TRẦM CẢM . DÂY THẦN KINH PHẾ VỊ và TÂM-THỂ P.E.R.G.®

Những người kinh doanh sức khỏe, đồng thời cũng có một số chuyên gia khẳng định rằng nhờ kích thích điện vào dây thần kinh phế vị (vagus nervus) có thể chữa được nhiều loại bệnh, từ trầm cảm đến béo phì bệnh hoạn. Sự thật như thế nào?

1. Thần kinh phế vị đang “thịnh hành”.
Những người kinh doanh sức khỏe hứa hẹn trên mạng xã hội rằng: Với sự điều trị đúng dây thần kinh sọ dài này một cách đúng đắn thì hầu hết tất cả đều có thể chữa lành: từ đau đầu và các vấn đề về trí nhớ cho đến trầm cảm và béo phì. Người ta cho rằng massage chân, tắm nước đá và nghe nhạc thư giãn có thể giúp phát triển “năng lượng chữa lành” (healing power). Những ý tưởng này đa phần thực chất là phóng đại quá mức. Sự cường điệu này dựa trên thực tế bởi: Dây thần kinh phế vị kết nối não với hầu hết các cơ quan trong cơ thể. Nhờ đó, hệ thần kinh trung ương có thể phát hiện các triệu chứng như nhịp tim nhanh, huyết áp cao, đau dạ dày, hệ thống miễn dịch hoạt động quá mức và thậm chí là tiếng kêu báo động của vi khuẩn trong ruột và chống lại các vấn đề như vậy.

Các chuyên gia từ lâu đã biết rằng kích thích điện vào dây thần kinh phế vị có thể giúp điều trị một số bệnh. Ngày nay, nó được dùng để điều trị một số thể loại bệnh động kinh, trầm cảm và thúc đẩy phục hồi sau đột quỵ. Để thực hiện mục đích này, một thiết bị kích thích dây thần kinh phế vị sẽ được phẫu thuật cấy ghép dưới xương đòn và kết nối với dây thần kinh thông qua một sợi cáp. Phương pháp mới hơn sử dụng các thiết bị kích thích dây thần kinh qua da và do đó không còn cần áp dụng phẫu thuật nữa. Danh sách các bệnh có khả năng được điều trị bằng phương pháp này dường như vô tận – từ viêm khớp dạng thấp đến chứng đau nửa đầu, bệnh tự miễn lupus đến hội chứng mệt mỏi mãn tính. Và theo đó, nhiều nghiên cứu đang được tiến hành về chủ đề này.

II. Một tiền sử lâu dài
Năm 1664, nhà giải phẫu thần kinh người Anh Thomas Willis đã đặt tên cho dây thần kinh sọ dài nhất là “phế vị” (vagus), tiếng Latin có nghĩa là “đi lòng vòng” (wandering around), vì sự trãi dài của nó lớn. Nói một cách chính xác, không chỉ có một dây thần kinh phế vị, mà là hai dây: mỗi bên cơ thể có một dây, mỗi dây có tới 100.000 sợi thần kinh. Mỗi loại đều hỗ trợ một chức năng cụ thể, chẳng hạn như hô hấp, nhịp tim, hệ thống miễn dịch, co bóp ruột để tiêu hóa thức ăn và thậm chí cả khả năng nói. Khoảng 80 phần trăm các sợi này là sợi hướng tâm (afferent) nghĩa là chúng tải tín hiệu báo cáo với hệ thần kinh trung ương về tình trạng của các bộ phận khác trong cơ thể; phần còn lại là dẫn truyền xuất tâm (efferent), nghĩa là chúng tải chỉ thị hướng dẫn từ não đến các phần còn lại của cơ thể.

Hình: Giải phẫu dây thần kinh phế vị | Dây thần kinh phế vị bao gồm hai đường dẫn thần kinh chạy dọc theo bên trái và bên phải của cơ thể và kết nối não với các cơ quan quan trọng như tim, phổi và hệ tiêu hóa. Các sợi thần kinh hướng tâm tải tín hiệu từ cơ thể đến não để báo cáo về tình trạng của cơ thể. Các sợi trục thần kinh xuất tâm gửi tín hiệu từ não đến cơ thể ảnh hưởng đến nhịp tim, nhịp thở và tiêu hóa. Thông qua sự kết nối với lá lách, dây thần kinh phế vị thậm chí có thể làm giảm viêm.

Nỗ lực đầu tiên nhằm kích thích điện dây thần kinh phế vị vì lý do y tế được thực hiện bởi nhà thần kinh học người Mỹ James Leonard Corning vào những năm 1880. Để giảm lượng máu cung cấp cho não để điều trị bệnh động kinh, ông đã dí một loại nĩa nướng điện vào cổ bệnh nhân. Tuy nhiên không thành công. Phải đến một thế kỷ sau, nhà khoa học thần kinh Jacob Zabara của Đại học Temple ở Philadelphia mới thành công trong việc sử dụng phương pháp này để ngăn chặn hoạt động não bị rối loạn của những chú chó mắc bệnh động kinh. Bước đột phá này đến từ việc kích thích điện trực tiếp vào dây thần kinh phế vị bằng máy phát xung cấy ghép, giúp giảm đáng kể các cơn động kinh. Năm 1988, thiết bị đầu tiên như vậy để điều trị bệnh động kinh đã được cấy ghép vào người.

Các thiết bị trị bệnh động kinh ngày nay là hậu duệ trực tiếp từ phát minh của Zabara và truyền điện sau mỗi vài phút. Theo các nghiên cứu, chúng có thể làm giảm tần suất co giật trung bình 45 phần trăm sau một năm sử dụng. Hiệu ứng này chủ yếu là do sự kích thích các sợi hướng tâm, tức là các sợi dẫn đến não.

Nhưng phương pháp điều trị này có một tác dụng phụ đáng chú ý: nó khiến mọi người hạnh phúc hơn. Khi bác sĩ nói với bệnh nhân rằng họ sẽ tháo bỏ miếng ghép, nhiều người đã từ chối, đơn giản vì sự kích thích khiến họ có cảm giác dễ chịu. Các nhà sản xuất đã chú ý và bắt đầu tiếp thị thiết bị của họ như một liệu pháp cải tiến cho bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, khám phá tình cờ này đã làm khoa học bối rối và tạo nên một làn sóng nghiên cứu chuyên sâu vẫn đang tiếp diễn.

Ngày nay, chúng ta biết rằng dây thần kinh phế vị truyền thông tin về nhịp tim, quá trình tiêu hóa và tình trạng chung của cơ thể đến những vùng não cũng đóng một vai trò trong bệnh tâm lý. Các tín hiệu đầu tiên sẽ đến nhân Nucleus tractus solitarius thân não (brainstem) nơi phân loại và chuyển tiếp kể cả đến hạch hạnh nhân (Amygdala) giúp chúng ta xử lý cảm xúc, đặc biệt là nỗi sợ hãi (fear) và căng thẳng (stress). Một mục tiêu khác là vùng dưới đồi (Hypothalamus) có liên quan đến việc tiết ra những hormone gây căng thẳng như cortisol. Các xung động này cũng đến vùng não thất tegmentalis ventralis, đóng vai trò trung tâm liên quan đến trải nghiệm vui sướng (joy), động lực (motivation) và phần thưởng (reward) của chúng ta.

Các tín hiệu xuất từ não sẽ giúp cơ thể điều chỉnh các hoạt độngduy trì sự cân bằng bên trong. Ví dụ, khi chúng ta gặp phải mối đe dọa, nhịp tim và huyết áp của chúng ta tăng lên, trong khi hoạt động ở đường tiêu hóa giảm xuống. Dây thần kinh phế vị phát hiện những thay đổi này và báo cáo lên não để vận hành chức năng duy trỉ sự cân bằng bên trong can thiệp khi tín hiệu căng thẳng trở nên quá mạnh: Nó điều hành dây thần kinh phế vị tiết ra chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine trong các cơ quan nội tạng, giúp giảm mạch và huyết áp, đồng thời hỗ trợ sự tiêu hóa.

III. Thần kinh phế vị có thể ức chế tình trạng viêm
Một khám phá tình cờ thứ hai vào cuối những năm 1990 cho thấy dây thần kinh phế vị có thể làm được nhiều việc hơn là chỉ giúp cơ thể an ổn. Một nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Kevin J. Tracey thuộc Viện nghiên cứu y khoa Feinstein ở New York thực sự muốn thử nghiệm một loại thuốc có tác dụng giảm viêm não. Để làm được điều này, trước tiên các nhà nghiên cứu phải tiêm cho chuột một loại thuốc độc gây viêm. Nhưng do nhầm lẫn, chất này đã được tiêm vào dạ dày của chuột thay vì vào não, gây ra tình trạng viêm lan rộng khắp cơ thể.

Điều khiến Tracey vô cùng ngạc nhiên là loại thuốc sau đó được tiêm vào não theo đúng kế hoạch đã có thể làm chậm quá trình viêm trong cơ thể – mặc dù hàng rào máu não (blood-brain barrier) ngăn không cho những chất này thoát ra khỏi não. “Chúng tôi đã thảo luận về vấn đề này trong nhiều tháng,” Tracey nhớ lại. Cuối cùng người ta phát hiện ra rằng dây thần kinh phế vị đã chuyển đi những tín hiệu do thuốc kích hoạt trong não đến cơ thể.

Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là chỉ cần kích thích điện vào dây thần kinh phế vị cũng đủ để ức chế tình trạng viêm mà không cần dùng thuốc. Tracey chia sẻ rằng khám phá này đã thay đổi cuộc đời ông. Tác động rất lớn: Hơn một nửa số ca tử vong liên quan đến bệnh tật đều có liên quan đến tình trạng viêm, bao gồm bệnh tim, đột quỵ, hen suyễn, tiểu đường và các bệnh tự miễn và thoái hóa thần kinh. Nếu việc kích thích dây thần kinh phế vị có thể giúp ích trong trường hợp này mà không cần dùng thuốc và không có tác dụng phụ thì đây sẽ là một bước đột phá đáng kể.

Để kiểm tra tiềm năng của phương pháp này, Tracey nhắm vào chứng trầm cảm. Những người bị trầm cảm có những triệu chứng khác nhau, nhưng họ cũng có một số điểm chung: buồn bã, mất động lực, xa lánh xã hội, chẳng hạn. Và gần một phần ba trong số họ bị viêm. Các chất truyền tin được gọi là cytokine đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và thúc đẩy tình trạng viêm. “Cytokine gây ra chứng trầm cảm”, Tracey nói. “Nếu tôi tiêm cho bạn những phân tử gây viêm này, bạn sẽ cảm thấy kiệt sức và mất hứng thú với những thứ thường mang lại niềm vui cho bạn.” Do đó, bác sĩ thường kê đơn thuốc chống trầm cảm dự phòng trong lúc áp dụng liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư có liên quan đến cytokine.

Thời gian sau đó, nhiều nghiên cứu đã tìm cách sử dụng mối liên hệ giữa bệnh trầm cảm, viêm và dây thần kinh phế vị để tìm ra phương pháp điều trị. Sau những kết quả ban đầu không mấy khả quan, các nghiên cứu gần đây hơn sau nhiều năm sử dụng đã cho thấy kết quả có phần khả quan hơn. Trong một nghiên cứu được công bố năm 2017, việc kích thích dây thần kinh phế vị trong khoảng thời gian năm năm đã chữa lành hoàn toàn gần một nửa trong số khoảng 800 đối tượng thử nghiệmgiảm ít nhất một nửa các triệu chứnghai phần ba số người tham gia.

Vào năm 2019, một nghiên cứu mới, quy mô hơn đã bắt đầu với tổng cộng 1.000 bệnh nhân trầm cảm nặng mà nhiều phương pháp điều trị khác đã thất bại và thậm chí đã tìm cách tự tử – những người này thường bị loại khỏi các thử nghiệm lâm sàng. “Nghiên cứu này nhắm đến những người bệnh nặng nhất”, trưởng nhóm nghiên cứu Charles Conway của Đại học Washington cho biết. Các đối tượng được tuyển dụng trong nhiều năm, mỗi người năm năm.

Cô Gina Bolton là một trong những người tham gia. Cứ mỗi năm phút rưỡi, cô lại cảm thấy có cảm giác ngứa ran nhẹ ở cổ họng. Trong vài giây, giọng nói của cô ấy nghe có vẻ cao hơn một chút và do đó có vẻ hơi ngột ngạt và phấn khích. Nhưng điều đó chỉ có nghĩa là thiết bị kích thích (stimulator) đang hoạt động, có kích thước bằng đồng xu 50 xu và được cấy gần xương đòn của cô. Thiết bị này thường xuyên gửi các xung điện nhỏ – khoảng hai Milliampere – qua một sợi dây quấn quanh dây thần kinh phế vị gần dây thanh quản của cô.

Cô Bolton đã sử dụng máy kích thích từ mùa hè năm 2021. Trong 30 năm, bà đã thử mọi phương pháp điều trị có sẵn—liệu pháp tâm lý trị liệu (psychotherapy), nhiều loại thuốc khác nhau, kích thích từ xuyên sọ (transcranial magnetic stimulation) – một thủ thuật kích thích tế bào thần kinh bằng từ trường – và thậm chí cả liệu pháp sốc điện (Electroconvulsive therapy) – các điện cực ở thái dương sẽ kích thích não quá mức trong thời gian ngắn khi gây mê. Không có cách tiếp cận nào có thể thành công lâu dài. Và trong suốt thời gian đó, chứng trầm cảm khiến cô gần như không thể sống một cuộc sống bình thường. Khi con trai và con gái bà còn nhỏ, bà thường đưa chúng đến trường, cố ép chúng mỉm cười rồi đi ngủ. Cô ấy đã tìm cách tự tử nhiều lần.

IV. Hiệu ứng giả dược đóng vai trò quan trọng
Vài tháng sau khi Bolton được kích thích dây thần kinh phế vị, cô đột nhiên nhận thấy sự thay đổi: “Tôi cảm thấy có cảm xúc”. Cô ấy có thể cười hoặc khóc lần nữa. “Trước đây, tôi chỉ cảm thấy tê liệt.” Vào mùa hè năm 2023, hai năm sau khi bắt đầu liệu pháp, Bolton đã ngừng uống thuốc chống trầm cảm mà bà đã dùng trong suốt cuộc đời. Thiết bị này đã thay thế thuốc.

Tuy nhiên, phân tích dữ liệu sơ bộ trong tháng 6 năm 2024 về sự theo dõi khoảng 500 bệnh nhân trong một năm, cho thấy kết quả khá trái chiều. Mặc dù nhiều bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn đáng kể, nhưng tình trạng tương tự cũng xảy ra với những bệnh nhân không bật thiết bị. Rõ ràng hiệu ứng giả dược đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi.

Bà Sarah Lisanby, giám đốc bộ phận nghiên cứu chuyển dịch của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, cho biết kết quả này thật đáng thất vọng nhưng không hoàn toàn nằm ngoài dự đoán. Phản ứng giả dược là rào cản đối với mọi nghiên cứu về thiết bị tâm thần. Bởi vì các thủ tục phức tạp gia cố kỳ vọng về một hiệu quả tích cực. Điều này, ngược lại có thể kích hoạt các cơ chế thần kinh có tác dụng chống viêm. Tuy nhiên, hiệu ứng giả dược mạnh không có nghĩa là căn bệnh không thể được chữa khỏi, mà là phương pháp điều trị đang được thử nghiệm đã ít góp phần đến căn bệnh đó.

Trong khi đó, nghiên cứu vẫn tiếp tục. Conway và những người khác hy vọng dữ liệu sẽ cho thấy bệnh nhân nào được hưởng lợi nhiều nhất. Ví dụ, những người có mức độ viêm cao có thể phù hợp hơn với liệu pháp dây thần kinh phế vị. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại không thu thập dữ liệu như vậy. Ít nhất thì bây giờ chúng ta đã biết cơ chế mà tình trạng viêm có thể gây ra bệnh trầm cảm. Khi cytokine lưu thông trong máu, ví dụ như sau khi bị thương hoặc nhiễm vi-rút, hàng rào bảo vệ giữa mạch máu và não có thể yếu đi và thậm chí sụp đổ hoàn toàn. Điều này cho phép các chất không cần thiết xâm nhập vào não và do đó kích hoạt các tế bào miễn dịch của mô não: tế bào vi giao (Mikroglia). Sau đó, chúng tiết ra thêm các chất gây viêm.

Và điều này, ngược lại có thể làm rối loạn các quá trình khác trong não: ví dụ, quá trình sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin dopamine, giúp gây ra động lực và cảm giác khỏe mạnh. Ngoài ra, yếu tố tăng trưởng BDNF cho phép tế bào thần kinh hình thành các kết nối mới, không còn được sản xuất đủ số lượng nữa. Nếu mức BDNF trong não giảm đáng kể, các kết nối thần kinh quan trọng sẽ yếu đi. Ví dụ, vỏ não trước trán (Prefrontal cortex) không thể điều chỉnh hoạt động của hạch hạnh nhân (Amygdala) đủ để duy trì cảm xúc (emotion) của chúng ta khỏi những biến động cực độ và hồi hải mã (Hippocampus) nơi chịu trách nhiệm về trí nhớ khó phục hồi sau những trải nghiệm căng thẳng.

Phản ứng dây chuyền này có thể khiến dây thần kinh phế vị bị đứt. Khi não nhận được thông tin về tình trạng viêm nguy hiểm trong cơ thể, thông thường não sẽ khiến lá lách tiết ra chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine. Cả hai con đường truyền tín hiệu đều chạy qua dây thần kinh phế vị. Trong số những chức năng khác, acetylcholine đảm bảo rằng một số tế bào bạch cầu nhất định trong lá lách – còn gọi là đại thực bào (makrophagen) – tiết ra ít cytokine hơn. Ngoài ra, nó có thể lập trình lại các tế bào miễn dịch này để chúng không còn phá hủy các mô bị tổn thương như thường lệ nữa mà thay vào đó tìm kiếm các nguồn gây viêm và hỗ trợ tái tạo mô tại đó. Tracey cho biết ngay cả trong não, chúng cũng có thể phục hồi tổn thương do viêm và kích thích sự hình thành các tế bào thần kinh và mạch mới.

Ngược lại, nếu dây thần kinh phế vị không còn hoạt động bình thường được nữa thì các quá trình này sẽ bị gián đoạn và các bệnh viêm nhiễm có thể phát triển – bao gồm cả bệnh trầm cảm, như Tracey nghi ngờ. Tuy nhiên, cho đến nay giả thuyết này chỉ có tác dụng điều trị hạn chế. Một phân tích tổng hợp gần đây do Sharmili Edwin Thanarajah của Bệnh viện Đại học Frankfurt am Main, Đức quốc điều hành đã chỉ ra rằng kích thích dây thần kinh phế vị không phải lúc nào cũng có thể loại bỏ được tình trạng viêm. Và ở một phần ba số người bị trầm cảm có quá nhiều cytokine trong máu, đôi khi nó làm giảm chứng trầm cảm nhưng không làm giảm tình trạng viêm.

Một lý do cho câu chuyện thành công lẫn lộn này có thể là sự mơ hồ trong chẩn đoán bệnh trầm cảm.Những người bị trầm cảm có thể có những triệu chứng tương tự, nhưng không phải tất cả họ đều mắc cùng một căn bệnh”, Tracey cho biết. Sự đa dạng này có thể có nghĩa là các tín hiệu thần kinh phế vị khác nhau có tác động khác nhau ở từng cá nhân. Một số người có thể được hưởng lợi từ các xung động từ não giúp giảm viêm và làm dịu cơ thể, trong khi những người khác có thể được hưởng lợi nhiều hơn từ các tín hiệu được gửi đến não.

Các nghiên cứu với hình ảnh chụp cắt lớp cung cấp một số bằng chứng cho điều này. Mặc dù kết quả khác nhau tùy thuộc vào loại kích thích dây thần kinh phế vị, nhưng nhìn chung nó có vẻ giúp tăng cường kết nối giữa vỏ não trước trán và hạch hạnh nhân, từ đó có thể giúp kiểm soát cảm xúc tốt hơn. Nó cũng làm tăng hoạt động ở thùy trước não trái (left anterior insula) nơi xử lý cảm xúc.

Ngoài ra, một nhóm nghiên cứu do Jian Kong thuộc Bệnh viện Đa khoa Massachusetts và Trường Y Harvard điều hành đã phát hiện ra rằng kích hoạt dây thần kinh phế vị để điều trị chứng trầm cảm sẽ tăng cường kết nối giữa hai vùng não: vùng dưới đồi giữa (medial hypothalamus), nơi điều chỉnh phản ứng căng thẳngvỏ não vành trước (rostral anterior cingulate cortex), nơi liên quan đến suy nghĩ đến bản thân. Điều này có thể cải thiện sự tích hợp của các quá trình cảm xúc và nhận thức.

Những hiệu ứng tích cực của kích hoạt bằng điện cũng có thể là nguyên nhân làm gia tăng noradrenalineserotonin trong não. Ở loài gặm nhấm, hai chất dẫn truyền thần kinh này có liên quan đến việc tăng cường năng lượngsự tỉnh táo. Ngoài ra, kích thích dây thần kinh phế vị ở động vật còn làm tăng sự tiế tra yếu tố tăng trưởng BDNF, giúp phục hồi các kết nối thần kinh bị mất do căng thẳng và trầm cảm. Ngoài ra, phương pháp điều trị này dường như còn loại bỏ tình trạng thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh khác thường mất cân bằng trong bệnh trầm cảm, chẳng hạn như axit gamma-aminobutyric (GABA) và glutamate.

Tuy nhiên, Conway cho rằng tác dụng của liệu pháp kích hoạt chủ yếu là do sự thay đổi trong hệ thống dopamine. Dopamine có vai trò quan trọng trong các quá trình của não liên quan đến động lực (motivation) và khoái cảm (enjoyment); Những người bị trầm cảm thiếu phân tử dẫn truyền thần kinh. Hơn mười năm trước, Conway và nhóm của ông đã chứng minh bằng các kỹ thuật hình ảnh: Những bệnh nhân trầm cảm nặng có sự cải thiện sau một năm kích hoạt dây thần kinh phế vị cũng cho thấy hoạt động tăng lên ở vùng cơ bụng (tegmentalis ventralis) nơi sản xuất dopamine.

V. Kích hoạt động lực
Theo nghiên cứu gần đây của nhà khoa học thần kinh Nils Kroemer từ Đại học Bonn và Đại học Tübingen ở Đức, kích thích dây thần kinh phế vị bằng điện cũng ảnh hưởng đến động lực là hành vi (behave). Trong nghiên cứu được công bố năm 2024, Kroemer đã yêu cầu những bệnh nhân bị trầm cảm chơi một loại trò chơi điện tử mà họ có thể thắng được tiền hoặc thức ăn. Sự sẵn sàng hoàn thành ở cấp độ khó hơn tăng lên đáng kể để nhận phần thưởng khi dây thần kinh phế vị của bệnh nhân được kích hoạt.

Ông Kroemer tin rằng ít nhất ở một số người bị trầm cảm, tình trạng thiếu động lực đặc trưng có thể là do dây thần kinh phế vị gửi quá ít tín hiệu cảm giác đến não. Những thông tin như vậy từ bên trong cơ thể thúc đẩy chúng ta, ví dụ như dưới dạng cơn đói. Kroemer cho biết: “Khi dạ dày trống rỗng, dường như có một tín hiệu thúc đẩy mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta khám phá những con đường mới”. Nhưng điều này chỉ xảy ra nếu các tín hiệu được truyền đi, đòi hỏi dây thần kinh phế vị phải khỏe mạnh.

Hệ vi sinh vật (Mikrobiom system) cũng có thể đóng vai trò ở đây. Ví dụ, vi khuẩn trong đường tiêu hóa gửi thông tin qua dây thần kinh phế vị đến Nucleus tractus solitarius và não, từ đó ảnh hưởng đến việc tiế tra chất dẫn truyền thần kinh. Ngược lại, não có thể làm giảm tình trạng viêm ở ruột và cải thiện tiêu hóa thông qua dây thần kinh phế vị, làm thay đổi thành phần vi khuẩn sống ở đó. Có bằng chứng cho thấy vi khuẩn có lợi làm giảm chứng trầm cảm, lo âu, hoảng loạncăng thẳng, trong khi một số vi khuẩn khác lại làm tình trạng này trở nên tồi tệ hơn. Các biện pháp can thiệp trong tương lai có thể kết hợp kích hoạt dây thần kinh phế vị với việc tối ưu hóa hệ vi sinh vật đường ruột, ví dụ như chế độ ăn nhiều chất xơ.

VI. Kích hoạt (stimulation) không cần phẫu thuật
Trong các thí nghiệm của mình, ông Kroemer đã sử dụng một phương pháp thay thế không xâm lấn (non-invasive alternative) cho phương pháp cấy ghép (implantation): Là phương pháp kích hoạt dây thần kinh phế vị qua da (transcutaneous vagus nerve stimulation), thiết bị được gắn vào bên ngoài cổ hoặc tai và từ đó gửi các xung điện đến dây thần kinh. Vì phương pháp này đơn giản và rẻ hơn nên các nhà nghiên cứu và bác sĩ ngày càng sử dụng nó nhiều hơn. Những thiết bị như vậy hiện đang được sử dụng để điều trị nhiều bệnh, trong đó có bệnh béo phì nghiêm trọng (severe obesity), đau nhức (pain) và chứng đau nửa đầu (migraine).

Theo Conway, thiết bị cấy ghép có lẽ hiệu quả hơn vì nó được kết nối trực tiếp với dây thần kinh và có thể kích hoạt dây thần kinh suốt ngày đêm. Do đó, sự kích hoạt mạnh hơn và theo các nghiên cứu hình ảnh, có thể kích hoạt nhiều vùng não hơn so với phương pháp áp dụng bên ngoài.

Một ứng dụng kéo dài tám tuần cũng có tác dụng như thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng có hiệu quả nhất định của việc kích hoạt xuyên da (transcutaneous stimulation). Một trong số đó, do Jian Kong điều hành, đã phát hiện ra rằng sử dụng trong tai suốt tám tuần cũng có hiệu quả như thuốc chống trầm cảm citalopram đối với chứng trầm cảm nặng. Trong một nghiên cứu thí điểm năm 2021, Omer Inan thuộc Viện Công nghệ Georgia và Douglas Bremner thuộc Đại học Emory đã yêu cầu những bệnh nhân mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Post-traumatic stress disorder) kích hoạt dây thần kinh phế vị ở cổ hai lần một ngày trong ba tháng. So với nhóm đối chứng, các triệu chứng căng thẳng và phản ứng viêm do ký ức đau thương gây ra thấp hơn đáng kể vào cuối quá trình điều trị.

Nhờ những thành công như vậy, phương pháp kích hoạt dây thần kinh phế vị qua da ngày càng được kết hợp với các phương pháp thông thường như thuốc chống trầm cảm (antidepressiva) hoặc liệu pháp hành vi (Behavioral therapy). Các thiết bị này cũng giúp bệnh nhân có thể tự điều trị nhiều tình trạng khác nhau như lo sợ (anxiety) hoặc căng thẳng (stress). Tuy nhiên, không có hướng dẫn thống nhất nào về thời gian và cường độ sử dụng tối ưu. Tệ hơn nữa, độ không chính xác của các thiết bị có thể khiến chúng vô tình kích hoạt sai đường dẫn thần kinh. Trong một số trường hợp, việc sử dụng chúng không mang lại hiệu quả làm dịu như mong muốn mà ngược lại còn làm tăng sự tỉnh táo và phấn khích – hoặc thậm chí là mất bình tĩnh (nervousness) và lo sợ càng tăng thêm nếu kích hoạt mạnh quá!

VII. Tương lai của việc kích hoạt dây thần kinh phế vị (vagus nerve stimulation)
Để hiểu rõ hơn phần nào về dây thần kinh phế vị được hưởng lợi nhiều nhất từ ​​sự kích hoạt, một chương trình nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia (NIH) ở Hoa Kỳ đã biên soạn một nền tảng dữ liệu toàn diện với các bản đồ và mô hình chi tiết của dây thần kinh sọ. Với sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo và các công nghệ khác, mục tiêu là xác định từng sợi thần kinhmạch thần kinh đóng vai trò quan trọng liên quan đến một số bệnh nhất địnhcó thể được kích thích cụ thể. Những bệnh nhân mắc bệnh Crohn, bệnh Parkinson, chấn thương não và các tình trạng đau nhức được kỳ vọng sẽ được hưởng lợi từ sản phẩm này.

Để đạt được mục đích này, các chuyên gia đang phát triển các thiết bị có thể kích hoạt các sợi thần kinh khác nhau một cách độc lập với nhau để nhắm mục tiêu cụ thể vào các cơ quan nhất định và tránh những tác động tiêu cực. Trong điều kiện lý tưởng, các thông số kích hoạt có thể được điều chỉnh dựa trên phản hồi thời gian thực từ cơ thể, chẳng hạn như cơn thèm ăn, nhịp tim hoặc tình trạng viêm. Khi đã xác định được mạch điện cụ thể, có thể kích thích mạch điện đó bằng sóng siêu âm hoặc các cấy ghép nhỏ ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể, thậm chí có thể là ở thân não (brainstem)

Bất kể phương pháp kỹ thuật nào được sử dụng, bà Gina Bolton không còn muốn sống mà không có sự kích thích điện. Cô vẫn còn nhớ khoảnh khắc chính xác khi cô nhận ra phương pháp điều trị này có hiệu quả với mình. Vài tháng sau khi nghiên cứu bắt đầu, cô đang trên đường tới phòng khám để tái khám. Bolton cảm nhận được nhịp đập của thiết bị, nhưng cũng cảm nhận được một thứ khác nữa: nhịp điệu của bài hát trên radio trên ô tô. Cô thấy mình đang gõ ngón tay lên vô lăng. “Tôi đã không muốn sống lâu đến vậy“, bà nói, “và bây giờ tôi đột nhiên lại muốn sống thêm lần nữa“. Âm nhạc vẫn tiếp tục, và lần đầu tiên sau nhiều năm, cô bắt đầu hát theo.

Nguồn: Scientific American. Tác giả: Cô Jena Pincott một nhà báo khoa học và viết sách. Chuyễn ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Đức: Tom Kern, đăng trên tạp chí Spektrum ngày 20.04.2025.
. . . . .

CẢM NHẬN

Kính thưa các Bạn,
trước khi đăng ký bản quyền, thương hiệu cùng logo tại Cục Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức (Deutsches Patent- und Markenamt) chúng tôi PHẢI có Y thuật giúp bệnh nhân áp dụng bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ nghĩa là „Kích hoạt Não bộ (brain stimulation, BS) Cài đặt Lập trình mPERG Thiết lập Thần kinh và hệ Thần kinh MỚI Chuyển hóa Tâm thức Chữa lành tật bệnh“ sau khi CHẨN theo Y lý với phương pháp „đặc biệt“ của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G® đã phát hiện tìm ra GỐC bệnh tức điều TÁC Ý dẫn đến cảm xúc tâm lý (emotion) gây bệnh khổ TÂM hay đau THÂN.

Những động tác của bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ dùng „kích hoạt não bộ“ (brain stimulation, BS) thường được nói đến là „GÕ“ bằng 10 đầu ngón tay ở thời điểm đó (2011) chỉ có bảy (07) vùng gồm: trên đầu, thùy trán, ổ mắt, hai gò mà, môi trên, cằm, trước hai tai!

Nếu nói đến „kích hoạt não bộ“ với 7 vùng trên thì chí có trên đầuthùy trán trực tiếp liên quan đến não hệ thần kinh tương ứng, 5 vùng còn lại liên quan đến 12 thần kinh trên mặt – trong số này cũng có dây thần kinh Phế Vị (vagus nerve) số 10 dài nhất kết nối với khuôn mặt nhưng không chạy trực tiếp trên mặt. Tuy nhiên, nó rất quan trọng đối với các chức năng ảnh hưởng đến khuôn mặt, chẳng hạn như biểu cảm khuôn mặt và vị giác.

Chúng tôi vẫn chưa hài lòng với những thao tác của Y thuật này! Bởi cảm thấy còn thiếu gì đó trên đầu cho các động tác „kích hoạt não bộ“ – thật sự là chưa hoàn hão!

Vào một đêm nọ, trong giấc ngủ chúng tôi mơ thấy có một „bạch nhân“ toàn thân trắng tinh, tóc trắng dài chấm lưng, quay lưng lại phía chúng tôi và cất giọng nói rằng:
„Thị Chơn ơi! Còn thiếu 2 vùng này nữa. „Bạch nhân“ này chúm những ngón tay và GÕ từ hai vùng thái dương ra phía sau hộp sọ rồi đi trở lại – liên tục làm vài lần rồi nói: „Đây một vùng kích hoạt! Còn một vị trí nữa như sau! „Vị“ này mở những ngón tay ra GÕ từ sau hai vành tay đến giữa gáy rồi trở lại – vùng dưới hộp sọ…!“

Chúng tôi dự định lên tiếng thưa hỏi, nhưng dường như „bạch nhân“ này BIẾT được ý nghĩ của chúng tôi nên nói: „Đừng hỏi! Sau này ứng dụng sẽ BIẾT hiệu ứng vô cùng linh nghiệm thần kỳ và tuyệt vời của 2 vùng này để chữa vô số tật bệnh!“ … liền sau đó „bạch nhân“ này từ từ xa khuất!

Giựt mình tỉnh giấc, chúng tôi vội vàng mở hộc tủ bàn giấy đầu giường lấy giấy viết ra ghi lại… sợ sáng mai thức giấc sẽ quên!

Kính thưa các Bạn,
sau đó, chúng đặt tên cho hai vùng này là „PERG-BS/Gõ 8“„PERG-BS/Gõ 9“. quả thật kích hoạt hai vùng số 8 và 9 này là hai vị trí sau này chúng tôi nghiên cứu thêm mới phát hiện ra lời phát biểu của „Bạch Nhân“ đó quả thật thần diệu liên khi kích hoạt hai vùng 8 và 9 này!

Sau khi tham khảo tài liệu y học liên quan đến 2 vùng này, chúng tôi bổ sung thêm cho phát minh và gửi đăng ký bản quyền, thương hiệu cùng logo của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ đến Cục Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức“ (Deutsches Patent- und Markenamt). Sau một thời gian cứu xét, cơ quan này đã công nhận bản quyền phát minh, thương hiệu cùng logo của một liệu pháp chẩn trị DUY NHẤT và ĐỘC NHẤT trên hành tinh này do một người Đức gốc Việt phát minh – ngày 11.06.2012! Phát minh này là một niềm TỰ HÀO, HÃNH DIỆN cho Dân Tộc và Tổ Quốc Việt Nam nói riêng và cho nhân loại nói chung!

Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT

Kính thưa các Bạn,
chúng ta cùng tìm hiểu chức năng và hiệu ứng khi kích hoạt (stimulation) hai vùng 8 và 9 này

Vùng 8 liên quan đến kích hoạt „thùy thái dương“ (temporal lobe) và „hộp sọ“. Còn vùng 9 liên quan đến „dây thần kinh Phế Vị“ (vagusnervus)

I. Kích hoạt vùng 8
1. Thùy thái dương (temporal lobe) là một trong bốn thùy chính của não và chịu trách nhiệm cho nhiều chức năng khác nhau bao gồm thính giác, lời nói, trí nhớ, nhận dạng hình ảnhxử lý cảm xúc.
2.
Ngoài ra, hải mã (Hippocampus) là một cấu trúc nằm ở thùy thái dương và chủ yếu chịu trách nhiệm về khả năng học tậptrí nhớ.
3. „Hộp sọ“
(Os occipitale) bảo vệ tiểu não (cerebellum) một phần quan trọng của não chịu trách nhiệm về sự phối hợp và cân bằng các chuyển động. thùy chẩm (Okzipitallappen) là trung tâm xử lý hình ảnh liên hệ đến mắt và thần kinh thị giác.
Vì thế cho nên, việc kích hoạt hộp sọ có mục đích gián tiếp kích hoạt tiểu nãothùy chẩm đồng thời được kích hoạt cùng lúc
4. Thân não –
là một phần quan trọng của não, chịu trách nhiệm cho các chức năng quan trọng như hô hấp, nhịp tim, ý thứcchu kỳ ngủ-thức. Nó kết nối não với tủy sống và do đó là điểm chuyển mạch trung tâm cho các xung động vận động và cảm giác. Chức năng chính của thân não:

4.1. Điều hành các chức năng quan trọng: điều chỉnh nhịp thở, nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ cơ thể và các chức năng tự chủ khác.
4.2. Vận động và phối hợp: Nó liên quan đến việc điều hành và phối hợp các chuyển động, đặc biệt liên quan đến tư thế và phản xạ.
4.3. Tích hợp cảm biến vận động: Truyền thông tin cảm giác từ cơ thể đến não và gửi các xung động vận động từ não đến cơ thể.
4.4. Điều hòa ý thức và nhịp điệu ngủ-thức
4.5. Phản xạ:
như nhắm mắt, nuốt và ho.

4.6. Dây thần kinh sọ: Hầu hết các dây thần kinh sọ – trừ dây thần kinh thứ nhất là dây thần kinh khứu giác (Nervus olfactorius) và thứ hai là dây thần kinh thị giác (Nervus opticus) – đều bắt nguồn từ thân não.

4.7. Điều hành cảm xúc và điều chỉnh tâm trạng

4.8. Trung tâm trao chuyển thông tin được truyền giữa các phần khác nhau của não và tủy sống.

II. Kích hoạt vùng 9 là kích hoạt dây thần kinh phế vị (vagus nervus); trong đó có thần kinh giao cảm (sympathykus) và thần kinh đối giao cảm (para sympathykus) liên quan đến việc điều hành và điều hòa tình trạng căng thằng (stress).

Ngoài ra, chức năng và khả năng chữa lành tật bệnh khi dây thần kinh phế vị được kích hoạt dưới bất cứ hình thức – nhất là các chứng viêm và trầm cảm v.v… đã được báo cáo khoa học dẫn nhập bên trên giải thích khá đầy đủ!

Cho nên, một nhóm nghiên cứu do Jian Kong thuộc Bệnh viện Đa khoa Massachusetts và Trường Y Harvard điều hành đã phát hiện ra rằng kích hoạt dây thần kinh phế vị để điều trị chứng trầm cảm sẽ tăng cường kết nối giữa hai vùng não: vùng dưới đồi giữa (medial hypothalamus) nơi điều chỉnh phản ứng căng thẳngvỏ não vành trước (rostral anterior cingulate cortex) nơi liên quan đến suy nghĩ đến bản thân. Điều này có thể cải thiện sự tích hợp của các quá trình cảm xúc và nhận thức.

Kính thưa các Bạn,
sự khác biệt rõ rệt giữa các phương pháp trị liệu theo Đông Tây Nam Bắc y hoàn toàn mang tính cách nghiên cứu, thống kê kinh nghiệm lâm sàng để thiết lập một „cẩm nang“ cho việc chẩn đoán cũng như tíc hợp tìm phương pháp điều trị cũng chỉ chữa ngọn hay chữa triệu chứng bằng cách sử dụng những thiết bị y tế hay y cụ hoặc thuốc uống mục đích làm giảm triệu chứng…!

Điều này hoàn toàn trái nghịch với Y lý, y học và Y thuật của Năng Lương TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®. Chúng tôi xin đơn cử trích dẫn vài tuyên bố của các chuyên gia trong báo cáo nghiên cứu ở trên:

I. GỐC bệnh lý hay triệu chứng
Ông Kevin J. Tracey thuộc Viện nghiên cứu y khoa Feinstein ở New York nói rắng … „có sự mơ hồ trong chẩn đoán bệnh trầm cảm“. Bởi „những người bị trầm cảm có thể có những triệu chứng tương tự, nhưng không phải tất cả họ đều mắc cùng một căn bệnh”. Nghĩa là „sự đa dạng này có thể là các tín hiệu thần kinh phế vị khác nhau có tác động khác nhau ở từng cá nhân….“

PERG: Ông Tracy đã nhận ra rõ tính chất „mơ hồ“ trong việc việc chẩn đoán bệnh trầm cảm
1. không riêng gì bệnh trầm cảm mà tất cả tật bệnh khổ tâm đau thân nào cũng thế cả! – bởi triệu chứng có thể tương tự, nhưng không nhất thiết cùng bệnh lý. Điều này cũng có ý nghĩa ngược lại rằng: cùng tên bệnh, nhưng triệu chứng hoàn tòan khác nhau. Nhưng ĐIỀU GÌ dẫn đến các triệu chứng khác nhau như vậy ở từng người?

2. đồng thời „tín hiệu thần kinh phế vị khác nhautác động khác nhautừng cá nhân“ cũng có nghĩa rằng: Từng cá nhân tạo sự đa dạng của các tín hiệu thần kinh phế vị khác nhau! Tuy nhiên CÁI GÌ ở từng các nhân tạo ra sự đa dạng này?

Theo chúng tôi, ông Tracy đã khéo nắm bắt được mấu chốt của vần đề, nhưng vẫn chưa biết điều gìcái gì dẫn đến vấn đề như vậy, theo suy luận của ông?

Vô cùng đơn giản dễ hiểu rằng điều gì hay cái gì đó đuộc chúng tôi nêu ra đó chính là sự TÁC Ý nghĩa là SUY NGHĨ  của từng người riêng biệt tác động gây ra những tín hiệu thần kinh khác nhau biểu hiện qua sự biế nđổi chất dẫn truyền thần kinh có thể đo đạc, làm tăng hay hãm được bằng nhiều loại thiết bị y tế ngoại vi, như trong trường hợp của báo cáo nghiên cứu trên là thiết bị kích hoạt (stimulator) phế vị xâm nhập (invasive) hay xuyên da (transcutaneous stimulation) để điều trị các cơ quan hay tâm lý liên quan đến dây thần kinh phế vị (vagus nervus) bị rối loạn (disorders) để kích thích làm dịu hay giảm triệu chứng, cơn đau nhức, mức độ viêm v.v… không giống chẳng khác máy rung đấm bóp (massage stimulator) gây cảm giác „thoải mái dễ chịu“ lúc đó. Tuy nhiên, GỐC bệnh vẫn chưa có cách để phát hiện chữa lành!

II. THỜI GIAN điều trị
… Trong một nghiên cứu được công bố năm 2017, việc kích thích dây thần kinh phế vị trong khoảng thời gian năm năm đã chữa lành hoàn toàn gần một nửa trong số khoảng 800 đối tượng thử nghiệmgiảm ít nhất một nửa các triệu chứnghai phần ba số người tham gia.

III. LỆ THUỘC (nghiện) thiết bị y tế hay thuốc men hỗ trợ
Tình trạng bị lệ thuộc vào thiết bị y tế hay thuốc men cũng là cách chữa ngọn, dần dẫn đến NGHIỆN. Vì thế cho nên, bất kể lý do nào từ cá nhân hay phổ biến như thiên tai, hoạn họa, chiến tranh, dịch bệnh v.v… không thể chế biến, sản suất những phụ kiện hỗ trợ cho thiết bị y tế… nghĩa là KHÔNG CÓ nữa thì người bị ảnh hưởng không thể sống

Ngoài ra, phương pháp điều trị này có một tác dụng phụ đáng chú ý: nó khiến người sử dụng hạnh phúc hơn. Khi bác sĩ nói với bệnh nhân rằng họ sẽ tháo bỏ miếng ghép, nhiều người đã từ chối, đơn giản vì sự kích thích khiến họ có cảm giác dễ chịu.

Ví dụ điển hình: „Bất kể phương pháp kỹ thuật nào được sử dụng, bà Gina Bolton không còn muốn sống mà không có sự kích thích điện…“ trích dẫn từ báo cáo khoa học trên!

IV. KHUYẾT ĐIỂM của thiết bị điện kích hoạt dây „thần kinh phế vị“
„Tuy nhiên, không có hướng dẫn thống nhất nào về thời gian và cường độ sử dụng tối ưu. Tệ hơn nữa, độ không chính xác của các thiết bị có thể khiến chúng vô tình kích hoạt sai đường dẫn thần kinh. Trong một số trường hợp, việc sử dụng chúng không mang lại hiệu quả làm dịu như mong muốn mà ngược lại còn làm tăng sự tỉnh táo và phấn khích – hoặc thậm chí là mất bình tĩnh (nervousness) và lo sợ càng tăng thêm nếu kích hoạt mạnh quá!“

KẾT LUẬN
Kính thưa các Bạn,
chúng tôi chân thành tri ân các Bạn có kiên nhẫn để theo dõi cho đến đây bài chia sẻ về kết quả một nghiên cứu khoa học liên quan đến ý nghĩa vô cùng quan trọng của dây thần kinh phế vị có thể „trị bách bệnh“ của thân và tâm. Cũng như khả năng và hiệu ứng việc kích hoạt dây thần kinh phế vị theo các thao tác KÍCH HOẠT (stimulation) não bộ được phổ cập hóa bằng khái niệm cho dễ hiểu của bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ theo Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® với mục đích „Kích Hoạt Não Bộ (brain stimulation, BS) Cài đặt Lập trình „mPERG“ Hình thành những Thần kinh và Hệ Thần kinh MỚI Chuyển hóa Tâm Thức CHỮA LÀNH tật bệnh“ khổ tâm đau thân.

Theo Y LÝ, Y HỌC của TÂM-THỂ P.E.R.G.®:
1. Tất cả tật dich dị bệnh khổ TÂM đau THÂN đều do TÁC Ý „bất toại nguyện“ gây ra, theo nhà Phật gọi là Ý NGHIỆP;
2. Bất toại nguyện
GỐC của STRESS
3. STRESS
3.1. làm RỐI LOẠN
tất cả các hệ nội tiết tố, tiêu hóa, bài tiết, miễn dịch của thân cũng như não v.v… dẫn đến tật bệnh của THÂN vật lý lẫn TÂM lý hay TÂM thần – kể cả những chứng bệnh nan y như ung thư, u bướu các kiểu; những bệnh tự miễn (autoimmune diseases) v.v… cũng như tất cả chứng VIÊM
3.2. gây TRỞ NGẠI cho việc chữa lành tật bệnh;
3.3. dẫn đến TỬ VONG

Vì thế cho nên, đối với Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® thì việc CHẨN tìm ra chính xác TÁC Ý „bất toại nguyện“ này việc làm tối ưu, trước khi có phác đồ điều trị TẬN GỐC. Bởi tất cả những triệu chứng hiện ra bên ngoài có thể cân đong đo đếm hay nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm kể cả có thể tưởng tượng được chỉ là những cành, nhánh, lá của một thân cây được „kích hoạt nuôi dưỡng“ từ GỐC rễ của thân cây đó! Cho nên, không thể TỪNG triệu chứngMỘT cách điều trị riêng (sic).

Điều này quá rõ, khi một bệnh thân vật lý không tìm ra được nguyên nhân ở thân, thì các bác sĩ đánh giá đó là bệnh „tâm-thể“ (psycho-somatic diseases) – nghĩa là bệnh thân do tâm lý gây ra! Nhưng cũng chẳng có cách chẩn đoán để biết tâm lý gì? Nên các chyuên gia y tế chỉ có cách điều trị riêng biệt: Nghĩa là bệnh thân vật lý thì can thiệp bằng những phương pháp vật lý, uống thuốc; còn phần triệu chứng tâm lý thì xử lý bằng những phương pah1p tâm lý trị liệu đang hiện hành!

Nghĩa là: Nền y khoa hiện đại ngày nay VẪN CHƯA CÓ một phương pháp nào để điều trị bệnh TÂM-THỂ! Đây là một SỰ THẬT không thể phủ nhận! Cho dù căn bệnh này sau dịch Covid hiện chiếm một tỷ lệ đáng sợ trên 80% tất cả bệnh lý hiện nay!

Kính thưa các Bạn,
trong khi đó, Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® với bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ theo Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® với mục đích „Kích Hoạt Não Bộ (brain stimulation, BS) Cài đặt Lập trình „mPERG“ Hình thành những Thần kinh và Hệ Thần kinh MỚI Chuyển hóa Tâm Thức CHỮA LÀNH tật bệnh“ khổ tâm đau thân đã được tích hợp phát minh, đã cầu chứng bản quyền, thương hiệu cùng logo va được Cơ quan „Bảo vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức (Deutsches Patent- und Markenamt) công nhận ngày 11.06.2012.

Bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ này xuyên suốt trên 12 năm qua không những đã giúp cho vô số người trong và ngoài nước được „tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ“, mà điều quan trọng nhất là nó đồng hành và giúp chúng tôi từ tình trạng „MỘT sống MƯỜI chết“ còn có mặt ngày hôm nay để chia sẻ những trải nghiệm về sức khỏe của tự thân đến mọi người.

Chúng tôi đã mắc phải những triệu chứng của cái gọi là HẬU-Covid (Post-Covid Syndrom), sau khi xuất viện ngày 21.03.2022 (nhập viện ngày 10.02.20222) thường xuất hiện cùng nhau, chẳng hạn như chóng mặt, hồi hộp, choáng váng khi đứng hay gắng sức, các triệu chứng viêm não tủy cơ (myalgic encephalomyelitis) / hội chứng mệt mỏi mãn tính (chronic fatigue syndrome) (ME/CFS) – đây là những triệu chứng về thân vật lý.

Ngoài ra triệu chứng gọi là „sương mù não“ (brainfog) gây ra vấn đề khó tập trung, khó khăn trong việc tìm đường đi, khó tìm từ ngữ, hay quên đột ngột, kiệt sức về mặt tinh thần hoặc cảm giác không thể suy nghĩ rõ ràng.

Và những triệu chứng này được một công trình nghiên cứu phát hiện ra rằng chúng cũng xảy ra ở những bệnh nhân cho dù bệnh chứng ung thư được chữa lành nhưng sức khỏe tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hội chứng gọi là „não hóa học“ (chemobrain) cũng có những triệu chứng tương tự như hội chứng „sương mù não“ (brainfog). Chúng tôi đang trích dịch biên soạn một bài chia sẻ riêng về đề tài này, kính mời các Bạn đón đọc!

Cho đến giờ phút này, ngành y khoa hiện đại VẪN CHƯA CÓ cách hay phương pháp trị liệu nào để can thiệp chữa lành những triệu chứng của hội chứng HẬU-Covid! Họ chỉ có thể can thiệp từng triệu chứng riêng biệt với những phương pháp vật lý hay tâm lý hiện hành! Trong khí đó, tình trạng HẬU- Covid nay được biết rằng nó không những do từ nhiễm Virus Corona gây ra mà do Vakzin-Corona dạng „mRNA“ dẫn đến! Thông tin về sự kiện này đã được các cơ quan truyền thông trên thế giới đưa tin trong vài tuần qua liên quan đến tình trạng khẩn trương và nghiêm trọng của HẬU-Covid đang xảy ra tại Trung quốc!

Với các bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ chúng tôi phải mất hơn MỘT năm mới khôi phục được hoàn toàn sức khỏe (03.2022 – 04.2023).

Hiện nay, phòng khám bệnh P.E.R.G.® đang điều trị cho không ít bệnh nhân mắc hội chứng HẬU-Covid. Thời gian điều trị ở mỗi bệnh nhân khác nhau, TÙY vào tình trạng sức khỏe và triệu chứng ở mỗi người được phát hiện qua phương pháp CHẨN đặc biệt của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nên phác đồ điều trị của từng người đa phần không giống nhau!

Kính thưa các Bạn, Phật dạy rằng:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA

cho nên:
Ta và chúng sanh ĐANG là
Cái TÁC Ý của ta và họ ĐÃ là;
Ta và chúng sanh SẼ là
Cái TÁC Ý của ta và họ ĐANG là…m!

cũng như thế:
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN ĐANG là
từ TÁC Ý chủ nhân của nó ĐÃ là;
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN SẼ là…nh
cũng do TÁC Ý chủ nhân của nó ĐANG là…m!

Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát


Thương kính chúc các Bạn cùng muôn loài Thân Tâm An Lạc, luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối!

Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya

Tâm chú DƯỢC SƯ:
“Om Bhaisajye Bhaisajye Mahabhasajye bhaisayaraje sammudgate svaha”
“Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Tóa Ha”

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
CHủ NHẬT ngày 27.04.2025

Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover.
https://hannover-wendepunkt.de/team/

Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng  phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:

1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo


Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc