ĐAU NHỨC do TƯỞNG TƯỢNG chăng? Một Ý NGHĨ „tích cực“ (placebo) hay „tiêu cực“ (nocebo) ảnh hưởng đến cơn đau ra sao?

„Sự đau nhức có thể tưởng tượng được không? Đặc biệt là trong trường hợp đau mãn tính, khi bác sĩ không thể tìm ra nguyên nhân vật lý rõ ràng. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó là giả. Đồng thời, Ý NGHĨ tiêu cực như lo lắng sợ hãi khó lành bệnh sẽ làm TĂNG mức độ đau nhức nghiêm trọng hơn (nocebo). Ngược lại, Ý NGHĨ tích cực như hy vọng sẽ lành bệnh sẽ làm GIẢM mức độ đau nhức (placebo) đáng kể!

A. „ ĐAU NHỨC do TƯỞNG TƯỢNG chăng?
Đặc biệt là trong trường hợp đau mãn tính, khi bác sĩ không thể tìm ra nguyên nhân vật lý rõ ràng. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó là giả. Nguyên nhân thường là sự tương tác khó hiểu giữa hệ thần kinh, cảm xúc và hoàn cảnh sống.

Nếu ai đó cảm thấy đau, thì đó là „cái“ đau thật.
Đau chủ yếu là trải nghiệm chủ quan không dễ nắm bắt từ bên ngoài. Nhìn chung, điều sau đây áp dụng cho trải nghiệm của con người: Thực tế chủ quan của một cảm giác không gắn liền với bằng chứng khách quan. Điều này cũng áp dụng nếu không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng cho cơn đau, chẳng hạn như gãy xương hoặc mòn khớp. Trong khi những nguyên nhân như vậy thường có thể suy ra đối với cơn đau cấp tính, thì điều này khó hơn đối với cơn đau mãn tính.

Niềm TIN rằng, cơn đau có thể tưởng tượng được bắt nguồn từ sự tách biệt mang tính cách lịch sử giữa thân tâm. Nhà triết học người Pháp và là người tiên phong của Thời kỳ Khai sáng, René Descartes (1596–1650), coi chúng là hai thực thể riêng biệt. Nếu không có bằng chứng về nguyên nhân vật lý, cơn đau sẽ bị coi là tâm lý và do đó là “giả”. May mắn thay, ngày nay chúng ta đã hiểu rõ hơn về lãnh vực này.

ĐAU không chỉ do các chấn thương có thể nhìn thấy được ở các cấu trúc vật lý. Đặc biệt khi nó là mãn tính, nó được cho là có nguyên nhân “sinh học tâm lý xã hội” (biopsychosocial). Điều này có nghĩa là cả các quá trình “sinh học” như viêm hoặc chấn thương và các yếu tố “tâm lý” như hoàn cảnh sống căng thẳng, ký ức đau đớn hoặc cảm xúc tiêu cực đều có thể gây ra, làm tăng cườngduy trì cơn đau. Các yếu tố đóng góp tương đối có thể khác nhau giữa những người bị ảnh hưởng, nhưng thường thì tất cả đều liên quan. Viêm xơ cơ, liên quan đến đau cơ và mô mềm, kiệt sức và rối loạn giấc ngủ… là một ví dụ về rối loạn đau sinh học tâm lý xã hội như vậy.

I. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ và nhà trị liệu vẫn tuân thủ theo cách phân loại nhị nguyên này: Những triệu chứng hoặc là liên quan đến mặt thể chất hoặc do tâm lý. Nguy hiểm nằm ở chỗ những người bị ảnh hưởng cảm thấy bị coi thường khi bác sĩ của họ tuyên bố: “Chúng tôi không tìm thấy bất cứ điều gì. Có lẽ bạn không có bất cứ điều gì. Dường như do tâm lý”. Điều này tước đi tính hợp pháp của những triệu chứng của những người bị ảnh hưởng ngay lập tức. Điều này phá hủy nền tảng của lòng tin và sau đó họ thường quay lưng lại với bác sĩ vì thất vọng.

II. Cùng với giả định rằng cơn đau là tưởng tượng, thường có lời buộc tội rằng bệnh nhân đang giả vờ. Phải thừa nhận rằng, đôi khi mọi người giả vờ, ví dụ, khi họ muốn được chú ý hoặc được chăm sóc sức khỏe. Bệnh nhân cũng thể hiện sự đau khổ của mình thông qua hành vi đặc biệt than vãn. Nhưng cả hai đều là biểu hiện của sự đau khổ về mặt tâm lý, chẳng hạn như nỗi sợ rằng nếu không, họ có thể không được tin tưởng.

Tất nhiên, có những nỗ lực nhằm biến nỗi đau thành vật thể. Ngay từ năm 1997, một nhóm do nữ nghiên cứu não bà Herta Flor điều hành đã chứng minh rằng quá trình xử lý cơn đau ở những người bị đau lưng mãn tính bị thay đổi ở cấp độ vỏ não. Nhóm nghiên cứu của bà đã phát hiện ra rằng: Những người mắc chứng rối loạn đau báo cáo các triệu chứng nghiêm trọng hơn sau khi mất ngủ, mặc dù ngưỡng đau được đo bằng thực nghiệm của họ vẫn không thay đổi. Trong một nghiên cứu khác, các nghiên cứu gia phát hiện ra rằng những bệnh nhân như vậy có khả năng hạn chế trong việc mô tả cảm xúc một cách chi tiết và hiểu các tình huống xã hội.

Năm 2024, một nhóm từ Đại học Liverpool đã chỉ ra rằng: Ở khoảng một nửa số bệnh nhân mắc hội chứng đau đa dạng (Fibromyalgia: Hội chứng đặc trưng bởi cơn đau lan rộng ở nhiều nơi khác nhau của cơ thể, rối loạn giấc ngủmệt mỏi tăng lên. Các triệu chứng cốt lõi này đi kèm với một số triệu chứng đi kèm như cứng khớp buổi sángkhó tập trung) thì những sợi thần kinh ngoại biên (peripheral nerve fibers) bị rối loạn. Tuy nhiên, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn liệu những thay đổi rối loạn đo đạt được này có phải là nguyên nhân hay hậu quả của cơn đau.

Thời đại Khai sáng từ René Descartes đã mở ra cánh cửa cho y học dựa trên bằng chứng, nhưng cũng để lại hình ảnh sai lệch về thân và tâm. Hiên nay, nền y khoa đang dần khôi phục lại quan điểm khác biệt này – vì lợi ích của bệnh nhân.

Nguồn: Spektrum / 29.05.2025. Tác giả: Volker Busch là giáo sư khoa tâm thần và tâm lý trị liệu tại Đại học Regensburg. Ở đó, ông nghiên cứu những yếu tố tâm lý xã hội (psychosocial), căng thẳng (depression) và cảm xúc (emotion) ảnh hưởng đến cơn đau như thế nào. Trong nhiều sách khoa học phổ thông và những bài thuyết trình công khai, bác sĩ giải thích cách thân và tâm tương tác với nhau như thế nào

B. NOCEBO vs PLACEBO. Ý NGHĨ Chờ Đợi điều Tiêu Cực MẠNH hơn GẤP ĐÔI Ý NGHĨ Hy Vọng về điều Tích Cực.

Ý NGHĨ tiêu cực như lo lắng sợ hãi khó lành bệnh sẽ làm TĂNG mức độ đau nhức nghiêm trọng hơn (nocebo) là có Ý NGHĨ tích cực như hy vọng sự lành bệnh sẽ làm GIẢM mức độ đau nhức (placebo) đáng kể!

LO SỢ khiến triệu chứng tồi tệ nhiều hơn HY VỌNG. Đây là kết luận cuối của một nghiên cứu từ Đại học Duisburg-Essen. Một nhóm từ Trung tâm Nghiên cứu Đặc biệt về lãnh vực „mong đợi ở việc điều trị“ (Treatment Expectation) do nữ bác sĩ thần kinh Ulrike Bingel điều hành. Các nghiên cứu gia đã cố tình đánh tráo sự mong đợi của hơn 100 người được thử nghiệm kích thích nhiệt ở cánh taykích thích làm giảm đau hoặc tăng đau. Phương pháp điều trị giả này được thực hiện bằng cách sử dụng thiết bị điện kích thích thần kinh xuyên da (transcutaneous electrical nerve stimulation device, TENS).

Hiệu ứng giả dược (Placebo effect) được biết đến rộng rãi: Riêng sự mong đợi tích cực (positive expectations) có thể làm giảm các triệu chứng. Hiệu ứng Nocebo ngược lại cũng được ghi nhận rõ ràng: Cho rằng liệu pháp sẽ không giúp ích gì hoặc có thể gây ra nhiều tác dụng phụ khó chịu sẽ làm giảm hoặc thậm chí phủ nhận sự thành công của một phương pháp điều trị có hiệu quả. Các nhà khoa học hiện tự đặt nghi vấn rằng: Hiệu ứng nào trong hai hiệu ứng mạnh hơn?

Nocebo mong đợi tiêu cực ĐÁNH BẠI Placebo giả dược kỳ vọng tích cực.

Kết quả: Cả hiệu ứng giả dược mong đợi tích cực Placebo và mong đợi tiêu cực Nocebo đều mạnh và vẫn có thể quan sát được một tuần sau khi thử nghiệm thực tế.

Tuy nhiên, mong đợi tiêu cực Nocebao làm tăng cơn đau đáng kể hơn kỳ vọng tích cực Placebo làm giảm cơn đau. Mặc dù kích thích nhiệt được tạo ra luôn giống nhau trong giai đoạn thử nghiệm, nhưng cơn đau được cảm nhận (trên thang điểm từ 0 đến 100) tăng trung bình 11 điểm với mong đợi tiêu cực, trong khi kỳ vọng tích cực chỉ làm giảm cơn đau khoảng 4 điểm.

Ngay cả một tuần sau đó, nỗi sợ hãi (mong đợi tiêu cực) vẫn mạnh gấp đôi so với hy vọng (kỳ vọng tích cực)

“Mọi người dường như có xu hướng mong đợi điều tồi tệ nhất – và điều này cũng được phản ánh trong quá trình xử lý cơn đau“, cô Ulrike Bingel giải thích trong một thông cáo báo chí. Theo quan điểm sinh học tiến hóa, điều này có vẻ hợp lý, vì nó có nghĩa là mọi người thích nghi tốt hơn cho những mối đe dọa tiềm ẩn.

Tuy nhiên, điều này gây bất lợi cho sự thành công của phương pháp điều trị y tế. Kết quả làm rõ mức độ tác dụng của hiệu ứng placebo giả dược và nocebo mong đợi sự tồi tệ – và mức độ thông tin về liệu pháp ảnh hưởng đến kỳ vọng của bệnh nhân.

Nguồn: Spektrum/29.05.2025 . Tác giả: Cô Liesa Bauer là nhà tâm lý học và biên tập viên về lãnh vực tâm lý học, y khoa và nghiên cứu não bộ.
. . . . .

CẢM NHẬN
Tôi sẽ bị hại” là bản dịch từ tiếng La-tinh của khái niệm “nocebo“. Mặc dù điều này nghe có vẻ khá nghiêm trọng, nhưng thực tế nó mô tả khá sinh động về cái gọi là hiệu ứng nocebo. Thuật ngữ này có lẽ không có ý nghĩa gì đối với hầu hết mọi người. Trong khoa học, nó thường được gọi là “mặt tối trí tưởng tượng của con người” hoặc “người anh em độc ác của giả dược (placebo)”. Giả dược được mô tả niềm tin rằng: một loại thuốc không có dược chất (giả) sẽ có tác dụng tốt.

Vì thế cho nên Nocebo tức ý nghĩ tiêu cực ĐỐI TRỌNG của Placebo tức ý nghĩ tích cực đối với giả dược. Nghĩa là, Nocebo liên quan đến ý nghĩ về hậu quả tiêu cực của một loại thuốc hoặc phương pháp điều trị – ​​nhưng những hậu quả này dường như không thật có, chỉ có vẻ như xảy ra. Theo họ, loại thuốc này không có tác dụng. Nên, sau khi dùng thuốc, họ đột nhiên gặp phải nhiều tác dụng phụ hoặc làm trầm trọng thêm một số triệu chứng. Nói cách khác, loại thuốc này khiến họ ốm hơn thay vì khỏe mạnh hơn. Nhân tiện, thuốc hiện đang khan hiếm ở nhiều nơi.

Chúng ta có thể hiểu như sau về sự khác biệt giữa Placebo (giả dược) và Nocebo (ý nghĩ tiêu cực). Với Placebo theo tiếng La-tinh có nghĩa là „Tôi hài lòng chấp nhận“, thì thật tế hoàn toàn ngược lại: Người bệnh được dùng một loại thuốc giả không chứa thành phần hoạt tính. Tuy nhiên, bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn sau đó. Tại sao thuốc hoặc phương pháp điều trị lại chữa lành? Bởi vì bệnh nhân mong đợi nó làm giảm các triệu chứng của họ.

Tuy nhiên, với hiệu ứng nocebo, những kỳ vọng này bị đảo ngược. Chỉ cần tin rằng một phương pháp điều trị có thể có tác dụng phụ không mong muốn sẽ dẫn đến việc chúng xảy ra. Nói cách khác, đó là một loại „tiên tri tự ứng nghiệm“.

Nhà tâm lý học và chuyên gia về giả dược Paul Enck, người đứng đầu nghiên cứu tại Khoa Tâm Thể (psycho-somatic) của Bệnh viện Đại học Tübingen cho đến năm 2014 và cũng đã nghiên cứu và công bố về hiệu ứng nocebo, cũng thấy điều này tương tự.

KẾT LUẬN
Đối với Y lý – Y học của Y phương minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ thì cho dù đó là Placebo với ý nghĩ tích cực nghĩa là „dù thế nào chăng nữa tôi sẽ lành bệnh“; hay Noceboý nghĩ tiêu cực nghĩa là „dù có làm thế nào chăng nữa thì tôi cũng chẳng thể lành bệnh mà còn có thêm nhiều triệu chứng khác“  thì nói chung cả hai thứ ý nghĩ „tích cực“ hay „tiêu cực“ này cũng đều là sự TÁC Ý của chính đương sự, chứ không vì „giả dược“ hoặc „liệu pháp“!

Tất nhiên, tác ý „tiêu cực“ cũng PHẢI có căn nguyên của nó – chứ nó không tự nhiên xuất hiện (!). Nghĩa là sự TÁC Ý này PHẢI được kích hoạt từ bên trong do những thông tin, kinh nghiệm, trải nghiệm v.v… tự thân hoặc huân tập từ bên ngoài qua một thời gian lâu, thông qua mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, ý tưởng tượng, rồi lưu trữ trong „bộ nhớ“ – cái gọi là „alaiya“ thức tức thức thứ TÁM theo Duy thức học Phật giáo còn gọi là TÀNG thứcKHO tàng trữ tất cả thông tin có hay không có ý thức, thiện, bất thiện hoặc không thiện không ác gọi là „vô ký“ v.v… (nghiệp thức).

Hoặc do những xung động (impuls) khác nhau từ bên ngoài thông qua 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý kích hoạt những chủng tử đã từng huân tập ở trên dẫn đến TÁC Ý tích hay tiêu cực theo dạng Placebo hay Nocebo.

Xin đơn cử một ví dụ: Một ai đó mắc phải một căn bệnh rất bình thường. Họ được điều trị bằng nhiều liệu pháp nhưng chưa khỏi! Điều này khiến họ có tác ý nghi ngờ hiệu quả tốt của các liệu pháp khác sau này can thiệp cho họ! Kế đến, khi có ý nghi ngờ thì họ sẽ TỰ tìm hiểu thêm nhiều thông tin liên quan đến căn bệnh của bản thân. Qua đó họ đa phần tiếp thu nhiều thông tin tiêu cực về căn bệnh của họ hơn là tích cực! Điều này làm họ thêm LO SỢ „vô cớ“ và do đó làm tăng thêm hiệu ứng Nocebo kỳ vọng tồi tệ hay tiêu cực trong sự TÁC Ý của họ liên quan đến thuốc men hay phương pháp trị liệu!

Cho đến nay, nền y khoa dần xa tư tưởng nền của René Descartes (1596–1650), coi THÂN TÂM là hai thực thể riêng biệt. Nếu không có bằng chứng về nguyên nhân vật lý, cơn đau sẽ bị coi là tâm lý và do đó là “giả”. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ và nhà trị liệu hiện nay vẫn tuân thủ theo cách phân loại nhị nguyên này nghĩa là: Những triệu chứng hoặc là liên quan đến thân vật lý hoặc do tâm lý.

Khoa TÂM-THỂ học (psycho-somatology) đã được quan tâm đến ở những bệnh tự miễn (autoimmune diseases) hoặc những bệnh chứng khác có triệu chứng ở thân, nhưng không tìm được nguyên nhân gây bệnh ở đó. Nhưng cho đến nay, ít ai xem trọng để nghiên cứu tìm rõ căn nguyên vì sao bệnh thân nhưng không có nguyên nhân ở thân!

Đến thời Bồ Tát CORONA „thị hiện“ đầu năm 2020 khắp nơi trên thế giới để nhắc nhở nhân loại PHẢI biết thay đổi tư duy và cách sống từ bi đồng cảm nhiều hơn nữa chứ không chỉ mãi lo giải quyết những vấn đề vật chất, thụ hưởng, ích kỷ… phủ lấp „tình người“, thì khái niệm „tâm-thể“ bùng phát trong làng Y học!

Cho dù có hay không tiêm vakzin Corona dạng „mRNA“ – biến đổi GEN con người thích nghi GAI (spike) protein của Coronavirus – cũng đều bị nhiễm! Bởi Vakzin-Corona không thể thích nghi thay đổi chạy theo mãi cái gọi là “đột biến“ liên tục của Covid; ngoài ra Vakzin-Corona không mang tính „thuần nhất“ cho toàn thế giới đối với vô số biến chủng Covid – ở mỗi quốc gia một biến chủng có tên gọi khác (!).

Vì thế cho nên, những bệnh lý gọi là HẬU-Covid không riêng ở những người không tiêm bị nhiễm, mà chính do vakzin-Corona „mRNA“ gây ra không những là triệu chứng ở thân không có nguyên nhân ở đó gọi là bệnh tâm-thể mà vakzin-Corona còn gây thêm nguy cơ lớn là ung thư dị loại sau này!

Cái tên HẬU-Covid gắn liền những bệnh tâm-thể. Nên kể từ sự „thị hiện“ của Bố Tát CORONA thì phong trào điều trị những bệnh tâm-thể của HẬU-Covid nở rộ. Phòng khám bệnh, bệnh viện công và tư quảng cáo rầm rộ liệu pháp điều trị bệnh tâm-thể. Trên thật tế và cho đến nay, nền y khoa phương Tây vẫn chưa có một phương pháp cụ thể thực tiễn đễ chữa lành những bệnh tâm-thể của HẬU-Covid!

Thật đơn gỉan dễ hiểu, bởi các chuyên gia áo trắng vẫn còn „kẹt“ ở sự phân biệt bệnh thân và tâm là hai thực thể khác nhau theo tư tưởng của René Descartes. Cho nên, những liệu pháp trị liệu bệnh tâm-thể vẫn tách riêng theo hai vế: vật lý và tâm lý trị liệu áp dụng những phương pháp đang hiện hành. Chứ họ vẫn chưa biết rằng: bệnh Tâm-Thể có triệu chứng ở thân nhưng nguyên nhân của nó cũng không phải do tâm lý gây ra mà từ TÁC Ý dẫn đến. Vì lẽ cái gọi là „tâm lý“ CHỈ là cái BÓNG của TÁC Ý!

Điều này đã được chúng tôi quán chiếu qua lăng kính Nhân (duyên) Sinh để thấy rõ rằng:
1. NHÂN là tác ý;
2. DUYÊN là nhiều yếu tố như tâm lý, hoàn cảnh, môi trường, xã hội, nghề nghiệp v.v…
3. SINH là bệnh lý, triệu chứng

Vì thế cho nên, Y phương minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ đã được chúng tôi tích hợp phát minh và cho ra đời để cống hiến nhân loại; đã được đăng ký bản quyền y lý, y học và y thuật cũng như thương hiệu cùng logo và được Cục „Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức“ (Deutsches Patent- und Marken-Amt) cứu xét và công nhận ngày 11.06.2012.

Kính thưa các Bạn,
chúng tôi rất TỰ HÀO HÃNH DIỆN nói rằng: Phương pháp „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ là:
1. một liệu pháp TÂM-THỂ có thể nói là được phát minh đầu tiên trong ngành y học trên thế giới;
2. do một Phật tử người Đức GỐC Việt phát minh;
3. phát minh được công nhận bởi cơ quan Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức;
4. đang được giảng dạy tại Viện Y Khoa PARACELSUS Đức quốc – tương đương Đại học Y học Dân tộc Việt Nam;
5. đang được áp dụng chẫn trị chữa lành các triệu chứng HẬU-Covid cho nhiều người Đức cũng như ngoại kiều sinh sống tại Đức – kể cả bản thân chúng tôi cũng được chữa lành sau khi bị nhiễm nặng Coronavirus đầu năm 2022 với biến chủng Omicron cùng những triệu chứng HẬU-Covid của nó!
6. phát minh Liệu pháp Miễn Dịch Tự Nhiên (natural immune therapy) „5B-PERG“ cúng dường nhân loại Phòng chống và Chữa lành những triệu chứng tật bệnh khổ tâm đau thân bởi nhiễm trùng, nhiễm khuẩn, nhiễm virus kể cả do Ý nghiệp gây ra trong thiên niên kỷ CƠN SỐT NHÂN QUẢ không có thuốc men, dược thảo… mọi thiết bị y tế không thể vận hành được vì không còn năng lượng cung cấp, cũng như thiếu nước sạch để khử trùng y cụ v.v… không những có thể duy trì, ổn định sức khỏe thân vật chất mà còn có thể chuyển hóa được nghiệp thức để không bị ảnh hưởng bởi cơn sốt nhân quả ĐANG „nhắc nhở“ nhân loại!

Cho dù đó là Placebo ý nghĩ tích cực có thể được chữa lành hay Nocebo ý nghĩ tiêu cực triệu chứng khó lành thì điều này đối với Y lý và Y học TÂM-THỂ P.E.R.G.® không là chuyện quan trọng để quan tâm.

Đối với hiệu ứng Placebo thì không có vấn đề. Chỉ ở hiệu ứng Nocebo thì cần phải BIẾT cách chẩn để phát hiện TÁC Ý dẫn đến hiệu ứng tiêu cực này!

Kính thưa các Bạn,
điều này thật vô cùng đơn giản dễ hiểu, bởi Phật dạy rằng:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA

cho nên
Ta và chúng sanh ĐANG là
Cái TÁC Ý của ta và họ ĐÃ là;
Ta và chúng sanh SẼ là
Cái TÁC Ý của ta và họ ĐANG là…m!

cũng như thế:
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN ĐANG là
từ TÁC Ý chủ nhân của nó ĐÃ là;
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN SẼ là…nh
cũng do TÁC Ý chủ nhân của nó ĐANG là…m!

Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát

Chúng con thương kính chúc mười phương chúng sanh Thân Tâm Thường Lạc, luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối! Và nguyện cho những hương linh đã qua đời từ vô lượng kiếp trong quá khứ nhẫn đến hiện tại và tương lai được vãng sanh về cảnh giới AN LÀNH thuận theo nghiệp lực hay hạnh nguyện của mình!

Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya

Tâm chú DƯỢC SƯ:
“Om Bhaisajye Bhaisajye Mahabhasajye bhaisayaraje sammudgate svaha”
“Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Tóa Ha”

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ BẢY ngày 31.05.2025
Nhân ngày Tết ĐOAN NGỌ 5/5 năm Ất Tỵ

Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover.
https://hannover-wendepunkt.de/team/

Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng  phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:

1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo



Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc