RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN ở trẻ em và thanh thiếu niên theo y lý, y học và y thuật Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®

Hội Thảo Quốc tế về „Ứng Dụng TÂM LÝ HỌC và GIÁO DỤC HỌC can thiệp RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN“ do Trung Ương „Hội Khoa Học Tâm Lý – Giáo Dục Việt Nam“ và trường „Đại Học Hùng Vương“, „Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam“ phối hợp tổ chức ngày 20.05.2017 tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam.

Ngày 20 tháng Năm 2017, là mốc điểm lịch sử đánh dấu sự hiện hữu chính thức của “Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®” tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Mục đích hoan hỷ nhận lời tham dự Hội thảo Quốc tế này là duyên lành cống hiến một Y phương minh với Y Lý, Y Học và Y Thuật mới mẻ, độc nhất trên thế giới để mang lại sức khoẻ và hạnh phúc cho dân tộc Việt nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung  – nhất là trẻ em và thanh thiếu niên, bởi các em là TƯƠNG LAI của dân tộc và tổ quốc VIỆT!

Liệu pháp này được tích hợp phát minh bởi một người Đức gốc VIỆT và đã được Cơ quan Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức cứu xét công nhận ngày 11.06.2012.

Hiện nay, “Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®” đang được dạy tại các Chi Nhánh của Đại Học Y Học Dân Tộc – Viện Y Khoa PARACELSUS trên khắp nước Đức; cũng như các Trung Tâm Y Học Bổ Sung đào tạo chuyên gia và lương y trong nước Đức và những quốc gia lân bang Đức quốc – từ cuối năm 2012.

Đồng thời chúng tôi hiện đang điều hành Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) theo „Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.®“ tại Tổ hợp Y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover: https://hannover-wendepunkt.de/team/

Với bài chia sẻ mang chủ đề RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN ở trẻ em và thanh thiếu niên theo y lý, y học và y thuật Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® chúng tôi chân thành cung kính cảm niệm và tri ân tất cả Quý Ân Nhân – gần và xa, trong nước Việt Nam cũng như ở hải ngoại – đã, đang và sẽ tận tâm, tận lực đồng hành liên tục trợ duyên cho “Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®” được hình thành, duy trì và phát triển tại Việt Nam cũng như khắp năm châu để:

1. PHÒNG CHỐNG TẬT BỆNH,
2. CHỮA LÀNH TÂM THÂN,

3. ỔN ĐỊNH SỨC KHOẺ,
4. CHUYỂN HÓA TÂM THỨC
,
5. KHAI PHÁ TIỀM NĂNG
6
. PHÁT HUY K NĂNG

cho bản thân, gia đình, cộng đồng và muôn loài – ngay ĐANG LÀ và vô lượng ĐANG LÀ tiếp nối.

Ghi Chú:
1) Theo Ban Tổ Chức và Điều Hành Hội Thảo, bài Tham Luận của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp PERG® đóng góp cho Hội Thảo không được phổ biến trong KỶ YẾU của Hội Thảo.
Lý do viện dẫn: Tư Tưởng và Phương pháp này quá mới, chưa được kiểm chứng khoa học.

2) Dù được chính thức mời tham dự, chúng tôi không được phát biểu trong chương trình chính. Tuy nhiên, TÂM-THỂ P.E.R.G.® cũng có mặt chia sẻ Y Lý, Y Học và Y Thuật trong Khối Thào luận Sinh hoạt Chuyên đề. Buổi thảo luận này đã có sự tham dự của nhiều Tiến sĩ, Thạc sĩ, chuyên gia, chuyên viên, sinh viên tâm lý học và can thiệp trẻ rối loạn phát triển. Những Bạn này đã „mở rộng vòng tay đón nhận“ sự trình bày một số kinh nghiệm lâm sàng và kết quả tuyệt vời trong việc can thiệp trẻ rối loạn phát triển trong thời gian trước đó của Chi Nhánh Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® tại Hà Nội thực hiện, do bác sĩ Giang Vũ điều hành và can thiệp dưới sự đồng hành và cố vấn của chúng tôi.

3) Trong giờ kết thúc Hội Thảo và báo cáo kết quả sinh hoạt của các khối, nữ Tiến sĩ tâm lý học, trưởng khối thào luận và sinh hoạt chuyên đề của chúng tôi đã nói đến sự „thiếu sót của Ban Tổ Chức, khi phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® mới và độc đáo trên thế giới do một người Đức gốc Việt phát minh trong việc can thiệp Rối Loạn Phát Triển không có cơ hội trình bày với toàn thể quan khách và tham dự viên. Cô cũng tuyên bố rằng: Nền Y Học Việt Nam sẽ luôn mở rộng vòng tay đón nhận phương pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® để giúp cải thiện sức khỏe cho trẻ rối loạn phát triển trong nước!

