến trưởng thành. [7,8]
4. Rối loạn phát triển ngôn ngữ
Rối loạn phát triển ngôn ngữ (developmental language disorder) là khó khăn kéo dài trong việc học, hiểu hoặc sử dụng ngôn ngữ. Khác với lỗi phát âm, vấn đề nằm ở từ vựng, câu, ý nghĩa hoặc cách dùng lời để giao tiếp. [9,10] Có thể bắt đầu bằng chậm nói, rồi bộc lộ rõ hơn khi trẻ phải hiểu hướng dẫn, kể chuyện, đọc và viết. Một số trẻ chậm nói bắt kịp; trẻ có rối loạn ngôn ngữ kéo dài thường cần hỗ trợ trong tuổi học đường và có thể cả khi trưởng thành. [44]
Nghiên cứu ghi nhận tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường; nguyên nhân chính xác ở từng trẻ thường chưa rõ. Học nhiều ngôn ngữ không tự nó gây bệnh này. Tiền sử gia đình có khó khăn ngôn ngữ là một yếu tố liên quan. [9] Trẻ có thể có vốn từ ít, khó ghép câu, sai ngữ pháp, khó tìm từ, khó hiểu câu dài hoặc kể lại sự việc. Trẻ có thể bị hiểu lầm là không nghe lời khi thực ra chưa hiểu. Khó học đọc và khó chú ý có thể cùng hiện diện. [9,10]
Đánh giá ngôn ngữ tiếp nhận và diễn đạt, thính lực, quá trình phát triển và môi trường sử dụng ngôn ngữ. Trẻ đa ngôn ngữ cần được xem xét trong các ngôn ngữ trẻ dùng. Phân biệt với nghe kém, tự kỷ, hạn chế trí tuệ và thiếu cơ hội học ngôn ngữ. [10]
Trị liệu từ vựng, cấu trúc câu, hiểu lời hướng dẫn và kể chuyện; phụ huynh, giáo viên được hướng dẫn cách tương tác. Trẻ có nhu cầu cao có thể dùng hình ảnh hoặc phương tiện giao tiếp bổ trợ. Nội dung luyện phải gắn với sinh hoạt và học tập. [10] Mục tiêu là hiểu và diễn đạt hiệu quả hơn. Ghi nhận tiến bộ ở kỹ năng cụ thể, rồi kiểm tra trẻ có sử dụng ngoài buổi trị liệu hay không. Có thể cần nhiều đợt hỗ trợ theo yêu cầu của từng tuổi; không có số buổi chung cho mọi trẻ. [44]
Tiến bộ về từ vựng không đồng nghĩa mọi mặt ngôn ngữ đã bình thường. Đánh giá sai trẻ đa ngôn ngữ hoặc chỉ chờ trẻ tự nói có thể làm chậm hỗ trợ. Can thiệp cần phù hợp với khả năng, không biến mọi cuộc trò chuyện thành kiểm tra. [44] Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ nêu khoảng 1/14 trẻ ở lớp mẫu giáo trước khi vào tiểu học có rối loạn này. Khoảng 50–70% trẻ mắc có ít nhất một người thân cũng gặp rối loạn ngôn ngữ. Tiền sử gia đình không xác định nguyên nhân riêng của từng trẻ. [9]
5. Rối loạn phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ khác
Đây là tên phân loại dành cho những rối loạn phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của các dạng cụ thể đã nêu; không phải một bệnh có biểu hiện duy nhất. [3] Tùy biểu hiện, rối loạn có thể được nhận ra khi trẻ học nói hoặc khi yêu cầu giao tiếp tăng. Phải đánh giá theo khó khăn thực tế; chữ “khác” không chỉ ra nguyên nhân. Ghi rõ khó tạo lời, hiểu lời hay sử dụng ngôn ngữ và bệnh đi kèm. Cần lý do sử dụng phân loại “khác”, đồng thời phân biệt với phân loại “chưa xác định cụ thểRối loạn lập kế hoạch và lập chương trình vận động lời nói ở trẻ (childhood apraxia of speech) cần đánh giá chuyên biệt, không gọi chung là chậm nói. [11]
Chọn can thiệp theo chức năng bị ảnh hưởng; rối loạn lập kế hoạch và lập chương trình vận động lời nói cần phương pháp luyện các vận động tạo lời nói phù hợp với từng trẻ. [11] Theo dõi khả năng giao tiếp và xem lại chẩn đoán khi có thêm dữ liệu. Không có phác đồ chung chỉ dựa vào chữ “khác”. Không gộp các tình trạng khác nhau thành một tỷ lệ mắc hoặc tỷ lệ đáp ứng điều trị chung. [3,11]
6. Rối loạn phổ tự kỷ
Rối loạn phổ tự kỷ (autism spectrum disorder) được nhận diện qua khó khăn lâu dài trong giao tiếp, tương tác xã hội, cùng những kiểu hành vi, sở thích hoặc hoạt động hạn hẹp, lặp lại. “Phổ” chỉ sự đa dạng về biểu hiện và nhu cầu hỗ trợ. [12,15] Đặc điểm có từ giai đoạn phát triển sớm nhưng có thể được nhận ra muộn. Khả năng nói, học và tự lập rất khác nhau. Nhu cầu hỗ trợ có thể thay đổi theo tuổi, môi trường và bệnh đi kèm. [12]
Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố di truyền và môi trường sinh học. Không có một nguyên nhân duy nhất giải thích mọi trường hợp; thông tin về yếu tố nguy cơ không đủ xác định nguyên nhân ở một trẻ. [12] Trẻ có thể gặp khó khăn trong trao đổi qua lại, chia sẻ chú ý, hiểu cử chỉ; muốn duy trì nếp sinh hoạt quen thuộc, lặp động tác hoặc phản ứng khác thường với âm thanh, ánh sáng, tiếp xúc. Động kinh, khó ngủ, lo âu, tăng động giảm chú ý hoặc hạn chế trí tuệ có thể cùng hiện diện. [12,15]
Kết hợp lịch sử phát triển, quan sát và thông tin gia đình, nhà trường. Công cụ sàng lọc không thay thế chẩn đoán. Phân biệt với nghe kém, rối loạn ngôn ngữ, hạn chế trí tuệ hoặc khó khăn giao tiếp do tình huống. Không kết luận chỉ vì trẻ chậm nói hay ít nhìn mắt. [15]
Can thiệp phát triển, giao tiếp xã hội, ngôn ngữ, kỹ năng sinh hoạt và điều chỉnh môi trường. Hướng dẫn cha mẹ, giáo viên tham gia. Thuốc có thể được cân nhắc cho một số biểu hiện hoặc bệnh đi kèm; không có thuốc để điều trị các đặc điểm cốt lõi của tự kỷ. [13,14] Mục tiêu là hỗ trợ, học tập, tự lập và nâng cao chất lượng sống. Đánh giá theo mục tiêu cụ thể và khả năng áp dụng hằng ngày. Thuốc chống loạn thần chỉ được cân nhắc cho hành vi gây khó khăn nghiêm trọng khi các biện pháp tâm lý – xã hội hoặc biện pháp khác chưa đủ hiệu quả, hoặc không thể thực hiện do mức độ nghiêm trọng của hành vi. Hướng dẫn của Viện Quốc gia về Chất lượng Y tế và Chăm sóc Anh (NICE) yêu cầu bác sĩ chuyên khoa đánh giá hiệu quả và tác dụng không mong muốn sau 3–4 tuần; nếu không có đáp ứng có ý nghĩa lâm sàng sau 6 tuần thì ngừng thuốc theo kế hoạch chuyên môn. [13]
Không một can thiệp phù hợp mọi trẻ. Thuốc chỉ dùng khi có chỉ định riêng; một số thuốc gây buồn ngủ, tăng cân, rối loạn chuyển hóa hoặc vận động. Cần phân biệt giảm hành vi do trẻ bớt khó chịu với việc trẻ chỉ bị an thần. Can thiệp phải tôn trọng nhu cầu và khả năng giao tiếp của trẻ. [13,14] Tổ chức Y tế Thế giới công bố năm 2025: ước tính năm 2021 có khoảng 1/127 người trên thế giới thuộc phổ tự kỷ. Đây là ước tính toàn dân, không phải tỷ lệ riêng ở trẻ em hay ở Việt Nam. [12]
7. Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về đọc
Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về đọc bao gồm khó khăn dai dẳng về độ chính xác khi đọc từ, độ trôi chảy hoặc đọc hiểu, dù đã được dạy và hỗ trợ phù hợp. Trong đó, chứng khó đọc (dyslexia) chủ yếu liên quan đến khó nhận dạng từ chính xác, đọc trôi chảy, giải mã chữ thành âm và đánh vần; không đồng nhất mọi khó khăn đọc hiểu với chứng khó đọct. [18,19]
Có liên quan đến cách xử lý thông tin phục vụ đọc và yếu tố gia đình. Nguyên nhân không được xác định bằng một lỗi đọc đơn lẻ; thiếu cơ hội học cần được xem xét riêng. [17] Khó nối âm với chữ, đánh vần, nhận dạng từ, đọc trôi chảy. Có thể kèm khó viết, ngôn ngữ hoặc tăng động giảm chú ý. [19,37]
Đánh giá kỹ năng đọc, lịch sử học và đáp ứng hỗ trợ; loại trừ khó khăn chủ yếu do nghe, nhìn, nghỉ học kéo dài hoặc chưa thông thạo ngôn ngữ giảng dạy. Điểm học thấp đơn độc không đủ chẩn đoán. [45]
Dạy đọc có hệ thống, luyện âm–chữ, giải mã từ, độ trôi chảy và đọc hiểu. Có thể dùng sách nói, phần mềm đọc văn bản, thêm thời gian làm bài. Thuốc cho bệnh đi kèm không thay thế dạy đọc. [16,37] Theo dõi độ chính xác, tốc độ, đọc hiểu và khả năng học trong lớp. Cần xem tiến bộ qua các đợt dạy, không căn cứ một buổi luyện; hỗ trợ có thể kéo dài nhiều năm học. [16,18]
Đọc tốt hơn không phải lúc nào cũng đồng nghĩa đã bắt kịp mọi yêu cầu học tập. Gắn nhãn lười hoặc thiếu thông minh có thể làm trẻ né học; hỗ trợ phải phù hợp khó khăn thực tế. [45] Hội Nhi khoa ở Canada năm 2024 nêu 5–10% trẻ tuổi học đường có rối loạn học tập đặc hiệu. Đây là số chung cho nhóm rối loạn học tập đặc hiệu. [18]
8. Rối loạn phát triển học tập với khó khăn diễn đạt bằng chữ viết
Là khó khăn lâu dài về chính tả, ngữ pháp, dấu câu hoặc diễn tả ý thành văn bản. Chữ viết xấu do vận động bàn tay không tự nó đồng nghĩa với rối loạn diễn đạt bằng chữ viết. [19,38] Thường lộ rõ ở tuổi học đường, khi trẻ phải viết câu và bài. Trẻ có thể trình bày miệng tốt nhưng khó khăn trong việc diễn đạt bằng chữ. [19,38]
Rối loạn có liên quan đến các quá trình ngôn ngữ và nhận thức phục vụ việc viết; yếu tố di truyền có thể góp phần vào nguy cơ xuất hiện rối loạ. Cần phân biệt với khó khăn chủ yếu do việc dạy học chưa phù hợp hoặc chưa đủ cơ hội luyện viết. [17,38] Biểu hiện gồm lỗi chính tả dai dẳng, câu thiếu cấu trúc, ý rời rạc hoặc khó xây dựng ý thành một bài viết. Có thể kèm khó đọc, khó chú ý và khó phối hợp vận động. [19,38]
Đánh giá bài viết và kết quả học tập qua thời gian. Xem riêng khả năng diễn đạt ngôn ngữ, chính tả, vận động viết tay và ngôn ngữ đang học để xác định khó khăncụ thể. [18,38]
Dạy từng bước từ lập ý, viết câu đến sửa bài; luyện chính tả theo lỗi. Công cụ gõ chữ, chuyển giọng nói thành văn bản hoặc trả lời miệng giúp trẻ thể hiện kiến thức khi phù hợp. [16] Mục tiêu là viết rõ ý và thực hiện nhiệm vụ học tập. So sánh các bài có độ khó tương đương trong từng giai đoạn; không dùng riêng độ đẹp của chữ làm thước đo. [16,38]
Phần mềm hỗ trợ không tự dạy trẻ diễn đạt ý. Luyện chép nhiều mà không phù hợp với khó khăn của trẻ có thể làm trẻ mệt và không cải thiện được khả năng diễn đạt. Cần xem lại nội dung và mức độ luyện tập dựa trên phản hồi và tiến bộ của trẻ. [16,38] Các nghiên cứu không sử dụng cùng định nghĩa cho khó viết tay và khó diễn đạt bằng chữ. Vì vậy phải ghi rõ loại khó khăn trước khi so sánh tỷ lệ mắc bệnh hoặc kết quả can thiệp. [38]
9. Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về toán
Chứng khó học toán (dyscalculia) là khó khăn lâu dài về hiểu số lượng, quan hệ số, phép tính hoặc suy luận toán học, vượt quá điều có thể giải thích chỉ bằng thiếu dạy học. [19] Thường xuất hiện rõ khi ở tuổi đến trường. Trẻ chậm nắm khái niệm số, gặp trở ngại khi tính tiền, xem thời gian hoặc thực hiện bài toán theo tuổi. [47]
Liên quan quá trình phát triển các chức năng phục vụ học toán; yếu tố gia đình cũng góp phần vào vấn đề này. Lo âu khi học toán có thể làm thành tích kém hơn nhưng không giải thích mọi trường hợp. [17,47] Khó so sánh số lượng, nhớ phép tính, hiểu hàng đơn vị–chục, trình tự tính hoặc lời văn của bài toán. Có thể kèm khó đọc, ngôn ngữ hoặc chú ý. [47]
Đánh giá từng kỹ năng toán và quá trình được dạy; xem trẻ không hiểu khái niệm, không hiểu lời bài toán hay chủ yếu mất tập trung. Một bài kiểm tra điểm thấp chưa đủ kết luận. [39]
Dạy rõ từng bước, dùng đồ vật, hình ảnh và trục số để nối số với lượng; luyện theo mức trẻ đã hiểu. Cho thêm thời gian hoặc dùng công cụ tính khi mục đích bài học cho phép. [16] Mục tiêu là hiểu khái niệm và ứng dụng được, không chỉ thuộc đáp án. Theo dõi từng kỹ năng qua quá trình học; thời gian tùy mức khó khăn và đáp ứng hỗ trợ. [47]
Không có thuốc đặc hiệu thay thế việc dạy toán. Luyện tốc độ khi trẻ chưa hiểu có thể làm tăng lo âu. Cần phân biệt sự tiến bộ do ghi nhớ bài cũ với khả năng giải bài mới. [16] Nghiên cứu được Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ công bố năm 2011 đánh giá 71 học sinh lớp 9, đã được theo dõi học toán từ mẫu giáo. Khó ước lượng số lượng nổi bật ở nhóm khó học toán, không ở mọi học sinh có điểm toán thấp. Đây là nghiên cứu về khác biệt nhận thức, không phải thử nghiệm chữa trị. [39]
10. Rối loạn phát triển học tập khác hoặc chưa xác định cụ thể
Tên phân loại dùng khi khó học đáng kể chưa được mô tả đầy đủ bằng dạng cụ thể. [3] Thường rõ khi việc học ở trường đòi hỏi kỹ năng mới. Không suy ra nguyên nhân từ tên phân loại. Ghi rõ kỹ năng học bị ảnh hưởng và bệnh đi kèm. Cần đánh giá lại khả năng học và cơ hội được dạy. [18]
Hỗ trợ kỹ năng trẻ đang gặp khó khăn, không đợi hoàn tất mọi đánh giá mới giúp trẻ. [18] Theo dõi tiến bộ học tập và bổ sung chẩn đoán khi đủ dữ liệu. Không có phác đồ riêng dùng chung cho tên này. Không dùng một tỷ lệ mắc chung để đại diện cho mọi trường hợp còn chưa xác định cụ thể.
11. Rối loạn phát triển phối hợp vận động
Rối loạn phát triển phối hợp vận động (developmental motor coordination disorder) là khó học và thực hiện vận động phối hợp phù hợp với tuổi, gây trở ngại thực tế. Trẻ có thể vụng về, chậm hoặc thiếu chính xác. [20] Khó khăn có từ sớm, thường rõ khi mặc quần áo, dùng kéo, viết hoặc chơi thể thao. Một số khó khăn tồn tại đến trưởng thành. [20,22]
Cơ chế phát triển phối hợp vận động chưa được giải thích đầy đủ. Sinh non là yếu tố nguy cơ. Không chẩn đoán bệnh này nếu khó vận động được giải thích tốt hơn bởi bệnh thần kinh hoặc cơ đã biết. [20] Khó cài nút, buộc dây, bắt bóng, giữ thăng bằng hoặc viết nhanh. Có thể kèm tăng động giảm chú ý, khó học, khó ngôn ngữ, tự kỷ, lo âu. [20,22]
Đánh giá vận động chuẩn hóa, ảnh hưởng đến sinh hoạt và lịch sử phát triển; khám thần kinh và kiểm tra thị lực. Phân biệt với bại não, yếu cơ, bệnh cơ và hạn chế trí tuệ. Khi trẻ mất kỹ năng đã có cần tìm nguyên nhân khác. [20,22]
Hoạt động trị liệu, vật lý trị liệu và luyện nhiệm vụ cụ thể: mặc áo, viết, đi xe hoặc chơi bóng. Chia động tác thành bước và điều chỉnh dụng cụ, môi trường học. [21] Mục tiêu là làm được việc cần thiết và tham gia hoạt động. Đánh giá theo nhiệm vụ đã chọn, rồi xem khả năng áp dụng ngoài buổi luyện. Thời gian và số đợt tùy nhu cầu phát triển. [21]
Luyện một nhiệm vụ không tự động cải thiện mọi vận động. Không có thuốc đặc hiệu chữa khỏi rối loạn phối hợp. Bài tập cần vừa sức, tránh làm trẻ đau, sợ hoặc liên tục thất bại. [21] Hội Nhi khoa Canada nêu khoảng 5–6% trẻ tuổi học đường mắc rối loạn này. Cơ quan y tế Anh nhấn mạnh mục tiêu hỗ trợ chức năng, không hứa chữa khỏi bằng một liệu trình chung. [20,21]
12. Rối loạn tăng động giảm chú ý
Rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder, ADHD; tiếng Đức: Aufmerksamkeitsdefizit-/Hyperaktivitätsstörung, ADHS) gồm thiếu chú ý, tăng hoạt động và/hoặc bốc đồng lâu dài, không phù hợp với mức phát triển và gây trở ngại. Trẻ thông minh, lập luận tốt vẫn có thể mắc; chỉ riêng hành vi khiến người lớn khó chịu chưa đủ để chẩn đoán. [23] Triệu chứng khởi phát từ thời thơ ấu; tiêu chuẩn thường dùng yêu cầu có một số biểu hiện trước 12 tuổi. Khi lớn, chạy nhảy quá mức có thể giảm nhưng khó khó khăn trong việc tổ chức, chú ý hoặc kiềm chế vẫn còn. [46]
Nghiên cứu ghi nhận vai trò di truyền và nhiều yếu tố phát triển, sinh học, môi trường. Không có một xét nghiệm xác định nguyên nhân cho mọi trẻ. Cách tổ chức gia đình, lớp học có thể ảnh hưởng mức khó khăn nhưng không phải tiêu chuẩn tự nó chứng minh nguyên nhân. [23] Dễ xao nhãng, quên việc, khó hoàn thành nhiệm vụ; bồn chồn, nói nhiều, chen ngang, khó chờ lượt. Có thể kèm khó học, lo âu, khó ngủ, hành vi chống đối hoặc TICs. Cần xem điều nào đang gây ảnh hưởng lớn nhất. [23,26]
Đánh giá lịch sử phát triển, mức ảnh hưởng và thông tin từ hơn một môi trường, như ở nhà và ở trường học. Triệu chứng phải lâu dài; theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ là ít nhất 6 tháng. Phân biệt với thiếu ngủ, lo âu, khó học, nghe kém hoặc hoàn cảnh gây xáo trộn. Bảng hỏi riêng lẻ không đủ kết luận. [46]
Hướng dẫn phụ huynh về cách hỗ trợ hành vi, điều chỉnh lớp học, chia nhiệm vụ và củng cố kỹ năng. Với trẻ nhỏ, can thiệp hành vi được ưu tiên. Thuốc có thể gồm methylphenidate, trong đó có biệt dược Ritalin, hoặc các lựa chọn khác theo tuổi, đáp ứng và quy định nơi điều trị. [24,27] Thuốc nhằm giảm triệu chứng và cải thiện chức năng; hỗ trợ hành vi, giáo dục nhằm tăng kỹ năng và giảm trở ngại trong môi trường sống. Khi dùng thuốc phải điều chỉnh theo đáp ứng. Hướng dẫn Anh yêu cầu đo chiều cao mỗi 6 tháng, theo dõi cân nặng theo tuổi, mạch và huyết áp trước–sau thay đổi liều và mỗi 6 tháng. [24]
Thuốc không bảo đảm khỏi vĩnh viễn. Methylphenidate có thể gây giảm cảm giác thèm ăn, khó ngủ, đau bụng và ảnh hưởng đến cân nặng; cần xem lại lợi ích khi có tác dụng bất lợi. Việc giảm hoặc ngừng thuốc phải gắn với đánh giá và kế hoạch của người kê đơn. Triệu chứng trở lại khi thuốc hết tác dụng không tự chứng minh thuốc hoàn toàn vô hiệu. [24,27] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) công bố tháng 7.2026: khảo sát cha mẹ năm 2024 ước tính 11,7%, khoảng 7 triệu trẻ 3–17 tuổi tại Hoa Kỳ, đang có chẩn đoán này. Đây là số liệu báo cáo chẩn đoán, không phải tỷ lệ toàn cầu. [26] Nghiên cứu điều trị đa phương thức theo dõi giai đoạn ngẫu nhiên 14 tháng ghi nhận việc quản lý thuốc chặt chẽ và điều trị phối hợp cải thiện triệu chứng cốt lõi tốt hơn một số nhóm so sánh. Khác biệt giữa các nhóm giảm trong quá trình theo dõi sau đó; kết quả này không chứng minh chữa khỏi và cũng không cho phép kết luận mọi điều trị dài hạn đều vô ích. [25]
13. Rối loạn vận động định hình
Rối loạn vận động định hình (stereotyped movement disorder) gồm động tác lặp theo khuôn, thường có nhịp, gây cản trở đáng kể hoặc tự gây thương tích. Không phải mọi hành vi lắc người hay vẫy tay đều là bệnh. [3,28] Thường bắt đầu sớm, nhiều trường hợp trước 3 tuổi. Động tác có thể kéo dài nhiều năm, tăng khi hào hứng, mệt hoặc căng thẳng; mức ảnh hưởng khác nhau. [28,30]
Cơ chế chưa rõ đầy đủ. Có dạng ở trẻ phát triển nhìn chung bình thường và dạng đi cùng rối loạn phát triển khác. Không suy ra tự kỷ chỉ từ một động tác lặp. [28] Vẫy tay, xoay ngón, lắc thân, gật đầu hoặc đập đầu. Có thể xuất hiện cùng tự kỷ, hạn chế trí tuệ, khó chú ý hoặc vấn đề cảm giác. Trường hợp tự gây thương tích cần đánh giá riêng. [28]
Xem tuổi khởi phát, nhịp, khuôn động tác, hoàn cảnh xuất hiện và khả năng ngưng động tác khi chuyển chú ý. Phân biệt với TICs, động kinh, hành vi cưỡng chế và tác dụng của thuốc. [28]
Điều chỉnh hoàn cảnh, bảo vệ khi trẻ có hành vi tự gây thương tích và can thiệp hành vi. Một số chương trình hướng dẫn trẻ nhận biết động tác, tập đáp ứng thay thế và hướng dẫn phụ huynh thực hành. [29] Mục tiêu là giảm cản trở, giảm thương tích và tăng khả năng tham gia sinh hoạt. Theo dõi tần suất, thời lượng, mức ảnh hưởng; kết quả cần được xem trong nhiều hoàn cảnh, không chỉ lúc trẻ được nhắc. [29,30]
Bằng chứng về hiệu quả của thuốc đối với vận động định hình nguyên phát còn hạn chế. Không nên coi mọi động tác vô hại là mục tiêu phải loại bỏ. Kết quả từ trẻ không tự kỷ không tự động áp dụng cho trẻ có rối loạn phát triển phức tạp. [28,29,30] Johns Hopkins mô tả chương trình hành vi đã được nghiên cứu ở trẻ 7–17 tuổi. Công trình của Specht và cộng sự năm 2017 khảo sát chương trình do phụ huynh thực hiện tại nhà; đây là bằng chứng cho một can thiệp xác định, không phải tỷ lệ chữa khỏi mọi dạng vận động định hình. [29,30]
14. Rối loạn phát triển thần kinh khác hoặc chưa xác định cụ thể
Đây là tên phân loại khi biểu hiện chưa phù hợp với một chẩn đoán cụ thể hoặc thông tin chưa đủ. [3] Biểu hiện tùy thuộc vào chức năng bị ảnh hưởng và giai đoạn phát triển. Không xác định được nguyên nhân chỉ từ tên gọi này. Cần mô tả cụ thể chức năng và triệu chứng, không chỉ ghi “rối loạn”. Làm rõ thông tin còn thiếu và lý do chưa dùng tên cụ thể.
Hỗ trợ theo nhu cầu thực tế, tìm và điều trị bệnh nền nếu có. Theo dõi chức năng; đánh giá lại khi có thêm dữ liệu. Không có phác đồ hoặc tiên lượng chung cho mọi trường hợp. Không coi đây là một bệnh riêng để gán một tỷ lệ mắc hay tỷ lệ chữa khỏi.
15. Rối loạn TICs tạm thời
Rối loạn TICs tạm thời (provisional tic disorder) có TICs vận động và/hoặc âm thanh chưa đủ một năm từ khởi phát, theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ. Tên này không bảo đảm triệu chứng sẽ tự hết. [31] Khởi phát trước 18 tuổi theo tiêu chuẩn này, thường được nhận ra thời thơ ấu. TICs có thể thay đổi kiểu và tăng giảm; một số nhẹ, một số gây khó học hoặc bị trêu chọc. [48]
TICs nguyên phát có cơ sở phát triển thần kinh và di truyền. Cơ chế cụ thể ở từng trẻ thường chưa xác định; căng thẳng hoặc mệt có thể làm tăng biểu hiện. [48] Chớp mắt, nhăn mặt, giật đầu, hắng giọng hoặc khịt mũi. Cần hỏi thêm về khả năng chú ý, tình trạng lo âu, giấc ngủ và khó khăn ở trường, không chỉ đếm động tác. [32]
Xác định thời điểm bắt đầu, dạng TICs và thuốc đang dùng. Phân biệt động tác định hình, động kinh, bệnh mắt–mũi–họng hoặc biểu hiện giống TICs do rối loạn chức năng thần kinh. [49]
Giải thích cho trẻ, phụ huynh và giáo viên; theo dõi nếu không gây cản trở. Khi cần có thể can thiệp hành vi; thuốc được cân nhắc theo mức ảnh hưởng, không chỉ vì nhìn thấy TICs. [32,34] Giảm khó chịu và trở ngại; ghi diễn biến qua thời gian để xác định chẩn đoán. Không cần chờ đủ một năm mới hỗ trợ trẻ đang đau hoặc bị ảnh hưởng nặng. [32]
Một giai đoạn bớt TICs chưa chứng minh hiệu quả lâu dài của sự can thiệp vì triệu chứng vốn dao động. Liên tục nhắc trẻ phải ngừng TICs có thể tăng áp lực. Thuốc cần cân nhắc lợi ích và tác dụng bất lợi. [32,34] Không dùng tỷ lệ Tourette để đại diện cho tất cả TICs mới xuất hiện. Cần theo dõi diễn biến mới biết TICs ở trẻ giảm, hết hay lâu dài. [48]
16. Rối loạn TICs vận động mạn tính
TICs vận động mạn tính là một hoặc nhiều TICs vận động kéo dài hơn một năm từ khởi phát, không có tiền sử đáp ứng tiêu chuẩn Tourette. [31] Khởi phát trước 18 tuổi theo hệ thống này. Có thể gây đau cổ, khó viết, khó tập trung hoặc mặc cảm; diễn biến tăng giảm và có thể nhẹ dần khi lớn. [50]
Yếu tố di truyền có thể góp phần, cùng với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện TICs; nguyên nhân riêng của từng ca thường chưa rõ. [48] Chớp mắt, nhún vai, giật đầu hoặc chuỗi động tác phức tạp. Một số trẻ nhận thấy cảm giác thôi thúc trước động tác và có thể nén tạm thời; điều đó không biến TICs thành hành vi cố tình. [49]
Hỏi kỹ tiền sử âm thanh và thời gian xuất hiện. Phân biệt động kinh, loạn trương lực, vận động định hình, tác dụng thuốc và biểu hiện vận động chức năng. [49]
Can thiệp hành vi toàn diện cho TICs (comprehensive behavioral intervention for tics, CBIT) gồm nhận biết dấu hiệu, tập đáp ứng cạnh tranh và điều chỉnh hoàn cảnh. Thuốc có thể được cân nhắc khi ảnh hưởng đáng kể. [40] Đánh giá mức đau, cản trở và khả năng sinh hoạt. Chương trình nghiên cứu thường có nhiều buổi trong nhiều tuần, sau đó theo dõi duy trì; không suy hiệu quả từ một lần giảm động tác. [35,40]
Can thiệp hành vi cần khả năng tham gia và thực hành. Thuốc có thể gây buồn ngủ, thay đổi huyết áp, tăng cân hoặc tác dụng không mong muốn về cử động tùy loại; phải theo dõi cụ thể. [51] Thử nghiệm hành vi năm 2010 tuyển cả trẻ ma91c hội chứng Tourette và TICs mạn tính. Kết quả chung của thử nghiệm không phải tỷ lệ riêng cho TICs vận động đơn thuần. [35]
17. Rối loạn TICs âm thanh mạn tính
TICs âm thanh mạn tính là một hoặc nhiều TICs âm thanh kéo dài hơn một năm từ khởi phát, không đáp ứng tiêu chuẩn Tourette. Âm thanh có thể là tằng hắng hoặc tiếng khịt. [31] Khởi phát thời thơ ấu; âm thanh có thể tăng giảm và gây gián đoạn lớp học hoặc giao tiếp. Trẻ dễ bị nhắc nhở vì bị hiểu là cố tình gây tiếng động. [50]
Thuộc các rối loạn TICs nguyên phát khi đã loại trừ nguyên nhân khác; không suy ra căn nguyên chỉ từ kiểu âm thanh. [48] Hắng giọng, khịt mũi, phát âm ngắn, lặp âm hoặc từ. Cần hỏi thêm về khả năng chú ý, tình trạng lo âu và hành vi cưỡng chế. [50]
Phân biệt viêm mũi, hen, trào ngược, bệnh thanh quản và các nguyên nhân ho. Hỏi tiền sử TICs vận động; chỉ một lần khám không thấy động tác chưa đủ loại trừ Tourette. [49]
Giải thích cho giáo viên và những người liên quan trong môi trường học đường, can thiệp hành vi thích hợp với âm thanh và cân nhắc thuốc nếu triệu chứng gây ảnh hưởng đáng kể. [32,40] Theo dõi mức khó chịu, ảnh hưởng đến giao tiếp và khả năng học; xem kết quả qua nhiều tuần và nhiều hoàn cảnh. [34,40]
Không dùng kháng sinh hoặc thuốc ho chỉ để xử lý TICs khi không có bệnh tương ứng. Nếu dùng thuốc giảm TICs, nguy cơ phụ thuộc loại thuốc và cần theo dõi. [51] Không gán kết quả nghiên cứu chung về TICs cho riêng dạng âm thanh. Các thử nghiệm thường tuyển nhiều dạng TICs, nên cần đọc thành phần mẫu trước khi kết luận. [35]
18. Hội chứng Tourette
Theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, hội chứng Tourette (Tourette syndrome) có ít nhất hai TICs vận động và một TIC âm thanh trong quá trình bệnh, không cần cùng lúc; kéo dài hơn một năm từ khởi phát và bắt đầu trước 18 tuổi. [31] Thường bắt đầu ở tuổi nhỏ, dao động theo thời gian. Nhiều người giảm TICs vào tuổi thiếu niên hoặc trưởng thành sớm; một số còn kéo dài. Đau, bị trêu chọc và bệnh đi kèm có thể ảnh hưởng lớn hơn chính số lần TICs. [33]
Nghiên cứu chỉ ra yếu tố di truyền và khác biệt trong mạng thần kinh điều khiển vận động. Cơ chế chưa được giải thích đầy đủ; không có một xét nghiệm thường quy xác định nguyên nhân ở mọi trẻ. [48] TICs đơn giản hoặc phức tạp ở mặt, đầu, thân, chi và âm thanh. Nói tục không phải điều kiện chẩn đoán và không có ở mọi người. Tăng động giảm chú ý, ám ảnh cưỡng chế và lo âu có thể cùng hiện diện. [50]
Chẩn đoán dựa vào bệnh sử và biểu hiện lâm sàng. Không cần làm đồng loạt điện não đồ hoặc chụp não trong ca điển hình; xét nghiệm được lựa chọn khi nghi bệnh khác. Cần phân biệt với những rối loạn vận động, động kinh và biểu hiện giống TICs khởi phát đột ngột. [49]
Giáo dục, hỗ trợ nhà trường và can thiệp hành vi; cân nhắc thuốc theo mức ảnh hưởng. Một số trường hợp dùng clonidine hoặc guanfacine, nhất là có tăng động giảm chú ý; thuốc chống loạn thần như aripiprazole là lựa chọn chuyên khoa. Đồng thời điều trị bệnh đi kèm thực sự gây khó khăn. [34,36] Mục tiêu là giảm cản trở, đau và nâng khả năng sinh hoạt. Thử nghiệm năm 2010 trên 126 trẻ 9–17 tuổi dùng 8 buổi trong 10 tuần: 52,5% nhóm can thiệp hành vi cải thiện nhiều hoặc rất nhiều, so với 18,5% nhóm hỗ trợ–giáo dục. Trong những trẻ đáp ứng và còn được đánh giá, 87% duy trì lợi ích sau 6 tháng. Đây không phải tỷ lệ khỏi bệnh. [35]
Chưa có phương pháp bảo đảm hết vĩnh viễn mọi TICs. Thuốc có thể gây an thần, tăng cân, ảnh hưởng chuyển hóa, huyết áp hoặc vận động tùy loại. Phải đánh giá định kỳ nhu cầu tiếp tục dùng; một số thuốc cần giảm liều từ từ. [34] CDC dẫn ước tính khoảng 1/162 trẻ có Tourette khi tính cả trường hợp chưa được chẩn đoán. Khảo sát cha mẹ tại Hoa Kỳ giai đoạn 2016–2019 ghi nhận khoảng 1/333 trẻ 3–17 tuổi đã được chẩn đoán. Chênh lệch phản ánh khác biệt cách nhận diện và khả năng bỏ sót, không phải hai tỷ lệ dùng thay nhau. [33]
19. TICs khác và biểu hiện giống TICs
Biểu hiện giống TICs khởi phát đột ngột có thể cần chẩn đoán khác với Tourette. [31] Diễn biến có thể khác TICs phát triển điển hình. Cần xem bệnh nền, thuốc, diễn biến thần kinh và hoàn cảnh khởi phát. Động tác hoặc âm thanh có vẻ giống TICs; chỉ dựa vào hình thức bên ngoài thì chưa xác định được cơ chế. Cần đánh giá chuyên môn, không chẩn đoán chỉ từ video ngắn hoặc một đặc điểm riêng lẻ.
Điều trị theo chẩn đoán và nguyên nhân được xác định; không áp dụng máy móc phác đồ Tourette. Đặt mục tiêu theo chức năng và đánh giá lại diễn biến. Chẩn đoán nhầm có thể dẫn đến dùng thuốc không phù hợp hoặc bỏ sót bệnh nền. Cần xác định đúng chẩn đoán trước khi áp dụng kết quả nghiên cứu về Tourette. [52]
III. Nguồn tài liệu tham khảo cho Mục II
Xin theo dõi trong CHƯƠNG D – Phụ Lục
III. Bảng đối chiếu từng bệnh
Đối chiếu các điểm đã trình bày ở Mục II. “Khác” hoặc “chưa xác định” là tên phân loại, không phải một bệnh đồng nhất. Cột nguyên nhân ghi cả căn nguyên đã biết và yếu tố góp phần; cột nguy cơ ghi tác dụng bất lợi hoặc nguy cơ khi đánh giá, can thiệp.
Các dạng TICs nguyên phát dưới đây khởi phát trước 18 tuổi, không do thuốc hoặc bệnh khác; tiêu chuẩn thời gian tính từ lần xuất hiện đầu tiên. Vận động và âm thanh trong Tourette không cần xuất hiện cùng lúc. [31]
| Tên bệnh | Nguyên nhân | Triệu chứng | Chẩn đoán | Phương pháp chữa trị | Mục đích | Kết quả | Giới hạn | Nguy cơ |
| Rối loạn phát triển trí tuệ [1] | Di truyền; chuyển hóa; tổn thương; chưa rõ | Hạn chế nhận thức và thích nghi | Đánh giá trí tuệ + thích nghi; bệnh sử | Hỗ trợ sớm; giáo dục; trị nguyên nhân nếu có | Tăng tự lập; giao tiếp; tham gia | Tiến bộ tùy mức độ, căn nguyên | Không đồng nhất; thường cần hỗ trợ lâu dài | Bỏ sót bệnh nền; can thiệp quá sức |
| Rối loạn phát triển âm lời nói [4] | Thường chưa rõ; cần loại trừ bệnh khác | Sai, thiếu, thay âm; khó hiểu lời | Mẫu lời nói; tuổi; thính lực; cơ quan phát âm | Trị liệu âm lời nói; luyện trong giao tiếp | Nói rõ; giao tiếp hiệu quả | Cải thiện phát âm; tùy dạng | Thời gian khác nhau; cần thực hành | Ép luyện; sai chuẩn ngôn ngữ |
| Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói [6] | Đa yếu tố; di truyền; điều khiển lời nói | Lặp; kéo dài; tắc lời; gắng sức | Đánh giá lời nói, gắng sức, ảnh hưởng | Trị liệu lời nói; hướng dẫn gia đình | Giao tiếp dễ hơn; giảm né tránh | Có thể cải thiện; có thể kéo dài | Khó dự đoán; diễn biến tự nhiên | Thúc ép nói; tăng lo âu, né tránh |
| Rối loạn phát triển ngôn ngữ [9] | Đa yếu tố; di truyền; chưa rõ đầy đủ | Khó hiểu; ít từ; khó cấu tạo câu; khó diễn đạt. | Đánh giá ngôn ngữ; thính lực; phát triển | Trị liệu ngôn ngữ; hỗ trợ học, giao tiếp | Hiểu và diễn đạt tốt hơn | Tăng kỹ năng; có thể còn khó học | Tiến độ khác nhau; hỗ trợ dài hạn | Bỏ sót nghe kém; quy kết sai nguyên nhân cho việc sử dụng hai ngôn ngữ. |
| Rối loạn phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ khác [3] | Tùy trường hợp | Biểu hiện ngoài dạng đã nêu | Làm rõ dạng; đánh giá chuyên môn | Theo khó khăn cụ thể | Tăng giao tiếp | Tùy dạng, mức độ | Không có tiên lượng chung | Gán nhãn thay đánh giá |
| Rối loạn phổ tự kỷ [12,14] | Đa yếu tố; di truyền; phát triển não | Khó giao tiếp xã hội; hạn hẹp, lặp lại | Bệnh sử phát triển; quan sát; đánh giá | Hỗ trợ phát triển, giao tiếp; trị bệnh kèm | Tăng kỹ năng, tự lập; giảm cản trở | Cải thiện tùy trẻ, mục tiêu | Không có thuốc chữa biểu hiện cốt lõi | Ép can thiệp; tác dụng thuốc tùy loại |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về đọc [16,18] | Đa yếu tố; di truyền; xử lý ngôn ngữ | Khó giải mã, đọc trôi chảy, hiểu | Đánh giá đọc; lịch sử học; loại trừ | Dạy đọc có hệ thống; hỗ trợ học | Tăng kỹ năng đọc, tiếp cận bài | Tiến bộ tùy trẻ, chương trình | Có thể tồn tại; không thuốc đặc hiệu | Gán nhãn do điểm thấp; quá tải |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn diễn đạt bằng chữ viết [16,38] | Đa yếu tố; phát triển ngôn ngữ, nhận thức | Sai chính tả; câu, bố cục yếu | Đánh giá bài viết; phân biệt khó vận động | Dạy viết, chính tả; công cụ hỗ trợ | Diễn đạt rõ bằng chữ viết | Cải thiện kỹ năng được dạy | Khác khó viết tay; có thể kéo dài | Nhầm chữ xấu với rối loạn viết |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về toán [16,18] | Đa yếu tố; xử lý số lượng, ký hiệu | Khó hiểu số; phép tính; giải toán | Đánh giá toán; quá trình học; loại trừ | Dạy toán trực tiếp; trực quan; luyện phù hợp | Hiểu số; tính toán; ứng dụng | Tiến bộ tùy kỹ năng, hỗ trợ | Không đồng đều; không thuốc đặc hiệu | Quy kết sai rằng trẻ lười; tăng sợ toán. |
| Rối loạn phát triển học tập khác hoặc chưa xác định cụ thể [3] | Chưa xác định riêng | Khó học chưa xếp rõ dạng | Làm rõ kỹ năng; bổ sung thông tin | Hỗ trợ theo kỹ năng thiếu | Tăng khả năng học | Theo mục tiêu cụ thể | Tên phân loại; không phải một bệnh đồng nhất | Bỏ sót dạng cụ thể; hỗ trợ sai |
| Rối loạn phát triển phối hợp vận động [20] | Chưa rõ; yếu tố phát triển; sinh non | Vụng về; chậm; khó sinh hoạt | Đánh giá vận động; ảnh hưởng; loại trừ | Hoạt động trị liệu; vật lý trị liệu; luyện nhiệm vụ | Tăng tự lập; tham gia sinh hoạt | Tốt hơn ở nhiệm vụ được tập | Khả năng áp dụng kỹ năng đã học vào những nhiệm vụ khác còn hạn chế. | Quá sức; đau; thất vọng |
| Rối loạn tăng động giảm chú ý [24] | Đa yếu tố; đóng góp di truyền | Kém chú ý; tăng động; xung động | Nhiều nguồn; ≥2 môi trường; kéo dài | Hướng dẫn cha mẹ; hỗ trợ trường; thuốc theo chỉ định | Giảm triệu chứng; tăng chức năng | Cải thiện khi điều trị phù hợp | Không bảo đảm hết lâu dài; cần theo dõi | Thuốc: ăn kém, mất ngủ; cân nặng, mạch, huyết áp |
| Rối loạn vận động định hình [28,29] | Cơ chế chưa rõ; nguyên phát hoặc đi kèm | Động tác theo khuôn, có nhịp; đôi khi tự hại | Quan sát; hoàn cảnh; phân biệt TICs, động kinh | Điều chỉnh hoàn cảnh; hành vi; bảo vệ | Giảm cản trở, thương tích | Có thể giảm mức ảnh hưởng | Bằng chứng thuốc hạn chế | Can thiệp quá mức; bỏ sót tự hại |
| Rối loạn phát triển thần kinh khác hoặc chưa xác định cụ thể [3] | Tùy trường hợp; chưa rõ | Khó khăn chưa xếp rõ dạng | Mô tả chức năng; bổ sung dữ liệu | Theo nhu cầu; trị bệnh nền nếu có | Cải thiện chức năng | Theo mục tiêu cá nhân | Không phác đồ, tiên lượng chung | Dừng đánh giá ở tên phân loại |
| Rối loạn TICs tạm thời [31,34] | Di truyền; cơ chế thần kinh chưa rõ hết | TICs vận động và/hoặc âm thanh | Dưới 1 năm từ khởi phát; loại trừ | Giải thích; theo dõi; hành vi; thuốc nếu cần | Giảm khó chịu, cản trở | Có thể giảm, hết hoặc kéo dài | Tên gọi không bảo đảm tự hết | Ép nén TICs; tác dụng thuốc |
| Rối loạn TICs vận động mạn tính [31,34] | Di truyền; đa yếu tố | Chớp mắt; giật đầu; nhún vai | Chỉ vận động; >1 năm; không Tourette | Can thiệp hành vi; thuốc nếu cần | Giảm TICs, đau, cản trở | Đáp ứng khác nhau; dao động | Có thể kéo dài; cần thực hành | Thuốc: buồn ngủ; huyết áp; tăng cân tùy loại |
| Rối loạn TICs âm thanh mạn tính [31,34] | Di truyền; đa yếu tố | Hắng giọng; khịt; phát âm lặp | Chỉ âm thanh; >1 năm; không Tourette | Can thiệp hành vi; thuốc nếu cần | Giảm cản trở giao tiếp, học | Đáp ứng khác nhau; dao động | Phân biệt bệnh gây ho, khịt | Nhầm bệnh hô hấp; tác dụng thuốc |
| Hội chứng Tourette [31,34,35] | Di truyền; mạng vận động; chưa rõ hết | TICs vận động + âm thanh | ≥2 vận động; ≥1 âm thanh; >1 năm | Hành vi; thuốc theo chỉ định; trị bệnh kèm | Giảm đau, cản trở; tăng chức năng | Có bằng chứng cải thiện; có thể nhẹ dần | Không bảo đảm hết vĩnh viễn | Thuốc: an thần; chuyển hóa; vận động tùy loại |
| TICs khác và biểu hiện giống TICs [52] | Tùy bệnh nền, thuốc hoặc cơ chế chức năng | Động tác, âm thanh giống TICs | Bệnh sử; khám; chẩn đoán phân biệt | Theo chẩn đoán và nguyên nhân | Khôi phục chức năng | Tùy căn nguyên, điều trị | Không dùng chung tiên lượng Tourette | Chẩn đoán nhầm; thuốc không phù hợp |
IV. Giám luận
Tư liệu Y Học Triệu Chứng cho thấy:
• Các rối loạn được khảo cứu không có chung một nguyên nhân. Một số trường hợp có căn nguyên xác định như bất thường di truyền, bệnh chuyển hóa hoặc tổn thương thần kinh; nhiều trường hợp chỉ nhận diện được các yếu tố góp phần, chưa giải thích đầy đủ sự xuất hiện và diễn biến ở từng trẻ. Yếu tố nguy cơ, yếu tố làm triệu chứng tăng và nguyên nhân gây bệnh là những điều cần phân biệt. Mối liên hệ thống kê chưa đủ xác định nguyên nhân cho một trường hợp cụ thể. [1,9,12,24]
• Tên chẩn đoán thường dựa vào sự biểu hiện, tuổi khởi phát, thời gian tồn tại và mức ảnh hưởng đến sinh hoạt. Chẩn đoán còn phải xét lịch sử phát triển, thông tin gia đình và nhà trường, đánh giá chuyên môn cùng việc phân biệt những bệnh có biểu hiện tương tự. Một trẻ có thể đồng thời có nhiều rối loạn; cùng một triệu chứng có thể xuất hiện trong nhiều bệnh. Vì vậy, tên bệnh giúp nhận diện và định hướng chăm sóc, nhưng tự nó không xác định được căn nguyên bệnh. Chậm nói, hiếu động hay động tác lặp riêng lẻ chưa đủ để kết luận một chẩn đoán. [3,18,24,31]
• Các phương pháp hiện hành tác động ở những mức khác nhau: điều trị nguyên nhân khi nguyên nhân đó đã được xác định và có biện pháp phù hợp; điều chỉnh cơ chế hoặc giảm triệu chứng; rèn kỹ năng và cải thiện điều kiện học tập, giao tiếp, sinh hoạt. Thuốc, trị liệu ngôn ngữ, can thiệp hành vi và hỗ trợ giáo dục có mục tiêu khác nhau, không thể đánh giá bằng một tiêu chí duy nhất. Giảm triệu chứng có thể đem lại lợi ích thiết thực dù chưa loại bỏ căn nguyên; ngược lại, giảm triệu chứng sau can thiệp chưa chứng minh đã tìm đúng nguyên nhân. [1,14,16,20,24,34]
• Kết quả cần được xem xét cùng với mức cải thiện, thời gian theo dõi, khả năng duy trì và điều kiện tiếp tục hỗ trợ. Trẻ giảm TICs, tập trung hơn hoặc giao tiếp tốt hơn là những kết quả khác nhau; cải thiện trong ca can thiệp chưa đồng nghĩa với sự cải thiện ổn định ở nhà và tại trường học. Riêng TICs vốn tăng giảm và có thể nhẹ dần theo tuổi, nên một giai đoạn giảm biểu hiện chưa đủ để phân biệt hiệu quả điều trị với diễn biến tự nhiên. Kết quả của một nghiên cứu cũng không đại diện cho mọi trẻ mang cùng tên chẩn đoán. [24,34,35]
• Giá trị của chữa trị phải được xét cùng lúc ở lợi ích, tác dụng bất lợi, gánh nặng thực hiện và khả năng tham gia đời sống của trẻ. Không có một tỷ lệ cải thiện hoặc một giới hạn điều trị chung cho toàn bộ các rối loạn này. Những gì đã được xác định cần ghi đúng mức chứng cứ; những gì còn chưa rõ cần để nguyên là chưa rõ. [1,14,20,24,34]
CHƯƠNG B – TICs và RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Chương này trình bày hệ tư tưởng, thuật ngữ và phương thức tiếp cận của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs đối với TICs và các rối loạn phát triển ở trẻ em. Hai tuyên ngôn và những nguyên lý làm nền cho liệu pháp này được trình bày dưới đây thuộc mô hình lý luận đặc thù của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs (TÁC-Ý-Science P.E.R.G.® according NGOs)
I. Tư tưởng luận và khái niệm nền
I.1. 4-TRỤ (Four Pillars).
Nền tảng của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs là 4-TRỤ gồm TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN. Bốn trụ được đặt trong mối tương tác bất phân để quán chiếu, nhận biết và diễn giải những gì ĐANG hiện hành, ĐANG có mặt nơi ĐANG xảy ra.
1. TÂM là Kho Dữ liệu Sống (Life Data Bank).
• ghi–nạp, tức ghi nhận, thu nạp và lưu giữ dữ liệu;
• là nơi chứa tất cả những dữ liệu sống đã được ghi–nạp từ quá khứ đến hiện tại và tiếp tục được ghi–nạp trong quá trình sống;
• hoàn toàn không phải là thức, sự nhận biết, tỉnh giác, năng lượng hay tâm như cách sử dụng từ “tâm” trong các trường phái, học thuật khác;
• vì bản chất của TÂM TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs là „ba KHÔNG“ gồm “không TRI – không THỨC – không GIÁC” (no Recognition – no Consciousness – no Awareness) – TÂM chỉ đơn thuần là KHO chứa dữ liệu nên hoàn toàn KHÔNG có khả năng TỰ tri – TỰ thức và TỰ giác!.
2. TÁC-Ý là Ý muốn ĐANG hiện hành (Presently, continuously operating will).
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs: TÁC-Ý ĐANG hiện hành là ý muốn lựa chọn và sử dụng dữ liệu từ kho TÂM làm đầu vào (INPUT) để định hướng mọi sự vận hành dẫn đến tình trạng hoặc hiện tượng ĐANG xảy ra tương ứng ở đầu ra (OUTPUT). Những dữ liệu phát sinh này liên tục ghi–nạp vào kho TÂM.
3. NĂNG là cường độ tâm lý (psycho-energetic intensity), tương ứng với TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
4. THÂN (Soma) là NƠI mọi hiện tượng ĐANG xảy ra (Location of presently, continuously happening) – trên, bên trong và bên ngoài thân. TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, THÂN được xem là phần cơ thể vật lý lẫn những trạng thái tâm lý liên quan đến cơ thể. Các hiện tượng ấy có thể được nhận biết qua thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, qua trải nghiệm tâm lý như tưởng tượng, hoặc được ghi nhận bằng những phương tiện cân, đong, đo, đếm phù hợp với từng hiện tượng.
Một thuật ngữ của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs cần được giải trình ở đây là ĐANG.
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, ĐANG không chỉ có nghĩa là “ở đây và bây giờ” (here and now), mà nhấn mạnh tính hiện hành liên tục. “Ở đây và bây giờ” không được xem như một thời điểm cố định, tách rời khỏi những gì vừa diễn ra và những gì tiếp tục phát sinh. Theo “Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành” (Presently and continuously operating logical-natural order), thì hiện tại và bây giờ KHÔNG phải là một điểm „chết“ trên một đường thẳng ĐANG chuyển động liên tục như một chuỗi nối tiếp của từng điểm một,
Khái niệm ĐANG theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs khi được hiểu theo nguyên tắc „đầu vào – đầu ra“ (Input-Output) nghĩa là: những gì ĐANG xảy ra là đầu ra (Output) của quá trình trước đó (Input), nhưng đồng thời nó là đầu vào (input) cho đầu ra (Output) kế tiếp. Đầu vào-đầu ra vì thế được xem là trong mối liên hệ nối tiếp, liên tục, không tách thành từn thời điểm độc lập riêng lẻ.
Vì thế khái niệm ĐANG được dùng theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs mang ý nghĩa tương tác bất phân giữa TÁC-Ý – NĂNG – THÂN:
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating);
• NĂNG ĐANG có mặt (presently, continuously appearing);
• hiện tượng ĐANG xảy ra nơi THÂN (presently, continuously happening) – trên, bên trong và bên ngoài thân.
ối liên hệ ấy được diễn đạt qua Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành (Logical-natural presently continuously operating order) và nguyên lý đầu vào–đầu ra. Công thức “INPUT ĐANG là gì thì OUTPUT ĐANG là thế” tóm tắt hướng giải thích của P.E.R.G.® nach NGOs: từ hiện tượng ĐANG xảy ra, quá trình CHẨN – ĐỊNH nhận biết chính xác TÁC-Ý ĐANG hiện hành được xem là đầu vào (Input) dẫn đến hiện tượng ĐANG xảy ra là đầu ra (Output).
I.2. 4-Y (Four Medicines):
4-Y gồm Y-LÝ – Y-HỌC – Y-THUẬT – Y-HÀNH, là quy trình triển khai 4-TRỤ theo học thuật CHẨN – ĐỊNH – TRỊ (Diagnosis – Indication Assessment – Therapy) theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
1. Y-LÝ (Medical Theory) giải trình nền tảng 4-TRỤ.
2. Y-HỌC (Medical Science) triển khai nội dung Y-LÝ.
3. Y-THUẬT (Medical Technique) gồm 2 kỹ thuật căn là:
3.1. Kích Hoạt Não Bộ (Brain-Stimulation), viết tắt là „PERG-BS“, gồm những thao tác đặc thù của P.E.R.G.® nach NGOs để hợp tác việc
3.2. Cài đặt (Installation) Lập Trình Thông tin của TÁC-Ý „MỚI“ (Messenger PERG/News), viết tắt là „mPERG/News“, vào não bộ;
4. Y-HÀNH (Medical Practice) là sự thực hành ba yếu tố giúp bệnh nhân TỰ nhận biết (SELF Recognize) – TỰ thực hiện (SELF practice) – TỰ LÀM MỚI (SELF RENEW)
Tuyên ngôn: “TÁC-Ý ĐANG hiện hành là GỐC mọi chứng bệnh” là mệnh đề trung tâm cho cách CHẨN – ĐỊNH – TRỊ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
Cho nên, theo định hướng này, tên bệnh chỉ là tên gọi của tình trạng được nhận diện; còn trọng tâm CHẨN-ĐỊNH của P.E.R.G.® nach NGOs việc CHẨN – ĐỊNH là nhận biết chính xác TÁC-Ý ĐANG hiện hành
• ngay nơi bối cảnh, môi trường ĐANG có mặt
• dẫn đến hiện tượng triệu chứng bệnh ĐANG xảy ra
II. “TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh” và “Di truyền KHÔNG di bệnh”
II.1. Trong hệ tư tưởng TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, tuyên ngôn “TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh” là kết quả tất yếu của mối tương tức bất phân giữa 4-TRỤ. Theo nội hàm tuyên ngôn này, tất cả bệnh ĐANG xảy ra nơi THÂN được lý giải là hệ quả của
• TÁC-Ý ĐANG hiện hành,
• NĂNG ĐANG có mặt
Vì vậy, TÂM-THỂ là khái niệm nền tảng bệnh học theo TÁC-Ý Học của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs
II.2. Tuyên ngôn “Di truyền KHÔNG di bệnh”
Tuyên ngôn này khẳng định vị trí trung tâm của TÁC-Ý ĐANG hiện hành trên nền tảng tuyên ngôn „TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh”.
Theo định hướng đó, TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs KHÔNG lấy hiện tượng bệnh ĐANG xảy ra làm điểm xuất phát, mà trước tiên bắt đầu với câu hỏi:CÁI GÌ ĐANG hiện hành dẫn đến tình trạng ĐANG xảy ra?
Cho nên mọi thông tin về di truyền không kết thúc qua trình CHẨN – ĐỊNH theo hướng này.Vì thế, hai tuyên ngôn cùng định hướng một trình tự thực hành: CHẨN – ĐỊNH để nhận biết chính xác TÁC-Ý ĐANG hiện hành. Từ kết quả này, nội dung TÁC-Ý „MỚI“ (mPERG/News) được xác lập bắng Y-HỌC và thông qua kỹ thuật Kích hoạt Não bộ (PERG-BS) được cài đặt vào não bộ làm cơ sở Y-HÀNH: bệnh nhân TỰ nhận biết – TỰ thực hiện – TỰ LÀM MỚI. Phần thực hành này hướng dẫn bệnh nhân có thể TỰ làm mà không cần sử dụng y cụ hay dược phẩm để thực hiện Y-THUẬT này.
Liệu pháp này đã được áp dụng trong hơn 10 năm nhằm can thiệp các triệu chứng thuộc nhóm rối loạn tâm lý, rối loạn thần kinh, nói chung là Rối Loạn Phát Triễn ở trẻ em và thanh thiếu niên, bao gồm TICs, tăng động giảm chú ý, tự kỷ, chậm nói và những rối loạn phát triển khác.
Diễn biến và kết quả được ghi nhận trong những ca lâm sàng này đã và đang được tập hợp trong nhiều ATLAS-CASE liên quan đến chủ đề này.
III. CHẨN – ĐỊNH cho trẻ
Phương pháp đặc thù của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs để nhận biết chính xác TÁC-Ý ĐANG hiện hành ngay nơi NĂNG hay BỐI CẢNH ĐANG có mặt dẫn đến triệu chứng bệnh ĐANG xảy ra được áp dụng theo cùng một nguyên tắc ở mọi lứa tuổi.
Nghĩa là, ngay cả đối với những triệu chứng rối loạn phát triển hay rối loạn hệ thần kinh ở trẻ em và thanh thiếu niên đều không dừng lại ở tên bệnh hoặc ở hành vi dễ nhận thấy.
Chỉ CHẨN để nhận biết TÁC-Ý ĐANG hiện hành vẫn chưa chính xác để xác ĐỊNH được những điều kiện hay bối cảnh bên trong và bên ngoài ĐANG có mặt cùng TÁC-Ý ĐANG hiện hành. Bởi TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs:
TÁC-Ý KHÔNG thể hiện hành khi vắng bóng đối tượng ĐANG tiếp cận.
TÁC-Ý ĐANG hiện hành trong bối cảnh ĐANG có mặt dẫn đến những loại triệu chứng rối loạn phát triển do rối loạn tâm lý hay thần kinh theo y học triệu chứng ĐANG xảy ra ở trẻ TỪ ĐÂU phát sinh? Vì nội dung của từng TÁC-Ý ĐANG hiện hành là đầu ra (Output) thì PHẢI có đầu vào (Input) từ những dữ liệu được kho dữ liệu TÂM cung cấp. Ở điểm này, câu hỏi được đặt ra là:
1. Những dữ liệu, thông tin này đã được chính trẻ từng sử dụng và ghi–nạp vào kho TÂM?
2. Hay những dữ liệu, thông tin này được ghi–nạp qua tiếp xúc với Mẹ, Cha, giáo viên, bạn học hoặc người khác, hay được kích hoạt bởi một điều kiện, bối cảnh, môi trường nào đó?
Trường hợp 1, việc CHẨN – ĐỊNH chỉ áp dụng cho trẻ.
Trượng hợp 2, khi kết quả CHẨN không xác định như trường hợp 1, thì việc CHẨNđược tiếp tục để nhận biết chính xác GÔC của TÁC-Ý ĐANG hiện hành ở trẻ.
Cho dù GỐC này phát sinh từ ai đó, nhưng theo tuyên ngôn „di truyền KHÔNG di bệnh“ nhấn mạnh rằng: dù dữ liệu cho TÁC-Ý dẫn đến triệu chứng ĐANG xảy ra ở trẻ do người khác „cái đặt“ cho trẻ, điều cần nhận biết là TÁC-Ý sử dụng những dữ liệu ấy ĐANG hiện hành nơi trẻ. Đó là những dữ liệu được ghi-nạp không còn là những gì của quá khứ – mà nó ĐANG hiện hành.
Vì sao TÁC-Ý ĐANG hiện hành? Phương pháp CHẨN đặc thù của P.E.R.G.® nach NGOs giúp cho trẻ nhận biết được những gì ĐANG có mặt khiến trẻ có TÁC-Ý ĐANG hiện hành ấy, dẫn đền tình trạng rồi loạn phát triển ĐANG xảy ra cho trẻ.
Cơ sở kinh nghiệm được trình bày ở đây gồm hơn trên 10 năm ứng dụng TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs đối với trẻ có những triệu chứng rối loạn phát triển: 10 năm kinh nghiệm sinh hoạt với thanh thiếu niên phạm pháp trong trại cải huấn và 4 năm tiếp cận học sinh tăng động giảm chú ý và tự kỷ tại một trường trung học cấp 1-2, đồng thời được phép CHẨN – ĐỊNH – TRỊ cho một số em. Trong những trường hợp đã được chúng tôi CHẨN – ĐỊNH cho thấy trên 80% các trẻ và thanh thiếu niêncóị những triệu chứng rối loạn phát triển đó có GỐC liên quan đến người Mẹ trong thời kỳ mang thai. Số còn lại cho thấy TÁC-Ý ĐANG hiện hành của các em có liên quan đến môi trường, bối cảnh sinh sống trong gia đình, học đường, xã hội phát sinh.
Trong việc CHẨN – ĐỊNH – TRỊ trẻ em và thanh thiếu niên có kết quả TÁC-Ý ĐANG hiện hành có GỐC từ Mẹ, thì chúng tôi xin phép được CHẨN – ĐỊNH người Mẹ. Mục đích là giúp người Mẹ nhận biết TÁC-Ý ĐANG hiện hành nơi mình “dạo đó” chính là TÁC-Ý ĐANG hiện hành ở trẻ, để người Mẹ đồng hành cùng trẻ trong quá trình TRỊ.
IV. Ảnh hưởng của Mẹ trong quá trình THỤ – MANG – SINH và NUÔI DƯỠNG
Như đã trình bày ở Mục III, TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs đặt quá trình THỤ – MANG – SINH và NUÔI DƯỠNG trong mối liên hệ giữa đời sống của người Mẹ và sự phát triển của trẻ. “Nuôi dưỡng” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, bao gồm việc nuôi dưỡng cho thân và tâm của thai nhi qua sự dinh dưỡng của Mẹ với bốn loại:
ĐOÀN thực – XÚC thực – TƯ NIỆM thực – THỨC thực.
1. ĐOÀN thực là sự nuôi dưỡng bằng thức ăn, thức uống và cách ăn uống của người Mẹ, được xem trước tiên ở phương diện THÂN. Những chất dinh dưỡng người Mẹ hấp thụ trong giai đoạn thai kỳ:
• được truyền đến thai nhi để nuôi dưỡng thân (soma) qua nhau thai và dây rún;
• hình thành tín hiệu được ghi-nạp trong KHO DỮ LIỆU SỐNG (Life-Date-Bank) của thai nhi;
• nhằm cung cấp dữ liệu sống cho trẻ khi có TÁC-Ý ĐANG hiện hành „thích – không thích“ sau này đối với những thức ăn, nước uống đã từng được Mẹ hấp thụ trong thai kỳ.
2. XÚC thực là sự dinh dưỡng thông qua việc tiếp xúc của sáu căn với sáu trần: mắt -thấy, tai – nghe, mũi – ngửi, lưỡi – nếm, thân – xúc, ý – tưởng.
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs,
• sự tiếp XÚC làm phát sinh những cảm thọ (feelings) tiêu cực hoặc tích cực có cường độ mạnh, yếu khác nhau ở bình diện thân (soma), tâm lý (psychological aspects) hoặc tinh thần (mental aspects) của người Mẹ trong thai kỳ, cường độ ấy được gọi là NĂNG (psycho-energetic intensity, level of Psyche or Psychiatry).
• NĂNG này được truyền đến thai nhi qua các quá trình thần kinh sinh học (Neurobiology), ví dụ qua chất dẫn truyền thần kinh, để ghi-nạp trong Kho Dữ Liệu Sống (Life-Daten-Bank) của thai nhi;
• những thông tin này được cung cấp khi trẻ có TÁC-Ý ĐANG hiện hành „như ý – bất như ý“ lúc tiếp xúc với những đối tượng ĐANG có mặt của sáu giác căn mà Mẹ đã từng trải nghiệm trong thai kỳ.
3. TƯ NIỆM thực là sự dinh dưỡng bằng Ý MUỐN, NHỚ NGHĨ có liên hệ đến TÁC-Ý ĐANG hiện hành (Presently, continuously operating Will).
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs những ý muốn hay sự nhớ nghĩ của người Mẹ trong thai kỳ, dù đã được thể hiện thành hành động hay chưa, đều được tự động ghi–nạp trong Kho Dữ Liệu Sống của Mẹ. Từ đó:
• nội dung TÁC-Ý ĐANG hiện hành đó của Mẹ hình thành dữ liệu tín hiệu sống (life-data);
• những dữ liệu này được truyền và ghi-nạp vào kho dữ liệu sống của thai nhi qua những quá trình thần kinh sinh học (Neurobiology) giữa Mẹ và thai nhi, tương tự quá trình XÚC thực, để hình thành và phát triển hệ thần kinh của trẻ.
4. THỨC thực, theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, chỉ là những dữ liệu được ghi-nạp và lưu trữ trong Kho Dữ Liệu Sống của Mẹ trong thai kỳ. Những dữ liệu sống này:
• không những liên tục cung cấp dữ liệu cho mọi TÁC-Ý ĐANG hiện hành riêng của Mẹ;
• mà còn nuôi dưỡng và góp phần phát triển hệ thần kinh của thai nhi bằng cách truyền-nạp liên tục những dữ liệu sống của Mẹ vào kho dữ liệu sống của thai nhi qua các quá trình thần kinh sinh học (Neurobiology).
Tóm lại, theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, bốn loại dinh dưỡng ĐOÀN thực – XÚC thực – Tư-Niệm thực – THỨC thực góp phần hình thành và phát triển thân (soama), tâm lý (psychological) và hệ thần kinh (nervous system) của thai nhi thông qua các quá trình sinh học–vật lý (biophysical processes) và thần kinh sinh học (neurobiology).
• Đây là nội dung mà y học triệu chứng và khoa học còn đang ngờ vực và khảo sát.
• Những triệu chứng được định danh theo bảng phân loại bệnh quốc tế, lần thứ 11 (ICD-11), kể cả cái gọi là tự kỷ (autism) hay phổ tự kỷ (autism spectrum), theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, cũng chỉ là một sự Rối Loạn Phát Triển do rối loạn tâm lý hay rối loạn thần kinh gây ra.
Nếu diễn đạt bằng hình ảnh một “phân số”, tất cả tên bệnh được xác lập từ những rối loạn tâm lý hay rối loạn thần kinh được hiểu CHỈ là những TỬ SỐ rời rạc, riêng lẻ; còn MẪU SỐ chung của chúng là Rối Loạn Phát Triển (Developmental disorders).
Vì thế tình trạng Rối Loạn Phát Triển của trẻ và thanh thiếu niên chịu ảnh hưởng đáng kểTÁC-Ý ĐANG hiện hành của Mẹ thông qua bốn loại dinh dưỡng ĐOÀN thực – XÚC thực – TƯ NIỆM thực – THỨC thực trong quá trình Thụ – Mang – Sinh.
Theo cấu trúc bốn loại dinh dưỡng của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, nội hàm của câu này được diễn đạt theo hướng thực tế hơn là:
“con là BẢN SAO của Mẹ” (A child is a COPY of their mother).
Mục V tiếp theo trình bày những yếu tố khả thi ĐANG có mặt khi những triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ĐANG xảy ra
V. Ảnh hưởng của gia đình, giáo dục, học đường và môi trường sống đối với tình trạng Rối Loạn Phát Triển ĐANG xảy ra của trẻ em
Sau khi ra đời, cuộc sống của trẻ diễn ra hằng ngày trong những mối quan hệ với cha mẹ, người thân, người chăm sóc, giáo viên, bạn học và nhiều yếu tố môi trường, xã hội khác.
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, những mồi quan hệ này PHẢI được CHẨN để nhận biết chính xác chúng có liên quan hay không đến TÁC-Ý ĐANG hiện hành của trẻ bị Rối Loạn Phát Triển, thay vì chỉ được ghi nhận như những thông tin trong bệnh sử (medical history).
CHƯƠNG C – Đối chiếu TICs và RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN theo 4-TRỤ / 4-Y P.E.R.G.® nach NGOs
Tên bệnh và mã theo Bảng phân loại bệnh quốc tế, lần thứ 11 (International Classification of Diseases, 11th Revision, ICD-11). Mỗi hàng đặt cách tiếp cận của Y Học Triệu Chứng bên cạnh cách tiếp cận của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs theo 4-TRỤ và 4-Y, nền tảng của liệu pháp này.
Danh mục giữ nguyên các mục đã khảo cứu ở Chương A; TICs được gộp trong một hàng. Các mục “khác/chưa xác định” được giữ riêng để không bỏ sót cấu trúc phân loại. Đây không phải là danh sách đấy đủ các phân nhóm, mức độ hoặc mã chi tiết của ICD-11. [3]
I. Đối chiếu theo 4-TRỤ:
• TÂM: Kho Dữ liệu Sống có bản chất “không TRI – không THỨC – không GIÁC”.
• TÁC-Ý: ý muốn ĐANG hiện hành liên tục.
• NĂNG: cường độ cảm xúc, tâm lý ĐANG có mặt.
• THÂN: NƠI tình trạng ĐANG xảy ra – trên, bên trong và bên ngoài thân.
• CHẨN P.E.R.G.®: xác định rõ TÁC-Ý ĐANG hiện hành ở từng trẻ; không suy diễn từ tên bệnh.
| Tên bệnh / mục phân loại Mã ICD-11 | Y HỌC TRIỆU CHỨNG Chẩn đoán – điều trị | P.E.R.G.® TÁC-Ý | P.E.R.G.® TÂM | P.E.R.G.® NĂNG | P.E.R.G.® THÂN (ghi nhận) |
| TICs, gồm hội chứng Tourette 8A05; Tourette: 8A05.00 | Dạng TICs; thời gian; chẩn đoán loại trừ. Theo dõi,can thiệp hành vi; thuốc khi cần. [34,52] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển trí tuệ 6A00 | Khả năng trí tuệ và thích nghi; tìm căn nguyên. Hỗ trợ sớm; điều trị nguyên nhân khi có thể. [1] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu đến? | CHẨN: cường độ và bối cảnh khả thi ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển âm lời nói 6A01.0 | Mẫu lời nói; thính lực. Trị liệu âm lời nói. [4] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu đến? | CHẨN: cường độ và bối cảnh khả thi ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói 6A01.1 | Độ lưu loát; mức độ gắng sức; mức độ ảnh hưởng. Trị liệu lời nói. [6] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển ngôn ngữ 6A01.2 | Hiểu, diễn đạt; thính lực; phát triển. Trị liệu ngôn ngữ. [9] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ khác / chưa xác định 6A01.Y; 6A01.Z | Làm rõ dạng rối loạn; bổ sung đánh giá. Hỗ trợ đối với những khó khăn cụ thể. [3] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phổ tự kỷ 6A02 | Lịch sử phát triển; quan sát. Hỗ trợ giao tiếp, kỹ năng; trị bệnh kèm. [12,14] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về đọc 6A03.0 | Kỹ năng đọc; quá trình học tập. Dạy đọc có hệ thống; hỗ trợ học tập. [16,18] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn diễn đạt bằng chữ viết 6A03.1 | Bài viết; phân biệt với khó khăn khi viết tay. Dạy viết; công cụ hỗ trợ. [16,38] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về toán 6A03.2 | Khả năng hiểu số và thực hiện phép tính; quá trình học. Dạy toán trực tiếp, trực quan. [16,18 | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển học tập khác / chưa xác định 6A03.3; 6A03.Z | Làm rõ những kỹ năng mà trẻ gặp khó khăn khi học. Hỗ trợ theo nhu cầu; đánh giá lại. [3,18] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển phối hợp vận động 6A04 | Kỹ năng vận động; mức độ ảnh hưởng; chẩn đoán loại trừ. Hoạt động trị liệu; luyện tập theo nhiệm vụ. [20] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn tăng động giảm chú ý 6A05 | Thông tin từ nhiều nguồn, trong nhiều môi trường; mức độ ảnh hưởng. Hỗ trợ hành vi, hỗ trợ tại trường học; thuốc theo chỉ định. [24] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn vận động định hình 6A06 | Khuôn mẫu động tác; mức độ ảnh hưởng; hành vi tự hại. Can thiệp hành vi; bảo vệ khi cần. [28,29] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
| Rối loạn phát triển thần kinh khác / chưa xác định 6A0Y; 6A0Z | Mô tả chức năng; bổ sung dữ liệu. Hỗ trợ theo nhu cầu. [3] | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành | CHẨN: TÁC-Ý ĐANG hiện hành phát sinh từ đâu? | CHẨN: cường độ và bối cảnh ĐANG có mặt | GHI NHẬN những biểu hiện của triệu chứng |
II. Đối chiếu theo 4-Y
• Y-LÝ: TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ.
• Y-HỌC: kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH.
• Y-THUẬT: phương pháp TRỊ.
• Y-HÀNH: hướng dẫn cáchTỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý.
| Tên bệnh / mục phân loại Mã ICD-11 | Y HỌC TRIỆU CHỨNG Cơ sở – mục tiêu | P.E.R.G.® Y-LÝ | P.E.R.G.® Y-HỌC | P.E.R.G.® Y-THUẬT | P.E.R.G.® Y-HÀNH |
| TICs, gồm hội chứng Tourette 8A05; Tourette: 8A05.00 | Phát triển thần kinh; di truyền. Giảm TICs và mức độ cản trở sinh hoạt. [34,52] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển trí tuệ 6A00 | Nhiều căn nguyên. Tăng khả năng thích nghi, tự lập. [1] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển âm lời nói 6A01.0 | Kỹ năng tạo âm. Tăng độ rõ của lời nói. [4] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói 6A01.1 | Đa yếu tố. Giảm mức độ gắng sức khi nói và sự né tránh giao tiếp. [6] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển ngôn ngữ 6A01.2 | Đa yếu tố. Tăng khả năng hiểu và diễn đạt. [9] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ khác / chưa xác định 6A01.Y; 6A01.Z | Mục phân loại. Mục tiêu được xác định theo khó khăn thực tế. [3] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phổ tự kỷ 6A02 | Đa yếu tố. Tăng khả năng giao tiếp, tự lập; hỗ trợ theo nhu cầu. [12,14] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về đọc 6A03.0 | Xử lý ngôn ngữ, học tập. Cải thiện kỹ năng đọc. [16,18] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn diễn đạt bằng chữ viết 6A03.1 | Kỹ năng viết. Tăng khả năng diễn đạt bằng chữ viết. [16,38] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển học tập với khó khăn về toán 6A03.2 | Xử lý số và kỹ năng học tập. Tăng khả năng hiểu và vận dụng toán. [16,18] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển học tập khác / chưa xác định 6A03.3; 6A03.Z | Mục phân loại. Mục tiêu được xác định theo kỹ năng bị ảnh hưởng. [3,18] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển phối hợp vận động 6A04 | Phát triển vận động. Tăng khả năng thực hiện nhiệm vụ và tự lập. [20] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn tăng động giảm chú ý 6A05 | Đa yếu tố; di truyền. Giảm triệu chứng; cải thiện chức năng. [24] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn vận động định hình 6A06 | Cơ chế chưa được làm rõ đầy đủ. Giảm mức độ cản trở sinh hoạt và nguy cơ thương tích. [28,29] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
| Rối loạn phát triển thần kinh khác / chưa xác định 6A0Y; 6A0Z | Mục phân loại. Làm rõ nhu cầu hỗ trợ và chẩn đoán. [3] | TÂM-THỂ học P.E.R.G.®, hệ 4-TRỤ. | Kỹ thuật CHẨN – ĐỊNH | Phương pháp TRỊ | Hướng dẫn cách TỰ thực hành LÀM MỚI TÁC-Ý |
III. Giám luận
1. Qua hai bảng đối chiếu, sự khác biệt giữa Y Học Triệu Chứng và TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs là đối tượng cần nhận biết khi chẩn đoán và căn cứ lựa chọn phương pháp điều trị. Cùng một trẻ có TICs hoặc rối loạn phát triển, hai hệ thống đặt ra những câu hỏi khác nhau; từ đó, triển khai những trình tự thực hành khác nhau.
• Y Học Triệu Chứng xác định trẻ có rối loạn gì đều thông qua việc đánh giá biểu hiện, diễn biến, mức độ ảnh hưởng, quá trình phát triển và chẩn đoán phân biệt. Tên bệnh và nhóm phân loại tạo cơ sở tổ chức việc đánh giá, tìm căn nguyên, nhận diện bệnh kèm và lựa chọn can thiệp. Theo nội dung Chương A, việc điều trị không hướng đến căn nguyên can thiệp, mà chủ yếu nhắm vào việc kiểm soát triệu chứng và giảm ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập, giao tiếp của trẻ.
2. TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs đặt trọng tâm CHẨN – ĐỊNH dựa vào câu hỏi:
“CÁI GÌ ĐANG hiện hành dẫn đến tình trạng ĐANG xảy ra?”.
Theo cơ sở luận được trình bày ở Chương B, đối tượng cần nhận biết là TÁC-Ý ĐANG hiện hành, nguồn dữ liệu mà TÁC-Ý sử dụng từ kho dữ liệu sống gọi là TÂM, cường độ trạng thái tâm-lý gọi là NĂNG và bối cảnh ĐANG có mặt; THÂN là nơi tình trạng triệu chứng ĐANG xảy ra. Theo cách tiếp cận này, tên bệnh chỉ ghi nhận tình trạng triệu chứng của trẻ, nhưng không thay thế kết quả CHẨN – ĐỊNH và không xác lập sẵn cách TRỊ.
Điều này dẫn đến một hệ quả cụ thể trong cách thực hành theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs:
• cùng tên bệnh không đồng nghĩa cùng một TÁC-Ý ĐANG hiện hành;
• khác tên bệnh cũng không mặc nhiên đồng nghĩa khác GỐC bệnh.
Như vậy, hai trẻ cùng có TICs PHẢI được CHẨN – ĐỊNH riêng.
Đồng thời, những biểu hiện được phân loại dưới các tên bệnh khác nhau Theo Y Học Triệu Chứng, vẫn phải quy chiếu theo nền tảng 4-TRỤ: TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN theo bệnh học luận của P.E.R.G.® nach NGOs. Cho nên, tính nhất thống của liệu pháp P.E.R.G.® nach NGOs nằm ở nguyên tắc CHẨN – ĐỊNH; còn TÁC-Ý ĐANG hiện hành được xem là GỐC bệnh phải được nhận biết cụ thể nơi từng trẻ.
3. Vai trò của người Mẹ, gia đình và môi trường sống cho thấy sự khác biệt hoàn toàn về vị trí của những yếu tố này trong trình tự tiếp cận.
• Trong Chương A, những yếu tố này được Y Học Triệu Chứng quy chiếu vào bệnh sử, nguy cơ, điều kiện phát triển và việc hỗ trợ trẻ.
• Trong Chương B, chúng được khảo sát trực tiếp trong phạm vi CHẨN – ĐỊNH để nhận biết TÁC-Ý ĐANG hiện hành, những dữ liệu đã được ghi–nạp trong kho dữ liệu sống gọi là TÂM và những yếu tố ĐANG có mặt liên quan đến TÁC-Ý ĐANG hiện hành đó. Vì vậy, vai trò đồng hành của người Mẹ hoặc người liên quan theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs được xác lập dựa trên kết quả chính xác từ CHẨN – ĐỊNH cụ thể của từng trường hợp, thay vì chỉ từ quan hệ gia đình hay vai trò chăm sóc.
4. Hai tuyên ngôn “TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh” và “Di truyền KHÔNG di bệnh” đóng vai trò then chốt định hướng cho nền tảng bệnh học của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
• Tuyên ngôn thứ nhất đặt tất cả tình trạng bệnh trong tính tương tức của 4-TRỤ là: TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN.
• Tuyên ngôn thứ hai nhấn mạnh quan điểm thông tin về di truyền không liên quan đến việc CHẨN-ĐỊNH nhận biết chính xác TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến tình trạng Rối Loạn Phát triển ĐANG xảy ra nơi từng trẻ. Việc triển khai CHẨN – ĐỊNH này được đặt trong mối tương tức bất phân của 4-Y: Y-LÝ – Y-HỌC – Y-THUẬT – Y-HÀNH.
Theo hướng này, điều cần làm rõ không chỉ là những gì đã xảy ra trong quá khứ, mà trọng tâm của quy trình CHẨN – ĐỊNH theo P.E.R.G.® nach NGOs là nhận biết chính xác TÁC-Ý ĐANG hiện hành và những yếu tố ĐANG có mặt có liên quan dẫn đến tình trạng Rối Loạn Phát triển của trẻ ĐANG xảy ra.
Tóm lại, giám luận trọng tâm của Biên Khảo Luận này là:
• Chẩn đoán tên bệnh và CHẨN – ĐỊNH TÁC-Ý ĐANG hiện hành là hai cách gọi hoàn toàn khác nhau cho cùng nhắm đến một sự can thiệp tình trạng bệnh của trẻ. Trong phạm vi đối chiếu của Biên Khảo Luận này, chúng là hai hệ bệnh học hoàn toàn khác nhau, trả lời những câu hỏi khác nhau và định hướng thực hành theo những hệ luận khác nhau.
• Hai bảng đối chiếu riêng biệt về nền tảng bệnh học và phương pháp cho thấy rõ sự khác biệt hoàn toàn về tư tưởng và phương pháp.
Những tài liệu báo cáo lâm sàng theo thể loại ATLAS-CASE của P.E.R.G.® nach NGOs luôn trình bày bày cụ thể điều đã nhận biết, việc đã thực hiện và kết quả đã ghi nhận nơi từng trẻ bị Rối Loạn Phát Triển.
CHƯƠNG D – PHỤ LỤC
I. Thuật ngữ theo nội dung biên khảo
Bệnh hoặc tình trạng cùng hiện diện: Co-occurring conditions / Gleichzeitig bestehende Erkrankungen oder Zustände.
Cải thiện và thuyên giảm: Improvement and remission / Besserung und Remission.
Cảm giác thôi thúc trước TICs: Premonitory urge / Prämonitorischer Drang.
Can thiệp hành vi toàn diện cho TICs: Comprehensive Behavioral Intervention for Tics / Umfassende verhaltenstherapeutische Intervention bei Tics.
Chậm nói: Late language emergence / Verzögerter Sprachbeginn.
Chẩn đoán phân biệt: Differential diagnosis / Differenzialdiagnose.
Di truyền: Genetic inheritance / Genetische Vererbung.
Đáp ứng cạnh tranh: Competing response / Konkurrierende Reaktion.
Hành vi thích nghi: Adaptive behaviour / Adaptives Verhalten.
Hoạt động trị liệu: Occupational therapy / Ergotherapie.
Hội chứng Tourette: Tourette syndrome / Tourette-Syndrom.
Khác được xác định và chưa xác định: Other specified and unspecified / Sonstige näher bezeichnete und nicht näher bezeichnete.
Ngôn ngữ tiếp nhận và diễn đạt: Receptive and expressive language / Rezeptive und expressive Sprache.
Rối loạn phát triển âm lời nói: Developmental speech sound disorder / Entwicklungsbedingte Aussprachestörung.
Rối loạn phát triển độ lưu loát lời nói: Developmental speech fluency disorder / Entwicklungsbedingte Redeflussstörung.
Rối loạn phát triển học tập: Developmental learning disorder / Entwicklungsbedingte Lernstörung.
Rối loạn phát triển ngôn ngữ: Developmental language disorder / Sprachentwicklungsstörung.
Rối loạn phát triển phối hợp vận động: Developmental motor coordination disorder / Entwicklungsstörung der motorischen Koordination.
Rối loạn phát triển thần kinh: Neurodevelopmental disorders / Störungen der neuronalen Entwicklung.
Rối loạn phát triển trí tuệ: Disorders of intellectual development / Störungen der Intelligenzentwicklung.
Rối loạn phổ tự kỷ: Autism spectrum disorder / Autismus-Spektrum-Störung.
Rối loạn tăng động giảm chú ý: Attention deficit hyperactivity disorder / Aufmerksamkeitsdefizit-Hyperaktivitätsstörung.
Sàng lọc: Screening / Screening.
Tác dụng bất lợi: Adverse effects / Unerwünschte Wirkungen.
Theo dõi duy trì: Follow-up / Nachbeobachtung.
Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng: Randomized controlled trial / Randomisierte kontrollierte Studie.
TICs: Tics / Tics.
TICs âm thanh: Vocal or phonic tics / Vokale oder phonische Tics.
TICs đơn giản và phức tạp: Simple and complex tics / Einfache und komplexe Tics.
TICs vận động: Motor tics / Motorische Tics.
Trị liệu lời nói và ngôn ngữ: Speech and language therapy / Sprech- und Sprachtherapie.
Tỷ lệ hiện mắc: Prevalence / Prävalenz.
Vận động định hình: Motor stereotypies / Motorische Stereotypien.
Yếu tố nguy cơ: Risk factor / Risikofaktor.
II. Thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
EIGENSTÄNDIGE FACHBEGRIFFE
der TÁC-Ý-Kunde der P.E.R.G.® nach NGOs
| 4-TRỤ: Four Pillars / Vier Säulen
1. TÂM: Kho Dữ liệu Sống / Life Data Bank / Lebens-Daten-Bank
• Bản chất của TÂM là „ba KHÔNG“ gồm: „không TRI“ – „không THỨC“ – „không GIÁC“: The essence of TÂM consists of the “Three NOTs”: “no Recognition” – “no Consciousness” – “no Awareness” / Das Wesen des TÂM besteht aus den „Drei NICHT“: „kein Erkennen“ – „kein Bewusstsein“ – „kein Gewahrsein“
| TÂM-THỂ: Psyche–Soma (psychosomatic) / Psyche–Soma (psychosomatisch)
2. TÁC-Ý: Presently, continuously operating will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
• Đang hiện hành: Presently, continuously operating / gegenwärtig fortlaufend wirkend
• TÁC-Ý đang hiện hành: Presently, continuously operating Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
• TÁC-Ý đang hiện hành gây bệnh: Presently continuously operating disease-causing Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender krankheitsverursachender Wille.
• TÁC-Ý Học: TÁC-Ý-Science / TÁC-Ý-Kunde
| LÀM MỚI TÁC-Ý: Renewal of TÁC-Ý / Erneuerung der TÁC-Ý
3. NĂNG: psycho-energetic intensity, level of Psyche or Psychiatry / psycho-energetische Intensität (Ebene der Psyche oder Psychiatrie).
• Đang có mặt: Presently, continuously appearing / gegenwärtig fortlaufend erscheinend
4. THÂN: Soma (level of Body or Psyche) / Soma (Ebene von Körper oder Psyche).
• Đang xảy ra: Presently, continuously happening / gegenwärtig fortlaufend Geschehen.
• NƠI đang xảy ra: Location of presently, continuously happening / Ort des gegenwärtig fortlaufend Geschehens
| Bệnh TÂM–THỂ: psychological–somatic diseases / Psyche–Soma Erkrankungen
| 3-CHẨN: Three Diagnoses / Drei Diagnosen
1. SƠ Chẩn: Initial Diagnosis / ERST-Diagnose
2. TIỀN Chẩn: Preliminary Diagnosis / VOR-Diagnose
3. CHÁNH Chẩn: Main Diagnosis / HAUPT-Diagnose
| CHẨN–ĐỊNH–TRỊ: Diagnosis – Indication Assessment – Therapy / Diagnostik–Indikationsstellung–Therapie
| 4-Y: Four Medicines / Vier Medizinen
1. Y-LÝ: Medical Theory / medizinische Theorie
2. Y-HỌC: Medical Science / medizinische Lehre
3. Y-THUẬT: Medical Technique / medizinische Technik
4. Y-HÀNH: Medical Practice / medizinische Anwendungen
| WIRK-Ordnung: Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành: Logical-natural presently continuously operating order / Logisch-natürliche gegenwärtig fortlaufend wirkende Ordnung
| Ý an – NĂNG ổn – THÂN bình: TÁC-Ý at ease · NĂNG stable · THÂN balanced / TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind · NĂNG stabil · THÂN ausgeglichen
| Ý Như Vạn Sự: TÁC-Ý corresponds to all things as they are (positive) / TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind (positiv)
| Vạn Sự Như Ý: All things correspond to TÁC-Ý as it is (negative) / Alle Dinge entsprechen der TÁC-Ý so, wie sie ist (negativ)
| Nguyên lý Ba W: Three Ws Principle: Where – How – What / Drei Ws-Prinzip: WO – WIE – WAS
| Nguyên lý INPUT–OUTPUT: INPUT–OUTPUT Principle / INPUT–OUTPUT-Prinzip
| 4-ĐIỀU KIỆN: Four Preconditions for the Logical Natural Order of Phenomena / Vier Voraussetzungen der logisch-natürlichen Phänomenen-Ordnung
1. NHÂN = stored core data / gespeicherte Kern-Daten
2. DUYÊN = stimulating influences / stimulierende Einflüsse
3. HỘI = convergence / Zusammentreffen
4. THỜI = appropriate point in time / richtiger Zeitpunkt
| TRẬT TỰ HIỆN TƯỢNG LUẬN TỰ NHIÊN: Logisch-natürliche Phänomenen-Ordnung
• SINH: Arising / Entstehen
• THÀNH: Becoming / Werden
• HOẠI: Changing / Verändern
• DIỆT: Ceasing / Ausscheide
III. Thuật ngữ bổ sung từ nội dung Chương B
| Ghi–nạp: Data recording and intake / Datenerfassung und -aufnahme
| BỐN LOẠI DINH DƯỠNG theo quy trình 4-TRỤ: Four Types of Nutrition according to the Four-Pillar Process / Vier Ernährungsarten nach dem Vier-Säulen-Prozess.
1. ĐOÀN thực: Nourishment for the BODY (THÂN) (through the mother’s food, drink and dietary habits) / Nahrung für den KÖRPER (THÂN) (durch Speisen, Getränke und Essgewohnheiten der Mutter). — THÂN: Soma and Psyche / Soma und Psyche.
2. XÚC thực: Nourishment for EMOTION (NĂNG) (through the mother’s sensory contact) / Nahrung für EMOTION (NĂNG) (durch Sinneskontakt der Mutter). — NĂNG: Psycho-energetic intensity / Psychoenergetische Intensität.
3. TƯ NIỆM thực: Nourishment for WILL (TÁC-Ý) and THOUGHT (through the mother’s willing and thinking) / Nahrung für WILLEN (TÁC-Ý) und GEDANKEN (durch Wollen und Denken der Mutter). — TÁC-Ý: Presently and continuously operating will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille.
4. THỨC thực: Nourishment from LIFE DATA (TÂM) (through the mother’s life data) / Nahrung aus LEBENSDATEN (TÂM) (durch Lebensdaten der Mutter). — TÂM: Life Data Bank / Lebensdatenbank.
| THỤ – MANG – SINH: Conception – Pregnancy – Childbirth / Empfängnis – Schwangerschaft – Geburt.
| “TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh!”: “All diseases are Psyche–Soma diseases!” / „Alle Krankheiten sind Psyche–Soma-Erkrankungen!“.
| “Di truyền KHÔNG di bệnh”: “Heredity does NOT transmit disease” / „Vererbung überträgt KEINE Krankheit“
IV. Tên các chữ viết tắt
AAN: Viện Hàn lâm Thần kinh học Hoa Kỳ / American Academy of Neurology / Amerikanische Akademie für Neurologie.
ADHD: Rối loạn tăng động giảm chú ý / Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder / Aufmerksamkeitsdefizit-/Hyperaktivitätsstörung.
ADHS: Rối loạn tăng động giảm chú ý / Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder / Aufmerksamkeitsdefizit-/Hyperaktivitätsstörung.
ASD: Rối loạn phổ tự kỷ / Autism Spectrum Disorder / Autismus-Spektrum-Störung.
ASHA: Hiệp hội Ngôn ngữ, Lời nói và Thính học Hoa Kỳ / American Speech-Language-Hearing Association / Amerikanischer Verband für Sprechen, Sprache und Hören.
BKL: Biên khảo luận / Research Essay / Wissenschaftliche Abhandlung.
CBIT: Can thiệp hành vi toàn diện cho các rối loạn tic / Comprehensive Behavioral Intervention for Tics / Umfassende verhaltenstherapeutische Intervention bei Tic-Störungen.
CDC: Các Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ / Centers for Disease Control and Prevention / US-amerikanische Zentren für Krankheitskontrolle und Prävention.
CDDR: Mô tả lâm sàng và yêu cầu chẩn đoán / Clinical Descriptions and Diagnostic Requirements / Klinische Beschreibungen und diagnostische Anforderungen.
CG170: Rối loạn phổ tự kỷ ở người dưới 19 tuổi: hỗ trợ và quản lý / Autism Spectrum Disorder in Under 19s: Support and Management / Autismus-Spektrum-Störung bei unter 19-Jährigen: Unterstützung und Management.
CPS: Hội Nhi khoa Canada / Canadian Paediatric Society / Kanadische Gesellschaft für Kinderheilkunde.
DSM-5-TR: Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, ấn bản thứ năm, bản sửa đổi văn bản / Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition, Text Revision / Diagnostisches und Statistisches Manual Psychischer Störungen, fünfte Auflage, Textrevision.
ICD-11: Bảng phân loại bệnh quốc tế, lần sửa đổi thứ 11 / International Classification of Diseases, 11th Revision / Internationale Klassifikation der Krankheiten, 11. Revision.
IQ: Chỉ số trí tuệ / Intelligence Quotient / Intelligenzquotient.
MMS: Thống kê tử vong và bệnh tật / Mortality and Morbidity Statistics / Mortalitäts- und Morbiditätsstatistik.
MTA: Nghiên cứu điều trị đa phương thức ở trẻ em mắc rối loạn tăng động giảm chú ý / Multimodal Treatment Study of Children with ADHD / Studie zur multimodalen Behandlung von Kindern mit ADHS.
NG87: Rối loạn tăng động giảm chú ý: chẩn đoán và quản lý / Attention Deficit Hyperactivity Disorder: Diagnosis and Management / Aufmerksamkeitsdefizit-/Hyperaktivitätsstörung: Diagnostik und Management.
NGOs: Theo NGÔ Ngọc Diệp / According to NGÔ Ngọc Diệp / Nach NGÔ Ngọc Diệp.
NHS: Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh / National Health Service / Nationaler Gesundheitsdienst.
NICE: Viện Quốc gia về Chất lượng Y tế và Chăm sóc Anh / National Institute for Health and Care Excellence / Nationales Institut für Exzellenz in Gesundheit und Pflege.
NICHD: Viện Quốc gia Eunice Kennedy Shriver về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ / Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development / Nationales Eunice-Kennedy-Shriver-Institut für Kindergesundheit und menschliche Entwicklung der USA.
NIDCD: Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ / National Institute on Deafness and Other Communication Disorders / Nationales Institut für Gehörlosigkeit und andere Kommunikationsstörungen der USA.
NIMH: Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ / National Institute of Mental Health / Nationales Institut für psychische Gesundheit der USA.
P.E.R.G.®: Năng Lượng TÂM–THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt theo NGÔ Ngọc Diệp / Psychosomatic Energetic Reflex Zone Therapy on the Face according to NGOs / Psychosomatische Energetische Reflexzonen-Therapie am Gesicht nach NGOs.
RLPT: Rối loạn phát triển / Developmental Disorders / Entwicklungsstörungen.
TS: Hội chứng Tourette / Tourette Syndrome / Tourette-Syndrom.
WHO: Tổ chức Y tế Thế giới / World Health Organization / Weltgesundheitsorganisation.
YHTC: Y học triệu chứng / Symptom-Based Medicine / Symptombezogene Medizin.
V. Nguồn và tài liệu tham khảo
[1] Hội Nhi khoa Canada. Assessing children and youth with global developmental delay and intellectual developmental disorder. 2026. Xem nguồn
[2] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. Intellectual and Developmental Disabilities. Xem nguồn
[3] Tổ chức Y tế Thế giới. Clinical descriptions and diagnostic requirements for ICD-11 mental, behavioural and neurodevelopmental disorders. 2024. Xem nguồn
[4] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Speech Sound Disorders: Articulation and Phonology. Xem nguồn
[5] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Speech Sound Disorders, trang dành cho công chúng. Xem nguồn
[6] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Stuttering, Cluttering, and Fluency. Xem nguồn
[7] Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ. Stuttering. Cập nhật 2017. Xem nguồn
[8] Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ. Quick Statistics About Voice, Speech, Language. 2025. Xem nguồn
[9] Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ. Developmental Language Disorder. 2023. Xem nguồn
[10] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Spoken Language Disorders. Xem nguồn
[11] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Childhood Apraxia of Speech. Xem nguồn
[12] Tổ chức Y tế Thế giới. Autism. 17.09.2025; ước tính cho năm 2021. Xem nguồn
[13] Viện Quốc gia về Chất lượng Y tế và Chăm sóc Anh. Autism spectrum disorder in under 19s: support and management, CG170. Xem nguồn
[14] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Treatment and Intervention for Autism Spectrum Disorder. Xem nguồn
[15] Hội Nhi khoa Canada. Early detection for autism spectrum disorder in young children. 2019. Xem nguồn
[16] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. What are the treatments for learning disabilities? Xem nguồn
[17] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. What causes learning disabilities? Xem nguồn
[18] Hội Nhi khoa Canada. Evaluating and caring for children with a suspected learning disorder in community practice. 2024. Xem nguồn
[19] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. About Learning Disabilities. Xem nguồn
[20] Hội Nhi khoa Canada. Assessment, diagnosis, and management of developmental coordination disorder. 2021. Xem nguồn
[21] Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh. Developmental co-ordination disorder in children – Treatment. Xem nguồn
[22] Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh. Developmental co-ordination disorder in children – Symptoms. Xem nguồn
[23] Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ. Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder: What You Need to Know. Xem nguồn
[24] Viện Quốc gia về Chất lượng Y tế và Chăm sóc Anh. Attention deficit hyperactivity disorder: diagnosis and management, NG87. Xem nguồn
[25] Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ. The Multimodal Treatment of Attention Deficit Hyperactivity Disorder Study: Questions and Answers. Xem nguồn
[26] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Data on ADHD in Children. Cập nhật 08.07.2026; số liệu khảo sát năm 2024. Xem nguồn
[27] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Treatment of ADHD. Xem nguồn
[28] Johns Hopkins Medicine. Motor Stereotypies. Xem nguồn
[29] Johns Hopkins Medicine. Primary (Non-Autistic) Motor Stereotypies. Xem nguồn
[30] Specht MW và cộng sự. Efficacy of parent-delivered behavioral therapy for primary complex motor stereotypies. 2017. Xem nguồn
[31] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Diagnosing Tic Disorders. 24.03.2026; trình bày tiêu chuẩn DSM-5-TR. Xem nguồn
[32] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Treatment of Tourette Syndrome. 27.03.2026. Xem nguồn
[33] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Data and Statistics on Tourette Syndrome. 27.03.2026. Xem nguồn
[34] Pringsheim T và cộng sự, hướng dẫn của Viện Hàn lâm Thần kinh học Hoa Kỳ. Practice guideline recommendations summary: Treatment of tics in people with Tourette syndrome and chronic tic disorders. Neurology. 2019. Xem nguồn
[35] Piacentini J và cộng sự. Behavior therapy for children with Tourette disorder: a randomized controlled trial. JAMA. 2010;303:1929–1937. Xem nguồn
[36] Roessner V và cộng sự. European clinical guidelines for Tourette syndrome and other tic disorders—version 2.0. Part III: pharmacological treatment. Xem nguồn
[37] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. What conditions are related to learning disabilities? Xem nguồn
[38] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Written Language Disorders. Xem nguồn
[39] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. Difficulty Estimating Quantity Linked to Math Learning Disability. 2011. Xem nguồn
[40] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Behavioral Treatment for Tics That Works. 27.03.2026. Xem nguồn
[41] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. What causes intellectual and developmental disabilities? Xem nguồn
[42] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. About Intellectual and Developmental Disabilities. Xem nguồn
[43] Hướng dẫn chuyên môn. Clinical practice guideline: Interventions for Developmental Language Delay and Disorders. 2024. Xem nguồn
[44] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Late Language Emergence. Xem nguồn
[45] Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh. Dyslexia in children. Xem nguồn
[46] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Clinical Care of ADHD in Children. Xem nguồn
[47] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. Math Disability Linked to Problem Relating Quantities to Numerals. 2011. Xem nguồn
[48] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. About Tourette Syndrome. Xem nguồn
[49] Szejko N và cộng sự. European clinical guidelines for Tourette syndrome and other tic disorders—version 2.0. Part I: assessment. Xem nguồn
[50] Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh. Tics. Xem nguồn
[51] Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh. Tics – Treatment. Xem nguồn
[52] Hội chuyên môn Tourette châu Âu. European clinical guidelines for Tourette syndrome and other tic disorders: summary statement. Xem nguồn
[P1] NGÔ Ngọc Diệp. Bảng thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs. Tư liệu tiếng Việt – Anh – Đức do người sáng lập cung cấp để biên soạn, 28.09.2026.
[P2] NGÔ Ngọc Diệp. Bản thuyết minh về TICs, rối loạn phát triển, 4-TRỤ, nguyên lý đầu vào–đầu ra, bốn loại dinh dưỡng và trình tự CHẨN – ĐỊNH – TRỊ. Nội dung do người sáng lập cung cấp, bổ sung và chỉnh nghĩa trong quá trình biên soạn, 27–28.09.2026.
P.E.R.G.® | CHƯƠNG D – PHỤ LỤC |
VI. Nguồn đối chiếu
[1] Hội Nhi khoa Canada. Assessing children and youth with global developmental delay and intellectual developmental disorder. 2026. Xem nguồn
[3] Tổ chức Y tế Thế giới. Clinical descriptions and diagnostic requirements for ICD-11 mental, behavioural and neurodevelopmental disorders. 2024. Xem nguồn
[4] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Speech Sound Disorders: Articulation and Phonology. Xem nguồn
[6] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Stuttering, Cluttering, and Fluency. Xem nguồn
[9] Viện Quốc gia về Điếc và các Rối loạn Giao tiếp khác Hoa Kỳ. Developmental Language Disorder. 2023. Xem nguồn
[12] Tổ chức Y tế Thế giới. Autism. 17.09.2025; ước tính cho năm 2021. Xem nguồn
[14] Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ. Treatment and Intervention for Autism Spectrum Disorder. Xem nguồn
[16] Viện Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Hoa Kỳ. What are the treatments for learning disabilities? Xem nguồn
[18] Hội Nhi khoa Canada. Evaluating and caring for children with a suspected learning disorder in community practice. 2024. Xem nguồn
[20] Hội Nhi khoa Canada. Assessment, diagnosis, and management of developmental coordination disorder. 2021. Xem nguồn
[24] Viện Quốc gia về Chất lượng Y tế và Chăm sóc Anh. Attention deficit hyperactivity disorder: diagnosis and management, NG87. Xem nguồn
[28] Johns Hopkins Medicine. Motor Stereotypies. Xem nguồn
[29] Johns Hopkins Medicine. Primary (Non-Autistic) Motor Stereotypies. Xem nguồn
[34] Pringsheim T và cộng sự, hướng dẫn của Viện Hàn lâm Thần kinh học Hoa Kỳ. Practice guideline recommendations summary: Treatment of tics in people with Tourette syndrome and chronic tic disorders. Neurology. 2019. Xem nguồn
[38] Hiệp hội Ngôn ngữ – Lời nói – Thính học Hoa Kỳ. Written Language Disorders. Xem nguồn
[52] Hội chuyên môn Tourette châu Âu. European clinical guidelines for Tourette syndrome and other tic disorders: summary statement. Xem nguồn
Hoàn tất ngày 03.10.2026
Kỷ niệm ngày Thồng Nhất hai miền Đông và Tây Đức cách nay 36 năm
© Ngoc-Diep NGO | All rights reserved
Ghi chú:
1. Nội dung CHƯƠNG A, C và D được hình thành từ những dữ liệu do ChatGPT cung cấp.
2. CHƯƠNG B và những thuật ngữ chuyên biệt của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs do nhà sáng lập Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® thực hiện.
3. Ảnh minh họa AI


Bình luận