Rối loạn lo âu (anxiety disorder), rối loạn nhân cách (personality disorder), rối loạn ám ảnh cưỡng chế (obsessive-compulsive disorder), trầm cảm (depression) và nhiều loại khác nữa – danh sách các bệnh tâm lý (psychological diseases) rất dài. Chúng thường khó thấy hơn nhiều so với các bệnh lý về thể chất, nhưng lại rất phổ biến: Hơn một trong bốn người lớn ở Đức bị ảnh hưởng mỗi năm. Con số đó tương đương với gần 18 triệu người.
Theo số liệu từ Hiệp hội Tâm thần học và Tâm lý trị liệu, Tâm Thể học và Thần kinh học Đức (German Society for Psychiatry and Psychotherapy, Psychosomatics and Neurology), có gần một phần ba trong số tất cả các chẩn đoán đều thuộc một trong các loại này. Nhìn chung, phụ nữ thường bị ảnh hưởng nhiều hơn nam giới. Họ dễ mắc các rối loạn cảm xúc (affective disorder) hơn. Ngược lại bệnh nhân nam có nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi rượu hoặc lạm dụng ma túy.
Tâm lý trị liệu (psychotherapy) và thuốc (drug) thường được sử dụng để điều trị bệnh tâm lý. Tuy nhiên, việc tìm chỗ để điều trị hoàn toàn không dễ dàng đối với bệnh nhân và không phải ai cũng được chữa lành sau khi hoàn tất thành công quá trình điều trị. Ngoài ra, nhiều loại thuốc chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm (anti depressiva) cũng có nhược điểm và nhiều tác dụng phụ của nó…
Hơn nữa, các rối loạn tâm lý vẫn còn bị kỳ thị ở nhiều lãnh vực trong xã hội. Không giống như những người mắc bệnh về thể chất như ung thư, những người mắc bệnh tâm lý ít được ưu đãi.
Do đó, các nhà khoa học đang nỗ lực hơn nữa để giải mã các cơ chế đằng sau các rối loạn như lo âu, trầm cảm, v.v… cũng như để tìm hiểu nguyên nhân của chúng.
[Nguồn: Spektrum / 30.05.2025]
KHỔ TÂM CÓ THỂ MẮC 8 BỆNH TÂM LÝ PHỔ BIẾN
Có 27,8 phần trăm dân số trưởng thành ở Đức mắc bệnh tâm lý trong suốt một năm. Điều này khiến bệnh tâm lý trở thành một trong những căn bệnh phổ biến nhất ở Đức. Trong đại dịch Coronavirus, con người thậm chí còn có nguy cơ cao hơn. Sự cô lập giãn cách xã hội, lo lắng về sức khỏe và nỗi sợ hãi về tương lai khiến cuộc sống trở nên khó khăn hơn bình thường.
Trong tháng Năm năm 2020, có 23 phần trăm số người được hỏi cho biết một trong những mối quan tâm chính của họ là sức khỏe tâm lý (nguồn: Statista). Mặt khác, gần một nửa số bệnh nhân mắc nhiều hơn một bệnh tâm lý. Phổ biến nhất là sự kết hợp của lo âu (anxiety disorders)và rối loạn cảm xúc (affective disorder) – ví dụ như trầm cảm. Rối loạn cảm xúc mô tả sự thay đổi tâm trạng đáng kể về mặt lâm sàng. Dưới đây, là tám (08) bệnh tâm lý phổ biến khi tâm có vấn đề.
I. Rối loạn lo âu (anxiety disorder) . Rối loạn lo sợ là bệnh tâm thần phổ biến nhất ở Đức và có thể có những biểu hiện rất khác nhau chẳng hạn:
1. Rối loạn lo âu tổng quát (Generalized anxiety disorder, GAD)
Với rối loạn lo âu tổng quát, những người bị ảnh hưởng sẽ phải chịu đựng nỗi sợ hãi và lo lắng trong ít nhất sáu tháng, thường xuyên và không có lý do chính đáng. Những điều này ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống, chẳng hạn như công việc, gia đình, các mối quan hệ, sức khỏe, v.v… Lo lắng và sợ hãi có thể đi kèm với các triệu chứng về thể chất như khó ngủ, căng thẳng liên tục, căng thẳng về thể chất, hội chứng ruột kích thích hoặc bệnh tim. Triệu chứng GAD có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn nam giới.
2. Rối loạn sợ xã hội (Sociophobia)
Ví dụ, những người mắc chứng sợ xã hội rất sợ trở thành tâm điểm chú ý, bị phơi bày hoặc bị chỉ trích. Rối loạn lo âu xã hội có thể nghiêm trọng đến mức những người bị ảnh hưởng không còn có thể chịu đựng được việc đến nhà hàng hoặc mua sắm tại siêu thị.
Các triệu chứng có thể xảy ra khác bao gồm các cơn hoảng loạn, đổ mồ hôi nhiều, buồn nôn, tiêu chảy, run rẩy, đỏ mặt và nói lắp.
3. Chứng sợ hãi cụ thể (Specific phobias)
Chứng sợ hãi cụ thể là chứng rối loạn lo âu phổ biến nhất. Bệnh nhân SỢ một tình huống, động vật, đồ vật hoặc hoạt động hoàn toàn đặc biệt. Sợ động vật hoặc sợ bay là bình thường ở một mức độ nào đó. Chỉ khi nỗi sợ biến thành hoảng loạn, tức là khi người bị ảnh hưởng cực kỳ lo lắng và nỗi sợ của họ không còn tương xứng với mối nguy hiểm thực sự, thì đó mới là chứng sợ hãi cụ thể. Thông thường, bản thân người đó biết rằng nỗi sợ của họ là phóng đại, nhưng vẫn không thể tránh được các cơn hoảng loạn hoặc cố gắng tránh đối tượng khiến họ sợ hãi.
Các triệu chứng có thể xảy ra khác bao gồm nhịp tim nhanh, đau ngực, buồn nôn, nôn, chóng mặt, cảm giác lạnh và đổ mồ hôi. Ví dụ về chứng sợ hãi cụ thể :
• Sợ động vật (Zoophobia)
• Sợ độ cao (Akrophobia)
• Sợ nơi chốn/không gian rộng (Agoraphobia)
• Sợ không gian hẹp (Klaustrophobia)
• Sợ dông tố (Astraphobia)/sợ bạo lực thiên nhiên (Brontophobia)
II. Trầm cảm cảm xúc đơn cực (Unipolar affective depression)
Có một trong năm người Đức mắc chứng trầm cảm cảm xúc đơn cực trong suốt cuộc đời. Phụ nữ được cho là có khả năng mắc bệnh cao gấp đôi. Hơn nữa, số ca bệnh chưa được báo cáo có thể còn cao hơn nhiều. Trầm cảm thường không được chẩn đoán, đặc biệt là ở nam giới. Những người bị trầm cảm thường có tâm trạng chán nản, thiếu động lực, vô cảm, thờ ơ và suy nghĩ tiêu cực.
Ngoài các triệu chứng chính, các vấn đề về thể chất (somatic), chẳng hạn như đau và rối loạn tiêu hóa, thường cũng xảy ra. Các triệu chứng bổ sung có thể bao gồm rối loạn giấc ngủ, suy nghĩ ám ảnh cưỡng chế, tuyệt vọng, chán ăn, khó tập trung, lòng tự trọng/sự tự tin thấp, cảm giác tội lỗi và tự ti, và có ý định tự tử.
Tùy thuộc vào các triệu chứng, người ta phân biệt giữa trầm cảm nhẹ, trung bình và nặng. Trầm cảm thường đi kèm với một bệnh tâm lý khác, chẳng hạn như rối loạn lo âu, nghiện ngập, rối loạn ăn uống, rối loạn nhân cách hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng chế.
III. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (obsessive-compulsive disorder, OCD)
Rối loạn ám ảnh cưỡng chế liên quan đến những suy nghĩ hoặc hành động ám ảnh, hoặc cả hai cùng một lúc, và có thể tác động đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày. Những người bị ảnh hưởng thường vô cùng đau khổ vì họ không thể chỉ đơn giản là kìm nén những hành vi cưỡng chế của mình và cảm thấy lo lắng, căng thẳng và ghê tởm khi cố gắng chống lại chúng. Những hành vi cưỡng chế thường là những nghi lễ thực sự, mà bản thân những người bị ảnh hưởng biết là quá mức. Những suy nghĩ ám ảnh liên tục ám ảnh những người bị ảnh hưởng theo cùng một hình thức tiêu cực và đau khổ. Bệnh tâm lý OCD có thể ảnh hưởng đến cả trẻ em, và sau đó thường biến mất sau vài tuần hoặc vài tháng. Tuy nhiên, ở một phần năm số người lớn mắc bệnh, những hành vi cưỡng chế bắt đầu từ thời thơ ấu. Các triệu chứng thường phát triển đầy đủ vào độ tuổi 35. Phụ nữ và nam giới bị ảnh hưởng như nhau. Có những loại rối loạn ám ảnh cưỡng chế như sau:
• Cưỡng chế làm sạch và rửa sạch
• Cưỡng chế kiểm tra (bếp, cửa, v.v.)
• Cưỡng chế lặp lại và đếm
• Cưỡng chế thu thập
• Cưỡng chế trật tự
• Cưỡng chế làm chậm lại
• Suy nghĩ ám ảnh mà không có hành động cưỡng chế
IV. Rối loạn tâm thần (Psychotic disorders)
Trong chứng loạn thần, những người bị ảnh hưởng (thường là tạm thời) mất kết nối với thực tại. Điều này làm suy yếu khả năng suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức của họ về bản thân và người khác. Lo lắng, cảm giác bị người khác đe dọa, thay đổi tâm trạng, khó tập trung và rối loạn vận động, thiếu động lực và thu mình lại có thể đi kèm với chứng loạn thần. Rối loạn tâm thần thường xuất hiện lần đầu ở tuổi trưởng thành.
Tâm thần phân liệt (schizophrenia) là một chứng loạn thần phổ biến và nghiêm trọng. Những người bị ảnh hưởng thường bị ảo tưởng (delusions) và ảo giác (hallucinations). Họ đột nhiên nghe thấy những giọng nói và tiếng động không có mặt, cảm thấy bị ngược đãi và coi những suy nghĩ phi logic của chính mình là xa lạ. Mặc dù những người bị ảnh hưởng rất đau khổ vì căn bệnh của mình, nhưng họ thường cần được hỗ trợ để tìm kiếm sự giúp đỡ.
V. Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (ost-traumatic stress disorder, PTSD)
Nếu một người trải qua một sự kiện gây chấn thương hoặc căng thẳng cao độ như tai nạn, tấn công hoặc mất đi người thân, điều này có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể về suy nghĩ, cảm xúc và hành động.
Nếu tình trạng này kéo dài sau một tháng và các triệu chứng như căng thẳng, hồi hộp, đổ mồ hôi, cáu kỉnh, khó tập trung, ác mộng, hồi tưởng về trải nghiệm và kìm nén hoặc tránh né những thứ liên quan đến sự kiện trở nên nghiêm trọng hơn, thì tình trạng đó là rối loạn căng thẳng sau chấn thương.
Ngay cả với PTSD, những người bị ảnh hưởng thường mắc các bệnh tâm lý khác như trầm cảm, rối loạn lo âu, nghiện rượu hoặc ma túy. Nạn nhân của bạo lực thể xác hoặc tình dục thường có nguy cơ mắc PTSD cao hơn.
Các yếu tố nguy cơ khác của PTSD bao gồm chấn thương trong quá khứ, bệnh tâm lý trước đó, trải nghiệm căng thẳng dai dẳng sau chấn thương và thiếu sự hỗ trợ xã hội.
VI. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (Bipolar affective disorder)
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực được đặc trưng bởi những thay đổi tâm trạng hưng cảm (manic) và trầm cảm (depressive). Trong khi những người bị ảnh hưởng trải qua sự phấn khích thái quá trong giai đoạn hưng cảm và thường rất hưng phấn, hiếu động thái quá và cáu kỉnh, thì một giai đoạn trầm cảm tiếp theo, trong đó họ cảm thấy chán nản, uể oải và buồn bã. Những thay đổi tâm trạng này xảy ra theo từng đợt và độc lập với hoàn cảnh sống tương ứng. Nếu những thay đổi tâm trạng không gây ra hậu quả sâu sắc cho người bị ảnh hưởng và những người xung quanh, chúng được gọi là “rối loạn khí sắc” (cyclothymia). Tuy nhiên, nếu các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm kéo dài hơn, nghiêm trọng và có hậu quả tiêu cực cho người bị ảnh hưởng, chúng được gọi là bệnh hưng cảm-trầm cảm (manic-depressive diseases). Khoảng ba phần trăm dân số Đức bị ảnh hưởng bởi rối loạn lưỡng cực. Bệnh nhân thường ở độ tuổi khoảng 18 tại thời điểm xuất hiện cơn đầu tiên. Nam giới bị ảnh hưởng thường xuyên như nữ giới.
VII. Rối loạn ăn uống (Eating disorders)
Rối loạn ăn uống cũng đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội của chúng ta. Người ta ước tính rằng 30 đến 50 trong số 1.000 người mắc phải chứng rối loạn này. Khoảng một phần năm trẻ em và thanh thiếu niên từ 11 đến 17 tuổi ở Đức biểu hiện các triệu chứng của chứng rối loạn ăn uống.
Trong những trường hợp này, suy nghĩ chỉ xoay quanh thức ăn, trọng lượng và vóc dáng. Ví dụ, rối loạn ăn uống phát triển khi một người bị lòng tự trọng thấp, nhận được quá ít sự quan tâm và tình yêu, và/hoặc có động lực hướng đến sự cầu toàn, hoặc khi sự cầu toàn này bị cha mẹ áp đặt lên họ. Điều này có thể dẫn đến việc từ chối thức ăn, ăn uống vô độ không kiểm soát, ăn lén lút, sợ hãi và hoảng loạn về việc tăng cân, hình ảnh cơ thể bị bóp méo (rối loạn nhận thức về cơ thể), từ chối cơ thể của chính mình và nói chung là mức độ đau khổ cao.
Rối loạn ăn uống thường bắt đầu ở tuổi trưởng thành. Trẻ em gái và phụ nữ thường bị ảnh hưởng nhiều hơn, nhưng trẻ em trai và nam giới cũng mắc phải chứng rối loạn này.
Về cơ bản, rối loạn ăn uống co 3 loại:
1. Chán ăn (Anorexia, Anorexia nervosa)
Chán ăn được đặc trưng bởi tình trạng thiếu cân nghiêm trọng – ít nhất 15 phần trăm dưới mức cân nặng bình thường và đói liên tục. Nhiều người chán ăn cũng tập thể dục nặng, dùng thuốc nhuận tràng, nôn mửa hoặc từ chối ăn và liên tục theo dõi trọng lượng của mình. Họ có nỗi sợ hãi hoảng loạn về việc tăng cân và cảm thấy thừa cân mặc dù thiếu cân (rối loạn hình trạng cơ thể).
Các triệu chứng đi kèm bao gồm nhịp tim chậm (Bradycardia), phù nề (Edema), lông lanugo (ví dụ như lông tơ trên mặt), ớn lạnh liên tục, mất tập trung, huyết áp thấp (Hypotonia), suy nhược cơ thể/xưng cơ, rối loạn giấc ngủ, ngừng kinh nguyệt, rối loạn chức năng gan và thận, v.v…
2. Rối loạn ăn uống vô độ (Bulimia, Bulimia Nervosa)
Trong chứng bulimia, những người bị ảnh hưởng cũng rất sợ tăng cân. Tuy nhiên, trọng tâm ở đây không phải là tình trạng đói, mà là tình trạng ăn uống vô độ, thường xảy ra một cách bí mật và rất nhanh. Sau khi ăn uống vô độ, cảm giác tội lỗi và ghê tởm trở nên dữ dội. Để ngăn ngừa tăng cân, những người bị ảnh hưởng sẽ nôn sau những lần ăn uống vô độ, nhịn ăn, ăn kiêng, dùng thuốc nhuận tràng và thường xuyên tập thể dục quá mức. Mặc dù những người bị ảnh hưởng thường có cân nặng bình thường, họ cũng bị biến dạng hình ảnh cơ thể và cảm thấy thừa cân.
Ngoài các triệu chứng chính, các triệu chứng khác như tuyến nước bọt sưng, khóe miệng nứt nẻ, huyết áp thấp, giữ nước (phù nề), thiếu tập trung, kiệt sức v.v… có thể xảy ra.
3. Rối loạn ăn uống vô độ (Binge eating disorder)
Trong chứng rối loạn ăn uống vô độ, những người bị ảnh hưởng sẽ bị suy giảm cảm giác đói và no, do suy giảm khả năng điều chỉnh cảm xúc. Điều này dẫn đến các cơn ăn không kiểm soát mà người bị ảnh hưởng không thể kiềm chế. Các cơn ăn xảy ra nhiều hơn một lần một tuần và trong ít nhất ba tháng. Những người bị ảnh hưởng thường bị thừa cân hoặc béo phì và có lòng tự ghét bản thân mạnh mẽ. Họ thường ăn trong bí mật và cảm thấy rất xấu hổ và tội lỗi.
Các triệu chứng khác bao gồm huyết áp cao, nồng độ lipid trong máu tăng cao, xơ cứng động mạch (arteriosclerosis), rối loạn hô hấp và giấc ngủ, tổn thương khớp và cột sống, v.v…
Ngoài ra còn có các dạng hỗn hợp của nhiều loại rối loạn ăn uống khác nhau. Chúng được gọi là “rối loạn ăn uống không xác định”.
VIII. Rối loạn nhân cách tự luyến (Narcissistic personality disorder)
Rối loạn nhân cách tự luyến dường như ngày càng trở nên phổ biến và được đặc trưng bởi nhu cầu bệnh lý về thích sự chú ý, công nhận và ngưỡng mộ. Người ta ước tính rằng có khoảng một phần trăm dân số mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ.
Chứng ái kỷ cũng biểu hiện cho sự tự phụ, kiêu ngạo và tự lý tưởng hóa.
Người ái kỷ rất sợ thất bại, từ chối chấp nhận lời chỉ trích, gặp khó khăn hoặc thậm chí không có sự đồng cảm với người khác, thao túng, đối xử hạ thấp người khác, luôn quan tâm đến lợi ích của riêng mình và không cảm đồng cảm hay thấu hiểu.
Mặc dù thoạt nhìn nhiều cá nhân bị ảnh hưởng có vẻ rất tự tin, tham vọng và có cuộc sống thành công, nhưng đây chỉ là vỏ bọc được sử dụng để bù đắp cho, ví dụ, những trải nghiệm đau thương từ thời thơ ấu và tuổi mới lớn – có ít hoặc không có sự công nhận và tình yêu của cha mẹ, thiếu sự đặt ra ranh giới và lòng tự trọng thấp.
Người ta cũng cho rằng gen và ảnh hưởng của môi trường cũng đóng một vai trò. Rối loạn nhân cách tự luyến cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều và việc chẩn đoán thường được những người bị ảnh hưởng coi là một cuộc tấn công cá nhân và giống như thất bại, có thể đẩy họ vào một cuộc khủng hoảng lớn.
IX. Bệnh tâm lý được điều trị như thế nào?
Tất nhiên, điều này luôn phụ thuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh lý. Nhìn chung, các phương pháp điều trị sau đây đang hiện hành:
• Liệu pháp tâm lý (psychotherpy) – ngoại trú hoặc nội trú, trị liệu cá nhân hoặc nhóm
• Bác sĩ tâm thần (sử dụng thuốc)
• Các kỹ thuật thư giãn như thư giãn cơ tiến triển (progressive muscle relaxatio), tập luyện tự sinh (Autogenic training), thiền (Meditation) hoặc Yoga
• Tư vấn dinh dưỡng
[Nguồn: big-direkt / 01.06.2025]
. . . . .
CẢM NHẬN
Kính thưa các Bạn,
nhận thấy hầu hết mọi người đều chưa nắm bắt cụ thể về các dữ liệu liên quan đến các triệu chứng hay những bệnh gọi là tâm lý (psychological diseases), nên chúng tôi tích hợp trích dịch nhiều tài liệu giáo khoa cũng như các thông tin liên quan trên các sàn trực tuyến.
Cho đến nay, cơ sở để tìm hiểu về những tình trạng, nguyên nhân dẫn đến bệnh tâm lý đều dựa vào thống kê từ lâm sàng cũng như từ kết quả những nghiên cứu khoa học liên quan đến bệnh chứng.
I. Việc chẩn đoán các triệu chứng tâm lý dựa vào cái gọi là Cẩm nang Tiêu Chuẩn Thống Kê Lâm sàng cho việc Chẩn đoán như:
1. ICD-10 – phiên bản „Phân loại Thống kê Quốc tế về Bệnh tật và các vấn đề Sức khỏe liên quan“ (International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems, ICD), một danh sách phân loại y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
2. DSM-5 – phiên bản thứ năm của „Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm lý“ (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, DSM) là hệ thống phân loại tâm thần cụ thể tại Hoa Kỳ và đóng vai trò trung tâm trong việc định nghĩa các rối loạn tâm lý.
II. Việc trị liệu thường được sử dụng hai phương pháp Tâm lý trị liệu (psychotherapy) và thuốc (drug). Riêng việc tìm chỗ để điều trị hoàn toàn không dễ dàng đối với bệnh nhân mắc bệnh tâm lý ở Đức – thời gian chờ đợi để chính thức được chẩn trị không dưới 6 tháng hay nhiều hơn là chuyện bình thường tại Đức. Ngoài ra, không phải ai cũng được chữa lành sau khi hoàn tất thành công quá trình điều trị.
Thuốc uống điều trị bệnh tâm lý cũng tương tự những loại thuốc khác có nhược điểm là nhiều tác dụng phụ của nó chẳng hạn thuốc chống trầm cảm (anti depressiva) hay an thần (anti neuoleptika)
Không riêng gì tại Việt Nam, rối loạn hay bệnh tâm lý vẫn còn bị xã hội kỳ thị khắp nơi trên thế giới, nên ít được ưu đãi hơn những bệnh khác!
CĂN NGUYÊN GÂY BỆNH
Vì thế cho nên, mãi cho đến hôm nay các nhà khoa học vẫn đang nỗ lực hơn nữa để giải mã CÁC CƠ CHẾ ĐẰNG SAU những rối loạn như lo âu, trầm cảm, v.v… cũng như để tìm hiểu NGUYÊN NHÂN của chúng.
Kết luận này cho thấy tất cả các nhà khoa học phát minh ra những phương pháp tâm lý trị liệu – kể từ thời cha đẻ khao phân tâm học và tâm lý trị liệu là Sigmund Freund – bác sĩ và tâm lý học người Áo cho đến thôi miên (Hypnotherapy) với Milton Erickson hoặc Aaron Beck với liệu pháp hành vi nhận thức (Cognitive behavioral therapy) hay Carl Gustav Jung – một nhà tâm thần học người Thụy Sĩ với tâm lý phân tích học (analytical psychology) hoặc John B.Watson tâm lý học người Mỹ với liệu pháp hành vi (cổ điển) và vô số các chuyên gia tâm lý hay thần kinh cận đại vẫn CHƯA BIẾT
1. CÁI GÌ dẫn đến các triệu chứng rối loạn tâm lý hay bệnh thể chất các kiểu nghĩa là họ còn phải tìm tòi nghiên cứu hơn nữa để GIẢI MÃ các cơ chế đằng sau những triệu chứng tâm lý?
2. CÁI GÌ này (nguyên nhân) TỪ ĐÂU sinh ra?
Hơn nữa,nên y học hiện đại, các bác sĩ và những nhà trị liệu vẫn còn „mắc kẹt“ hay „bám chặt“ vẫn „tuân thủ“ tư tưởng phân loại NHỊ NGUYÊN của René Descartes (1596–1650) rằng: THÂN và TÂM là hai (02) thực thể riêng biệt . Theo đó, những triệu chứnghoặc là liên quan đến thể chất hoặc làtâm lý.
Tuy nhiên,thông quaquá trình kinh nghiệm lâm sàng cũng như vô số kết quả các công trình nghiên cứu khảo sát lâm sàng chỉ ra rằng: Trên 80 phần trăm các triệu chứng thể chất (thân) KHÔNG tìm ra nguyên nhân ở THÂN mà có thể do TÂM lý gây ra! Vì thế khái niệm TÂM-THỂ (psycho-somatic) được thịnh hành nở rộ với những triệu chứng gọi là HẬU-Covid sau khi nhiễm Corona-Virus – cho dù có hay không tiêm chủng Vakzin-Corona loại „mRNA“.
Kính mời các Bạn tham khảo tìm hiểu thêm mảng này qua bài chia sẻ sau:
KẾT LUẬN
Kính thưa các Bạn,
ĐIỀU mà các nhà khoa học ĐANG nỗ lực nhiều hơn nữa để giải mã CÁC CƠ CHẾ ĐẰNG SAU những bệnh hay rối loạn tâm lý cũng như để tìm hiểu NGUYÊN NHÂN của chúng ĐÃ được chúng tôi ưu tư trên 3 thập niên qua.
Khi quán chiếu NHÂN DUYÊN SANH dựa vào giáo lý Phật đà với Phẩm SONG YẾU đầu tiên của Kinh Pháp Cú, giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ và pháp hành TỨ NIỆM XỨ thuộc 37 Phẩm TRỢ ĐẠO và khi NHÂN – DUYÊN – HỘI NGỘ – THỜI thì chúng tôi THẤY BIẾT rõ rằng : Thuật ngữ gọi là TÂM LÝ (psyche) dẫn đến những triệu chứng tật bệnh cho thân hay tâm CHỈ là cái BÓNG rọi ra phía trước tương ứng cái HÌNH gọi là TÁC Ý. Và cái TÁC Ý này còn bị ảnh hưởng nhiều yếu tố khác như cá tính, nhân cách, hoàn cảnh, môi trường, gia đình, tình cảm, khả năng, trình độ, nghề nghiệp v.v…
Y phương minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ được phát minh và ra đời dựa trên nền tảng:
1. Y lý là Phẩm SONG YẾU đầu tiên của Kinh Pháp Cú;
2. Y Học là giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ;
3. Y Thuật là pháp hành TỨ NIỆM XỨ thuộc 37 Phẩm TRỢ ĐẠO
Đây là phương pháp DUY NHẤT trên hành tinh này có y thuật CHẨN tìm ra CĂN NGUYÊN hay TÁC NHÂN của các bệnh thân vật lý hay tâm lý hoặc tâm thần nhất là những bệnh tâm-thể nghĩa là bệnh thân không có nguyên nhân ở đó!
Điều này được chúng tôi thực hiện theo tinh thần TRUNG ĐẠO của giáo lý Phật đà để chẩn tìm CĂN NGUYÊN tất cả các bệnh thân và tâm với thuyết:
„THÂN TÂM KHÔNG HAI“
Thật vô cùng đơn giản dễ hiểu, bởi Phật dạy rằng:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA
cho nên
Ta và chúng sanh ĐANG là
Cái TÁC Ý của ta và họ ĐÃ là;
Ta và chúng sanh SẼ là
Cái TÁC Ý của ta và họ ĐANG là…m!
cũng như thế:
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN ĐANG là
từ TÁC Ý chủ nhân của nó ĐÃ là;
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN SẼ là…nh
cũng do TÁC Ý chủ nhân của nó ĐANG là…m!
Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát
Chúng con thương kính chúc mười phương chúng sanh Thân Tâm Thường Lạc, luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối! Và nguyện cho những hương linh đã qua đời từ vô lượng kiếp trong quá khứ nhẫn đến hiện tại và tương lai được vãng sanh về cảnh giới AN LÀNH thuận theo nghiệp lực hay hạnh nguyện của mình!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
Tâm chú DƯỢC SƯ:
“Om Bhaisajye Bhaisajye Mahabhasajye bhaisayaraje sammudgate svaha”
“Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Tóa Ha”
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
CHỦ NHẬT ngày 01.06.2025
Nhân ngày Thiếu Nhi Quốc tế 1/6
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover.
https://hannover-wendepunkt.de/team/
Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:
1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo


Bình luận