4) Chúng tôi kính gửi đến các Bạn bài tham luận của TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® đã gửi đến Hội Thảo, rất tiếc không được công bố trong Kỷ Yếu của Hội thảo, để tham khảo vế Y lý – Y học và Y thuật của chúng tôi!

Bài tham luận được Ban Tổ Chức quy định là 10 trang DIN A4. Nên khá dài. Kính mong các Bạn hoan hỷ và kiên nhẫn tìm hiểu một TƯ TƯỞNG mới nhất và độc đáo nhất, hiệu ứng tuyệt vời về Y Lý, Y học và Y Thuật để can thiệp mọi triệu chứng TÂM – THÂN cho trẻ em rối loạn phát triển kể cả người lớn, không phân biệt tôn giáo – tín ngưỡng, quốc gia – lãnh thổ, văn hóa – chính trị, chủng tộc – màu da v.v…

5) Rất tiếc, vì máy PC bị virus nên một số hình ảnh tham dự bị hủy. Chỉ còn vài tư liệu văn thư liên quan. Kính mong các Bạn hoan hỷ cảm thông cho!

– – – – –

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ 20.05.2017
„Ứng dụng tâm lý học, giáo dục học vào can thiệp rối loạn phát triển“
của các trẻ Tự Kỷ, Khuyết Tật Trí Tuệ, Tăng Động Giảm Chú Ý…

. . . Bài tham luận này sẽ không đề cập nhiều đến lý thuyết, cũng như những con số, dữ liệu v.v… liên quan đến đề tài RỐI LOẠN PHÁT TRIỄN hay các PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU hiện hành. Mà đặt trọng tâm vào việc chia sẻ giới thiệu Cơ Sở Y Lý, Y Học  của TÂM-THỂ P.E.R.G.® với một khái niệm chung gọi là „RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN“ (development disorders) và Y Thuật của nó cho việc „ỨNG DỤNG CAN THIỆP“.

A. Khái lược về chứng „RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN“ (Tự Kỷ)
I. Khái niệm „Rối Loạn Phát Triển“ hay „Tự Kỷ“
* Năm 1911, bác sĩ tâm thần người Thuỵ Sỹ tên Eugen Bleuler đã đưa vào khái niệm Autismus (tiếng Hy Lạp: autos = tự; imos = tình trạng). Theo ông, những người tự kỷ là người bị chứng tâm thần phân liệt (schizophrenia), họ sống „rất ích kỷ“ „tách rời xã hội“.

* Mãi đến năm 1943
, nhà tâm thần học người Mỹ Leo Kanner mô tả Tự Kỷ như là một sự „rối loạn riêng biệt“ bắt đầu trong thời thơ ấu. Như vậy ông đã tách rời chứng tự kỷ ra khỏi chứng tâm thần phân liệt. Hình ảnh rối loạn được Kanner miêu tả mà ngày nay được biết đến là „hội chứng trẻ con tự kỷ“ hay là „Hội chứng Kanner“. Bệnh chứng này thường được dùng như một khái niệm chung là TỰ KỶ.

* Cho đến đến thập niên 80, tự kỷ được công nhận là một một sự rối loạn riêng (Wiebke Raue, Onmeda, 17.03.2016)

* Tổ Chức Y Tế Quốc Tế WHO đánh giá Hội Chứng Tự Kỷ là các RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN sâu đậm ở trẻ và có thể nhận biết được từ nhỏ. Những triệu chứng chính xác và ảnh hưởng của nó mạnh mẽ đến trẻ như thế nào thì rất sai khác. Căn cứ vào Hệ Thống Chẩn Đoán Phân Loại Quốc Tế ICD-10, bác sĩ và các nghiên cứu gia chia ra ba loại Tự Kỷ chính là:

1. Trẻ thơ hay Kanner-Autismus;
2. Hội chứng Asperger
3. Tự Kỷ Không Điển Hình

Điểm 1 . TRẺ THƠ TỰ KỶ
 có thể nhận biết đến BA tuổi. Trên nguyên tắc nó liên quan đến thiểu nói năngthiểu năng động và thường biểu hiện tính thiểu năng chung. Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng có thể khác nhau rất nhiều.

Điểm 2 . Tử kỷ ASPERGER, thì không có những triệu chứng trên. Mãi sau BA tuổi, nó không biểu hiện qua sự chậm phát triển liên quan đến nói năng hoặc nhận thức, nhưng thường nhận thấy qua những cử chỉ vụng về hoặc định hướng khó khăn.

Cả hai hình thức Tự Kỷ kể trên có một điểm chung là, trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong sự giao tiếp với người khác hội nhập xã hội. Có rất nhiều trẻ có xu hướng mẫu hành vi rập khuôn, lăp đi lặp lại hoặc chăm chú tập trung vào một đối tượng, sở thích hoặc sinh hoạt nhất định nào đó.

Điểm 3 . Tự Kỷ Không Điển Hình, sự phát triển chậm không biểu hiện cụ thể, mà chỉ qua vài triệu chứng điển hình.

Thay vì xác định một tên chính xác, thì ngày nay người ta chỉ dùng một nhóm từ là „Rối Loạn Tự Kỷ Phổ Biến“ “Autismus-Spektrum-Störung” (ASS). Khái niệm này được dùng để nói rõ rằng, chứng Tự Kỷ có nhiều hình thức diễn biến khác nhau, từ nhẹ đến nặng và sự chuyển tiếp giữa các trạng huống thường xuyên suốt, không ngăn ngại – giống như sự chuyển tiếp từ trẻ Không Tự Kỷ thành Tự Kỷ. (Daniel Zeibig)

II. ICD-10 Kapitel V (F) và DSM 5 và hội chứng tự kỷ
II.1. ICD-10 Kapitel V (F)

Theo Bảng Quốc tế Phân Loại Rối Loạn Tâm Lý (International Classification of Mental Disorders) (3) gọi là ICD-10 Chương V – Hướng Dẫn Chẩn Đoán Lâm Sàng về Rối Loạn Phát Triển từ F80 đến F89 thì những rối loạn có những điểm chung như sau:
1. Bắt đầu từ trẻ thơ hoặc tuổi ấu thơ
2. Hạn chế hay chậm phát triển các chức năng nối kết chặt chẽ với sự chín mùi sinh hoá của hệ thống thần kinh trung ương,
3. Tiến trình liên tục khó nhận biết được sự thuyên giảm đặc thù của nhiều rối loạn tâm lý

II.2. DCM 5
Phiên bản mới nhất của hệ thống định dạng tâm thần do Hội Tâm Thần Mỹ (American Psychiatric Association, viết tắt là APA) công bố và được sử dụng gọi là DSM -5 chỉ còn khái niệm „Rối Loạn Tự Kỷ Phổ Biến“ “Autismus-Spektrum-Störung” và như thế việc phân loại giữa Tự Kỷ Kanner, Asperger và Không Điển Hình qua đó đã kết thúc.

DSM là chữ viết tắt của nhóm từ „Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders“, tiếng Việt là “Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm lý“.

Theo DSM, rối loạn tự kỷ chung ASS có những đặc điểm sau:
1. Ít nói và khó hoà nhập xã hội
2. Hành vi, sở thích và sinh hoạt bị hạn chế hay rập khuôn

III. Nguyên nhân chứng Tự Kỷ.

Theo các tài liệu nghiên cứu khoa học và não bộ, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chứng tự kỷ. Nhưng tựu chung có ba yếu tố chính gây rối loạn phát triển bởi
1. di truyền
(gen),
2. rối nhiễu thần kinh (neuro)và
3. sinh hoá não bộ
(biologic).

B. Một số „Phương PhápTrị Liệu“ đang áp dụng tại Đức.
Cho đến nay, trẻ tự kỷ thời thơ ấu vẫn được xem là không thể điều trị được. Tình trạng rối loạn dù được điều trị vẫn theo bệnh nhân suốt đời và hạn chế ít nhiều đặc biệt là cuộc sống xã hội của họ. Con đường dẫn đến việc trị liệu đối với Cha Mẹ và trị liệu viên đòi hỏi nhiều nỗ lực, kiên nhẫn và gian khổ.

Tại Đức có rất ít bệnh viện cung cấp việc điều trị đặc biệt. Thay vào đó, có hơn 50 trung tâm điều trị thuộc Liên Hội Tự Kỷ Đức (Bundesverband Austismus Deutschland, tổ chức này là một hiệp hội có đăng ký hợp pháp „eingetragener Verein“ viết tắt là e.V.) (2)

Phương pháp trị liệu tự kỷ nào thích ứng cho bệnh nhân tuỳ CƠ ĐỊA của từng cá nhân. Phương sách luôn luôn hướng đến từng người bị tự kỷ và từng sự hạn chế của họ, tuy nhiên cũng tùy theo sức chịu đựng của họ. Tuy nhiên, việc điều trị người tự kỷ không nhắm đến mục đích chữa lành được! nghĩa là điều trị triệu chứng

Việc điều trị tự kỷ nói chung theo đuổi nhiều mục tiêu:
* hỗ trợ sự phát triễn bình thường cho người bệnh;
* giúp đở và tác động họ trong việc tiếp xúc với người khác;
* giải toả những hành vi cứng nhắc đã ăn sâu và rập khuôn (lập đi lập lại)
* giúp đở gia đình của người tự kỷ

Bốn mục tiêu trên cần được các nhà tâm thần, tâm lý trị liệu và các nhà sư phạm nhắm đến bằng nhiều phương pháp khác nhau.

Sau đây là một vài phương pháp đang hiện hành tại Đức:
1. Huấn luyện hành vi . Nền móng của sự trị liệu tự kỷ là huấn luyện hành vi, còn gọi là „hành vi liệu pháp“ (behavior therapy). Mục tiêu quan trọng của việc điều trị giúp đở trẻ tự kỷ thiết lập quan hệnói chuyện với người khác, bằng hình thức gọi là nguyên tắc „khen thưởng“.
Nghĩa là, mỗi hành động trẻ thực hiện được sẽ được „khen thưởng“ để tăng tính tích cực của trẻ. Chẳng hạn trẻ tự kỷ có liên hệ làm quen với người lạ thì được thưởng một món đồ chơi bé thích hoặc bé được phép tự chọn một sinh hoạt bé thích. Ớ phương pháp này, cha mẹ cần phải hợp tác mật thiết với trị liệu viên để hổ trợ cho bé tại nhà và cải thiện mối liên hệ với bé.

2. Những phương pháp bổ sung.
2.1. Ngoài ra, những phương pháp bổ sung khác cũng được kết hợp để triển khai năng khiếu sáng tạo của trẻ tự kỷ như „âm nhạc“ hay „nghệ thuật“. Thú vật cũng có thể đưa vào sự trị liệu như „cưỡi ngựa“, „dẫn chó đi dạo“ v.v… Tuy nhiên, các cách này vẫn chưa được kiểm chứng khoa học, nó chỉ có thích ứng cho từng trường hợp riêng lẽ chứ chưa có một kế hoạch điều trị đầy đủ.

Việc áp dụng „vật lý trị liệu“ (physio therapy) và „ngôn ngữ trị liệu“ (speed therapy) cũng có thể làm giảm đi những biểu hiện cứng nhắc hay rập khuôn của hành vi và rối loạn phát âm. Mặc khác, trẻ tự kỷ cũng có thể tiếp xúc và chơi với những đồ vật khác nhau theo để tập nhận biết cảm xúc.

2.2. Một phương pháp hiện nay đang được áp dụng và gây nhiều tranh cãi nhất gọi là Applied Behavior Analysis, viết tắt là ABA (ứng dụng phân tích hành vi) do nhà tâm lý học Ole Ivaar Lovaas trong những thập niên 60 phát minh, lúc ông làm việc với trẻ tự kỷ. Ông quan tâm đến những thử nghiệm của nhà nghiên cứu hành vi Burrhus Skinner, chủ yếu ở thú vật cho thấy rằng một hành động co thể được thay đổi bằng cách „nhào nắn“ „khen thưởng“. Có thể nói đây là một loại „phản xạ có điều kiện“, như con chó của Pawlow trước đây. Phương pháp này ban đầu rất cứng nhắc và bị lên tiếng chỉ trích nhiều, nhưng người ta vẫn tiếp tục triễn khai nó, vì nó có kết quả trong vài trường hợp khó khăn trong việc học tập của trẻ tự kỷ.

2.3. TEACCH liệu pháp. TEACCH là chữ viết tắt của „Treatment and Education of Autistic and related Communication handicapped Children“ (Điều Trị và Hỗ Trợ Giáo Dục Trẻ Tự Kỷ và Trẻ Rối Loạn Truyền Thông Tương Tự) và là một dự án nghiên cứu của đại học. Các trị liệu viên của Trung Tâm Điều Trị Tự Kỷ tại Hamburg đã áp dụng phương pháp này. Việc nói chuyện với trẻ tự kỷ đều thông qua những mẫu giấy có vẽ hình từng cử động hay ý nghĩ, cảm xúc… hay đồ vật. Trẻ tự kỷ diễn tả ý nghĩ, ý muốn của chúng qua những hình ảnh hay đồ vật ấy. (1)

3. Sự hợp tác của phụ huynh.
Việc trị liệu tự kỷ có thành công hay không, không thể thiếu sự hợp tác tích cực của phụ huynh. Cha mẹ chỉ có thể giúp con trẻ tự kỷ của họ tốt đẹp, khi họ biết chấp nhận và hiểu biết sự rối loạn phát triển của đứa bé, vì nhiều phụ huynh cảm thấy chứng tự kỷ của con trẻ là một gánh nặng to lớn trong cuộc sống hằng ngày. Do đó, phụ huynh cũng cần được thông tin rộng rãi về chứng rối loạn của con trẻ để họ ứng phó thích nghi và tốt hơn đối với hoàn cảnh.

4. Dược phẩm.
Cho đến nay vẫn chưa có một loại dược phẩm nào có thể giúp chữa trị đích đáng những triệu chứng chính của sự rối loạn phát triển như: Khó khăn trong việc hoà nhập xã hội và nói chuyện, ngôn ngữ cũng như hành vi rập khuôn và cứng nhắc. Vì thế, thuốc men chỉ được sử dụng để điều trị những triệu chứng đi kèm chứng rối loạn phát triển.

Chẳng hạn như Neuroleptika và Benzodiazepine giúp giảm thiểu những tình trạng căng thẳng tinh thần quá mạnh và hạn chế hành vi tự gây thương tích cho bản thân và có thể dẫn đến nguy hại cho người khác. Nhiều trẻ tự kỷ bị những cơn động kinh cũng cần điều trị bằng thuốc. (Wiebke Raue)

Nhưng chỉ từ sau cấp tiểu học. Theo nữ nghiên cứu gia về tự kỷ, Luise Poustka, thuộc đại học Wien cho biết có khoảng 70 phần trăm trẻ tự kỷ bị những vấn đề tâm lý và hành vi. Thường là những triệu chứng sợ hãi, trầm cảm, rối loạn ngủ nghĩ, tăng động, hành vi ép buộc , hung hăng , tự gây thương tích.

Một hiệu chất có thể là „Oxytozin“. Chất hóc-môn này giúp làm tăng mối liên hệ và tin tưởng giữa con người với nhau. Có một số phụ huynh đã dùng loại Oxytozin xịt mủi cho con trẻ, mặc dù hiệu ứng và nguy hiểm bởi tác dụng phụ của chất này vẫn chưa được kiểm tra nghiên cứu. Bà Poustka và nhóm của bà hiện đang nghiên cứu so sánh tính hiệu ứng của một nhóm trẻ bị tự kỷ từ 12 đến 18.

Trước mỗi ca lâm sàng chúng được xịt Oxytozin vào mủi hay uống thuốc giả (Placebo). Các nghiên cứu gia mong rằng, chất hóc-mon này sẽ làm tăng tác động hoà nhập với người khác của trẻ. (1)

Tóm lại: Từ vài chục năm qua, đã có không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện để đề suất các phương pháp trị liệu. Nhưng các phương pháp này đến nay hầu như vẫn chưa được kiểm tra khoa học.

„trong khi đó, mỗi viện hay nhà thương nhi đồng hoặc phòng mạch đều có những phương thức riêng của họ. Điều này rất khó khăn để tìm một tiêu chuẩn trị liệu thống nhất cho bác sĩ và và trị liệu viên. Những tiêu chuẩn này nhắm đến sự cải thiện các triệu chứng ở trẻ và từ đó có thể tìm ra một phương pháp thích hợp cho từng nhóm tuổi. Nhưng một cơ sở khoa học để phối hợp các phương pháp trị liệu vẫn còn „sơ sài“. Thậm chí, hiệu ứng của nó cũng vẫn chưa được các bệnh viện ở Đức kiểm tra“ (1)

D. Y Lý PERG®
I. Tư Tưởng Dẫn Đạo
Mọi công trình nghiên cứu, xây dựng khoa học, y khoa, văn hoá, giáo dục… đều có nền tảng từ Tư Tưởng Dẫn Đạo. Ví dụ Albert Einstein có Thuyết Tương Đối, cha đẻ trường phái thôi miên là Freud với thuyết „ức chế tình dục“ qua Libido; Newton với thuyết „Sức Hút Của Trái Đất“ v.v…

Vì vậy cho nên việc nghiên cứu tìm một phương pháp Ứng Dụng Tâm Lý Học, Giáo Dục Học cho đối tượng của nó là sự Rối Loạn Phát Triển cũng cần phải có Tư Tưởng Làm Nền Tảng cho mọi sự triển khai.

Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® quan niệm rằng:Đối tượng chính của đề tài là sựRỐI LOẠN PHÁT TRIỂN, nghĩa là sự phát triển bị XÁO TRỘN.
Sự phát triển được hiểu làtiến trình vận hành năng động liên tục không hề bị gián đoạn hạn chế bởi thời gian hay không gian hoặc bị ảnh hưởng bởi mọi điều kiện tâm hay sinh lý.

Ở đây, một câu hỏi được nêu ra là CÁI GÌ PHÁT TRIỂN?

Đối với con người, thì đó là thântâm. Có phải thân và tâm thật sự phát triển liên tục không ngừng nghĩ chăng?

I.1. Thân VẬT LÝ.
Theo thuyết Apoptos trong y học, cái gọi là „tế bào tự huỷ được lập trình sẳn“ (programmed cell death). Nghĩa là: Những tế bào mới được sanh sản quá nhiều trong giai đoạn tăng trưởng cùng sự khác biệt của các cơ phận nơi thân thể đồng thời chúng cạnh tranh nhau để chỉ có một số tế bào hạn chế nào đó có thể tồn tại đóng góp cho sự tăng trưởng.

Những tế bào không có khả năng này sẽ „tự huỷ“ (apoptos). Nhưng không đơn giản như thế: Chúng tự động kích hoạt gen tự huỷ và tự sát, để mang lợi lạc cho tổng thể. Chúng làm thế nào để ít gây thiệt hại nhất cho thân thể bằng cách hãm sự bùng nổ tiềm tàng có thể gây thiệt hại cho các tế bào khác và làm dễ dàng cho sự dọn dẹp những rác tế bào bằng những tế bào đề kháng đặc biệt (4)

Chúng ta còn biết rằng, trong từng tích tắc, có vô số tế bào mới sinh ra để tự chết đi và nhường „chỗ sống“ cho những tế bào có khả năng góp phần cho sự tăng trưởng một cá thể – nói khác đi là để „già“ rồi „chết“! Như vậy, cái THÂN vật lý của con người do „bốn chất“ hợp thành đó là: đất – nước – gió – lửa thay đổi trong từng sát-na, sát-na là một thuật ngữ của nhà Phật, nghĩa là nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng!

Như vậy, đơn giản dễ hiểu là khi THÂN không được PHÁT TRIỂN theo cách TỰ NHIÊN thì sẽ bị RỐI LOẠN. Nghĩa là khi Thân có những hành vi lập đi lập lại, bất an v.v… – có thể là lời nói hay hành động – thì được xem là Rối Loạn Phát Triển nơi thân. Vì bản thể tự nhiên của mọi pháp là luôn thay đổi, không thể có sự lập lại liên tục được!

I.2. TÂM THỨC.
a. Xin đơn cử một ví dụ một „thiết bị rô-bốt“. Rô-bốt (a) chỉ hoạt động nhờ „phần mềm“ (software) (b) hay còn gọi là „lập trình“ được „cài“ vào đó. „Lập trình“ này phải có „ai đó“ (c) „thiết lập“ (d).

Rô-bốt chỉ hoạt động (hay cử động) được khi bốn yếu tố a, b, c, d „hoàn hảo“ nghĩa là khi đáp ứng điều kiện „ắt có và đủ“!

Khi rô-bốt có một hoạt động bất thường, ví dụ „lập đi lập lại“ hay „rập khuôn“ thì không phải do cái „thân“ của rô-bốt có vấn đề – nếu không phải do bộ phận bên ngoài có vấn đề – thì tình huống như vậy phải do „lập trình“ cài đặt chưa được hoàn hảo (rối loạn) hoặc người viết ra lập trình ấy chưa khai sáng được vấn đề (rối loạn) – người ta thường nói đến khái niệm bị „error“.

Ở con người cũng thế. Một hành vi, cử chỉ hay lời nói bị lập đi lập lại… có nghĩa là bị „rối loạn“ trong sự „làm mới“ thì TÁC NHÂN của nó không phải ở nơi hành vi hay lời nói, mà ở sự TÁC Ý của người ấy có vấn đề (rối loạn).

TÁC Ý là „ý nghĩ (ý) muốn hành động (tác)“. Hành động ở đây được hiểu không chỉ là những hành vi, mà còn là lời nói, nét mặt, ánh mắt v.v… Nghĩa là những Ý NGHĨ được THỂ HIỆN qua hành động hay lời nói. Nếu không có ý (mệnh lệnh) thì không thể biểu hiện ra bên ngoài qua hành vi hay lời nói được (output)!

Vậy những Ý NGHĨ (thức) này từ đâu mà có? Nó là những thông tin được nhận từ bên ngoài vào hoặc từ những tư tưởng bên trong (input) và được lưu giữ trong bộ nhớ (memory) của não bộ. Nó chính là nội hàm của „lập trình“ được thu nhận từ sáu cửa: Mắt (hình sắc), Tai (âm thanh), Mũi (mùi), Lưỡi (vị), Thân (xúc chạm) và Ý (tư tưởng, suy nghĩ). Tuỳ theo có ý thức hay không ý thức lúc TIẾPTHU NHẬN các thông tin từ „sáu cửa“ này mà „cửa“ nào „mở rộng ra“ hay „khép chặt“ nhiều nhất!

Nhưng „AI“ là người „MỞ“ hay „ĐÓNG“ sáu cảnh cửa này để „tiếp thu“ mọi thông tin từ NGOÀI vào và từ TRONG xuất phát rồi CHUYỂN những thông tin này thành HÀNH VI hay LỜI NÓI?

Xin thưa, chính là cái TA, gọi là BẢN NGÃ, tiếng Phạn là „pudgala“! Nó chính là người „chủ thể“ viết phần mềm hay lập trình cho rô-bốt! Và cũng chính nó (TA) GÂY ra chứng Tự Kỷ với cái tên của nó Austism.

b. Sáu cửa này là: Mắt – Tai – Mủi – Lưỡi – Thân và Ý Nghĩ (tư tưởng).
Trong từng sát-na, sáu cơ quan này vận hành liên tục không ngừng nghĩ (dynamik) để TIẾP – THU – TRỮ những thông tin khi các cơ quan này tiếp xúc với đối tượng của nó. Như Mắt tiếp xúc với hình thể, màu sắc; Tai tiếp xúc với âm thanh; Mủi với mùi hương; Lưỡi với vị; Thân với sự va chạm; Ý tiếp xúc với từng chập suy nghĩ, tư tưởng…

Cho dù những đối tượng của sáu cơ quan này được Tiếp – Thu – Nhận CÓ ý thức hay KHÔNG CÓ ý thức (vô thức) thì những thông tin này cũng sẽ tạo ra một Neuron tương ứng thần kinh trong vùng não trực thuộc. Và những nhánh của từng Neuron này sẽ tung ra tìm chổ kết nối với các Neuron khác. Tuỳ từng CẢM THỌ (vui, lạc – đau, khổ – trung tính, không vui không buồn) qua CẢM XÚC thì những Neuron này tiết ra chất dẫn truyền thần kinh để kích hoạt các tuyến hóc-môn điều khiển HÀNH VI.

Và cũng từng sát-na thời gian ấy, có vô số INPUT có ý thức hay vô thức được sáu cơ quan này tiếp-nhận và lưu trữ trong kho chứa của não bộ. Những thông tin được CHỦ NHÂN (ngã, trẻ tự kỷ) thường xuyên kích hoạt, nó sẽ nằm bên trên và dễ dàng điều khiển hành vi – không nhất thiết phải thông qua sự TÁC Ý của chủ nhân (tập quán)

Theo TÂM-THỂ P.E.R.G.®, tình trạng này gọi là sự RỐI LOẠN TÂM THỨC. Rối loạn nghĩa là nó không được Ý THỨC DẪN ĐẠO, giống như tình trạng „error“ của chiếc rô-bốt bị „trục trặc lập trình“ vậy!

Câu hỏi đặt ra ở đây là khi chiếc rô-bốt bị „trục trặc“, cũng như những hành vi „cứng nhắc“ hay rập khuôn“ của trẻ tự kỷ là vì cái „thân“ (rô-bốt) hay cái „tâm“ (lập trình) bị rối loạn?

Nếu sự „trục trặc“ hay „rối loạn“ này do thân gây ra, thì có thể chỉnh sửa được. Khi „lập trình“ của „rô-bốt“ có vấn đề, thì người ta vẫn có thể điều chỉnh được. Nhưng khi cái „tâm“ của con người, trẻ tự kỷ, bị „rối loạn“ thì cái gì có thể „điều chỉnh“ được nó?

Xin thưa rằng vẫn có thể LÀM MỚI không cần chỉnh sửa! Bởi bản thể của Thân và Tâm vô thường. Nghĩa là không thường hằng cố định vĩnh viễn, mà chuyển biến „làm mới“ liên tục. Đặc tính này của hệ thần kinh gọi là „Plasticity“ tức „khả năng linh động làm mới“

III. Y Lý chủ đạo của Y pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®
Tính chất VÔ THƯỜNG của mọi hiện tượng (pháp) vì các pháp do NHÂN DUYÊN SANH, không tự nhiên hay độc lập mà có. Nên bản thể của các pháp cũng VÔ NGÃ. Nghĩa là không có cái THẬT NGÃ (ta), mà cái ngã (ta) ấy do nhân duyên sanh nên cũng biến đổi liên tục.

Lấy nguyên lý vô thường này làm nền tảng thì không những mọi triệu chứng RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN hay TỰ KỶ vẫn có thể CHẨN TRỊCHỮA LÀNH được, mà tất cả mọi bệnh tật khổ tâm đau thân, rối loạn thần kinh và não bộ cũng có thể được chẩn trị và chữa lành. Nghĩa là chữa GỐC, chứ không chữa NGỌN.

Cho nên, Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® do chúng tôi tích hợp phát minh đã thiết lập cho y pháp của mình một cơ sở Y Lý để làm nền tảng nghiên cứu, tư duy và ứng dụng như sau:

Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
vận hành TỪNG SÁT NA

vì lẽ đó, cho nên:

Ta ĐANG là
(từ sự) TÁC Ý của ta ĐÃ là
Ta SẼ là
(cũng do sự) TÁC Ý của ta ĐANG là..m

E. Y Thuật của TÂM-THỂ P.E.R.G.®
Chúng tôi quan niệm rằng:
1. mọi hiện tượng đều do TÂM Ý (tâm thức) CHỦ ĐẠO;
2. TÂM Ý này biến đổi liên tục (vô thường);
3. thần kinh não bộ có đặc tính „PLASTICITY“, chúng tôi gọi là „khả năng làm mới,
4. các triệu chứng của chứng rối loạn phát triển (tự kỷ) có TÁC NHÂN (gốc) từ sự RỐI NHIỄU TÂM Ý tức nhiễu loạn tâm thức hay TÁC Ý

Vì thế cho nên, Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® với nền tảng Y Lý Thực Tiễn của nó đã chế tác một số Y thuật được áp dụng để hướng dẫn cho trẻ tự kỷ, rối loạn phát triển, rối nhiễu tâm trí, các triệu chứng phụ của tự kỷ như tăng động kém chú tâm, thiếu trí nhớ, động kinh, sợ hãi, rối loạn giác ngủ, hành vi hung hăng, rối loạn việc ăn uống, trầm cảm v.v…- tuỳ theo cơ địa cá nhân và lớp tuổi, như các bài tập mang tên chung là Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS/n“

* Hơi Thở Ý Thức (PERG – Mindfulness – Breath) „PERG-BS/breath“
* Hành Vi Ý Thức (PERG – Mindfulness – Behavior) „PERG-BS/beha“
*
Mắt (PERG – Mindfulness – Eye) „PERG-BS/Eye“
* Thể Dục Não Bộ(PERG – Brain-Fitnes) „PERG-BS/brain-fit“
* Kích Hoạt Não Bộ Cài Lập Trình Chuyển Hoá Làm Mới Tư Duy (PERG – Brain Stimulation) „PERG-BS/Stimu(lation)“
* Căn bản ((PERG – Brain-Stimulation) „PERG-BS/basis“ gồm sáu động tác Gõ, Xoa, Phẩy, Vỗ, Nắn và ẤN
* Thần kinh PHẾ VỊ „PERG-BS/Vagus“ 
* Hệ Miễn dịch Bẩm sinh Tự nhiên cùng Não bộ và Căng Thẳng trên thân và não bộ „PERG-BS/Natural Innate Immun System & Stress“

TÁM bài Ý công TÂM Pháp „PERG-BS/n“ bên trên không những có hiệu ứng khả quan trong việc trị liệu các chứng rối loạn phát triển, các bệnh tâm lý và tâm thần mà còn được sử dụng cho việc phòng ngừa các triệu chứng của bệnh Rối Loạn Phát Triển (development disorders)

KẾT LUẬN
Đối với trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn bị những triệu chứng Rối Loạn Phát Triển, trước tiên họđược chúng tôi khám chẩn theo phương pháp chẩn „đặc hiệu và độc lạ“ do chúng tôi phát minh để tìm ra GỐC (tác nhân) khiến nhiễu loạn thần kinh dẫn đến các triệu chứng rối loạn phát triển tương ứng.

Theo kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi cho thấy: 100% mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển đều có NGUỒN từ người Mẹ từ lúc thục thai, suốt trong thời gian mang bầu, sinh nở và nuôi dưỡng giáo dục cho đến vị thành niên – ảnh hưởng đến giai đoạn trưởng thành sau này của người bị ảnh hưởng.

Cho nên, người Mẹ luôn được mời đồng hành hỗ trợ cho người bị rối loạn phát triển sớm cải thiện triệu chứng nhiễu loạn thần kinh kèm theo mọi triệu chứng rối loạn tương ứng. Tuy nhiên đây là một đề tài không mới mẻ gì đối với Y lý – Y học và Y thuật của TÂM-THỂ Liệu pháp P.E.R.G.® do chúngt ôi phát minh, nhưng đối với ngành y và giáo dục hiện đại khó có thể chấp nhận! Vì nếu các Vị chấp nhận tư tưởng này, thì toàn bộ giáo khoa, kinh nghiệm lâm sàng v.v… liên quan đến định nghĩa, phương pháp can thiệp, sử dụng thuốc men v.v… liên quan đến chủ đề Rối Loạn Phát Triển của mọi lớp tuổi sẽ „đượccất vào tủ gương trưng bày trong viện bảo tàng y khoa (!)

Thật tế là như thế đó, kính thưa quý Vị! Kính mong quý Vị hoan hỷ thứ tha cho chúng tôi nếu quý Vị cho rằng những điều chúng tôi trình bày chỉ là một số khẳng định thiếu chứng minh khoa học và hồ đồ!

Chân thành tri ân sự lắng lòng theo dõi của quý Vị về bài tham luận của chúng tôi cho Hội thảo Khoa học Quốc tế này. Và thành kính niệm ân Ban Tổ chức đã hoan hỷ ngõ ý mời chúng tôi tham gia đóng góp về Y lý – Y học và Y thuật của Y phương minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ cho chủ đề „„Ứng Dụng TÂM LÝ HỌC và GIÁO DỤC HỌC can thiệp RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN“ của Hội thảo Quốc tế năm 2017

Trân trọng kính chào quý Vị!

Tài liệu thảm khảo:
(1) Bà Christine Freitag, bác sĩ tâm thần nhi đồng thuộc Y Viện Đại Học Frankfurt
(2) Bà Nele Langosch, nữ tâm lý gia, bài đăng trên tạp chí „Não Bộ và Tâm Thức“ (Gehirn und Geist) số phát hành 12.2016
(3) DCM-5 và ICD-10 Kapitel V (F) của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế phát hành, phiên bản Đức ngữ
(4) Bác sĩ Gian Domenico Borasio, “Về Sự Tử Vong” (Über das Sterben), nhà xuất bản C.H.Beck.
(5) Trích tài liệu giáo khoa về thần kinh và tâm lý học.
. . . . .

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ BẢY ngày 26.07.2025

Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover: https://hannover-wendepunkt.de/team/

Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng  phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:

1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc