Vui nơi công cộng, buồn ở nhà? Hoan hỷ với người lạ, chằm bằm với người thân? Mỉm cười, rộng rãi với đại chúng, khó chịu gắt gỏng độc tài với đồ chúng?… bởi cách tu tập kiểu „Hãy mỉm cười trước mọi tình huống?“ (sic) v.v… Một người luôn tỏ ra vui vẻ và mỉm cười trước mặt người khác không hẳn có nghĩa là mọi thứ bên trong thân tâm họ đều có vẻ tích cực. Trường hợp này được các chyuên gia tâm thần, tâm lý và tâm-thể học gọi là bệnh „trầm cảm mỉm cười“!
A. DẪN NHẬP
Trong giới chuyên môn, hành vi này còn được gọi là chứng trầm cảm mỉm cười „không điển hình“ và được đánh giá là nghiêm trọng ngang bằng – nếu không muốn nói là nghiêm trọng hơn mọi triệu chứng chứng trầm cảm khác. Bởi vì việc chẩn đoán và trị liệu hỗ trợ ở trường hợp này thường khó khăn hơn – theo giải thích của ông Andreas Hagemann, bác sĩ tâm thần và giám đốc y tế của các bệnh viện tư nhân ở Duisburg, Eschweiler và Merbeck – Trung Đức giải thích.
Vì lẽ, người trầm cảm không phải lúc nào cũng tỏ ra u sầu, buồn bã với những người xung quanh. Ngay cả đằng sau nụ cười luôn vui vẻ và vô tư cũng có thể ẩn chứa một tâm trạng sâu lắng. Bệnh tâm lý này được gọi là „Trầm Cảm Mỉm Cười“. Những người mắc chứng trầm cảm không điển hình này sẽ kìm nén và che giấu cảm xúc thật cũng như những xung đột nội tâm của mình với người khác. Họ thường không nhận thức được vấn đề của mình hoặc sợ bị đánh giá tiêu cực – điều này khiến việc chẩn đoán và giúp đỡ trở nên khó khăn.
Về nguyên tắc, không có sự khác biệt về tiêu chuẩn chẩn đoán giữa trầm cảm điển hình và không điển hình. Trầm cảm khi cười còn có thể được gọi là „trầm cảm có bản lãnh“ vì các triệu chứng ban đầu ít hoặc không ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Trong dạng trầm cảm không điển hình này, những người bị ảnh hưởng cố gắng che giấu tâm trạng của mình bằng một „tâm trạng vui vẻ. Các triệu chứng chung của việc thiếu niềm vui và bơ phờ trong các hoạt động mà trước đây được coi là dễ chịu, mệt mỏi hoặc mất bất thường, cũng như tâm trạng chán nản hầu hết thời gian trong ngày trong hơn hai tuần cũng được áp dụng ở đây. Tuy nhiên, ngoài sự thay đổi tâm trạng, người ta thường tập trung vào nhu cầu ngủ nhiều hơn, tăng ham muốn ăn quá nhiều, cũng như khả năng chấp nhận những lời chỉ trích thấp và cảm giác nặng nề ở tay và chân, thân hình và nội tạng khô khan
Theo vị bác sĩ trên, thì những người bị ảnh hưởng sẽ tạo ấn tượng tốt đối với người ngoài. Họ tỏ ra dường như có một cuộc sống hàng ngày mà không gặp bất kỳ vấn đề tâm lý nào cả. Nguy cơ sẽ đến là mức độ nghiêm trọng của bệnh thường bị giấu kín ngay cả với gia đình và bạn đời. Thiếu phản hồi khắc phục, sự hỗ trợ quan trọng từ những người thân thiết và sự quan tâm (chăm sóc) của người khác. Bất chấp những xung đột căng thẳng, sự trợ giúp chuyên nghiệp thường không được tìm kiếm. Một khi rào cản tìm kiếm sự giúp đỡ đã được vượt qua, những nỗ lực không thành công được coi là thất bại cá nhân do suy nghĩ tự phê bình, hạ thấp giá trị và những nỗ lực tiếp theo thường không được thực hiện do thiếu năng lượng. Tỷ lệ tự tử tương đối cao.
Hiện tại Đức có năm triệu người Đức phải chịu đựng nhiều dạng trầm cảm khác nhau. Các chuyên gia cho rằng cứ năm người thì có một người sẽ mắc chứng rối loạn tâm lý (psychologiacl disorders) này vào một thời điểm nào đó trong đời. Người ta ước tính có khoảng 15 đến 40% số người bị trầm cảm mắc chứng „trầm cảm mỉm cười“. Điều này thường ảnh hưởng đến những người chưa học cách bộc lộ điểm yếu và không muốn tạo gánh nặng cho những người xung quanh qua những vấn đề của chính họ. Họ che đậy nỗi buồn bằng cách luôn vui vẻ và giúp đỡ người khác. Họ thường lầm tưởng rằng họ sẽ chỉ được những người xung quanh chấp nhận và yêu mến vì những phẩm chất tích cực này. „Tôi chỉ được mọi người nhìn thấy và công nhận khi tôi đạt được điều gì đó“ là một lời tự mặc định phổ biến. Những người cầu toàn cũng đặc biệt thường bị ảnh hưởng bởi chứng trầm cảm mỉm cười.
Nếu tôi bị tâm trạng trầm cảm lâu hơn ba đến bốn tuần, tôi nên tham khảo ý kiến bác sĩ gia đình. Họ có thể đánh giá liệu có nên tham khảo thêm các chuyên gia khác hay liệu trợ giúp tâm lý có phù hợp hay không. Nên áp dụng những điều sau: trị liệu càng bắt đầu sớm thì việc điều trị thường càng ngắn và dễ dàng hơn. Đây là một trong những khó khăn, đặc biệt đối với bệnh trầm cảm mỉm cười, vì nó thường bị che giấu và không được người bị ảnh hưởng hoặc những người xung quanh chú ý.
Trong khi tâm lý trị liệu thường phổ biến cho những trường hợp trầm cảm nhẹ hơn thì thuốc an thần (psychotropic drugs) như thuốc chống trầm cảm (anti depressiva) thường được áp dụng thêm vào cho những trường hợp trầm cảm trung bình và nặng. Điều này đặc biệt đúng vì các phương pháp tâm lý trị liệu thông thường không thể đáp ứng được nhu cầu. Các loại thuốc cải thiện tâm thái (mood-enhancing medications) cũng có thể giúp đưa quá trình trao đổi chất trong não trở lại trạng thái cân bằng trong trường hợp trầm cảm mỉm cười.
Nguồn: trích dịch từ tạp chí trực tuyến FOCUS-Online.
Về chuyên gia: Bác sĩ Andreas Hagemann là chuyên gia về tâm thần học (psychiatrie) và tâm lý trị liệu (psychotherapy), đồng thời là giám đốc y tế của các bệnh viện tư nhân ở Duisburg, Eschweiler và Merbeck – miền Trung nước Đức. Các bệnh viện tâm thần và tâm-thể (psycho-somatic) này chuyên chẩn trị các triệu chứng rối loạn lo âu (anxiety disorder) và rối loạn hoảng loạn (panic disorder), đau mãn tính (chronic pain); các bệnh liên quan đến căng thẳng (stress-related diseases) như kiệt sức (burnout) thuộc dạng loại bệnh tâm-thể (psychosomatic disorders) và những bệnh rối loạn cảm xúc (affective disorders) như trầm cảm (depression)
B. TÌM HIỂU về chứng „Trầm Cảm Mỉm Cười“
Khi không ai có thể nhìn thấy điều gì sau cái mỉm cười đó!
I. TRẦM CẢM MỈM CƯỜI là gì? Bất kỳ ai đang u sầu, đau buồn nặng nề thì không thể mỉm cười. Nếu họ có mỉm cười „đáp lễ“ thì nụ cười đó chứa đầy sự đau đớn, buồn bã…! Nhưng đôi khi các triệu chứng trầm cảm ập đến với một người đã thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm của phương châm sinh tồn trong suốt cuộc đời của họ là: Hãy luôn mỉm cười! Sau đó, ngay cả chứng trầm cảm nặng ban đầu vẫn ẩn sau vẻ ngoài của nụ cười rạng rỡ ấy!
II. TRIỆU CHỨNG“Trầm Cảm Mỉm Cười“
1. Theo Cẩm Nang Quốc tế Phân loại Bệnh (International Classification of Diseases) ICD-10 (phiên bản lần thứ 10). ICD-10 phân biệt giữa các giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32. 0), trung bình (F32. 1) và nặng (F32. 2).
Để có thể đánh giá một bệnh gọi là trầm cảm cần có ít nhất năm (05) triệu chứng, bao gồm ít nhất một (01) triệu chứng chính, xuất hiện trong hai tuần hoặc lâu hơn.
Ba (03) triệu chứng CHÍNH và bảy (07)triệu chứng PHỤ gồm:
Ba triệu chứng CHÍNH gồm:
1. Tâm trạng chán nản, trầm uất;
2. Mất hứng thú và mất niềm vui;
3. Thiếu năng động và thường mệt mỏi;
Bảy triệu chứng PHỤ gồm:
1. Giảm sự tập trung và chú ý;
2. Cảm giác tội lỗi, vô dụng và giảm lòng tự trọng
3. Không còn hy vọng ở tương lai;
4. Có ý nghĩ hay hành động tự sát;
5. Rối loạn giấc ngủ;
7. Vận động, nói năng chậm chạp; nội tâm bất an
2. Trầm cảm mỉm cười (smiling depression) không phải là một thuật ngữ bệnh. Ở đây, một cách thông tục, giống như thuật ngữ „kiệt sức“ (burnout), một cách diễn tả bằng hình ảnh đề cập đến một sự kiện chưa được công nhận. Trầm cảm mỉm cười, được hiểu một cách chuyên nghiệp là một loại phụ của trầm cảm không điển hình, ảnh hưởng đến một số loại tính cách nhất định: Nếu có trầm cảm, những triệu chứng này không phát triển các triệu chứng điển hình được đề cập ở trên mà là các triệu chứng khác.
Ở chứng „trầm cảm mỉm cười“: Căn bệnh ẩn sau vẻ ngoài thân thiện.
Còn cái gọi là „trầm cảm chức năng cao“ (general depression)cũng là một trong những chứng trầm cảm không điển hình: Ở đây, nỗi đau khổ ẩn sâu hơn sau chủ nghĩa cầu toàn và vì tham vọng nên muốn thiết lập cuộc sống chỉ hướng đến một mục đích cao nhất bất chấp mọi thứ!
Điểm chung của tất cả các chứng trầm cảm không điển hình là chúng khó nhận biết đối với những người bị ảnh hưởng và đối với môi trường. Điều đặc biệt bi thảm đối với những người bị ảnh hưởng là trải nghiệm mà họ có thể có nếu thảo luận về trạng thái nội tâm của mình: Thường họ không được những người trong môi trường xã hội và thậm chí cả những người giúp đỡ chuyên nghiệp coi trọng. Một người trầm cảm không điển hình tỏ ra năng động, dễ gần và thân thiện. Bất cứ ai chỉ biết tập trung vào các triệu chứng trầm cảm cổ điển đều bỏ qua thảm kịch đằng sau của cái bề ngoài ấy.
III. Những DẤU HIỆU điển hình của „trầm cảm mỉm cười“
Do đó, điều đặc biệt quan trọng là phải nhận ra những điều này và thực hiện chúng một cách nghiêm túc:
1. Buồn bã trầm trọng: Chủ yếu xảy ra vào buổi tối. Bởi trong ngày, mọi hoạt động làm phân tâm nên không để y đến;
2. Thường xuyên ăn uống quá no: Thức ăn có tác dụng quân bình, hãm sự chán nản và mệt mỏi;
3. Có nhu cầu ngủ cao: Sự quân bình ở đây là tìm cách trốn vào giấc ngủ.
4. Độ nhạy cảm cao đối với những lời chỉ trích: Điều này đặc biệt đúng khi những lời chỉ trích chạm và làm lung lay cái dáng bề ngoài được bảo bọc;
5. Có cảm giác nặng nề ở tay và chân
Việc tìm hiểu về bản thân đôi khi giúp bạn có thể tự kiểm tra bản thân của mình.
Ngay cả những người đã tiếp thu những điều đáng tin sau đây và sống theo chúng cũng có nhiều khả năng che giấu nỗi trầm cảm của mình sau nụ cười:
„Tôi chỉ được yêu mến vì sự vui vẻ, thành đạt và sẵn lòng giúp đỡ“ hay
„Tôi không muốn hay không được phép tạo gánh nặng cho những người xung quanh hoặc những người có thể bị bệnh về những vấn đề của tôi“ hoặc
„Tôi có thể hay phải tự mình giải quyết vấn đề của mình“.
Bước đầu tiên, nhận ra những mô hình có hại cho sức khỏe của chính bạn có nghĩa là nhận thức được hành vi hoàn toàn vô thức trước đây. Nhưng những gì chúng ta nhận thức được đều có thể được xem xét, kiểm tra và chuyển đổi thành hành vi quan tâm đến bản thân.
IV. Điều gì khiến „trầm cảm mỉm cười“ trở nên NGUY HIỂM như vậy?
Ngay từ năm 2009, một nghiên cứu của Đức đã cho thấy rằng: Trầm cảm không điển hình, bao gồm trầm cảm mỉm cười chiếm 15,3% tổng số ca trầm cảm. Theo các triệu chứng bị che giấu, ước tính ngày nay là 15 đến 40 phần trăm phản ánh một số lượng lớn các trường hợp không được báo cáo và chưa được công nhận.
V. Trầm cảm „MỈM CƯỜI“ đặc biệt ngấm ngầm vì ba lý do:
1. Những người bị ảnh hưởng quen sử dụng „mỉm cười“ để đè nén các triệu chứng của họ. Họ hoàn toàn không tin tưởng người khác kể cả sau này. Việc điều trị không xảy ra hoặc xảy ra rất muộn.
2. Vì những người trầm cảm „mỉm cười“ để che giấu chứng trầm cảm của mình để tỏ ra thành công và hạnh phúc nên những người xung quanh họ hoàn toàn không nhận ra căn bệnh của họ hoặc nhận ra nó muộn.
3. Nếu trầm cảm dẫn đến ý định tự tử, thì việc thiếu sức mạnh và lòng dũng cảm ở các dạng trầm cảm khác cũng có thể bảo vệ họ không hành động. Mặt khác, những người mắc chứng „trầm cảm mỉm cười“ thường rất mạnh mẽ, tự chủ và có khả năng hành động đến mức họ có thể hành động theo sự thôi thúc muốn tự tử. Điều này làm cho việc điều trị nhanh chóng trở nên quan trọng hơn. Tuy nhiên, những người trầm cảm không điển hình thường không tìm kiếm sự trợ giúp y tế thông thường ngay lập tức.
VI. Những người bị trầm cảm „mỉm cười“ có thể tìm sự giúp đỡ như thế nào?
Vì nỗi sợ phải biểu lộ những triệu chứng này nên những hình thức tư vấn ẩn danh và từ xa như tư vấn qua điện thoại hoặc lời đề nghị nói chuyện từ các trung tâm tư vấn chuyên nghiệp ban đầu sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn.
Một số người mắc bệnh trầm cảm „mỉm cười“ cũng gặp phải tình trạng khó xử qua các loạt bài viết như thế này. Họ biết rằng trầm cảm không phải là sự thất bại hay xấu hổ mà là một căn bệnh có thể chữa được. Trầm cảm cũng phổ biến ở những người nổi tiếng và các ngôi sao ngày nay ngày càng nói hoặc viết nhiều về nó: Lady Gaga, Winston Churchill, Herman Hesse, Nicole Kidman và Charly Chaplin … đây chỉ là một vài ví dụ nêu ra. Điều đó thật đáng khích lệ. Những người thân nghi ngờ ai đó thân thiết của họ đang mắc chứng trầm cảm „mỉm cười“ có thể khiến họ nhận ra những mối liên hệ như vậy.
Điều quan trọng thường là tạo cơ hội đồng hành cùng người bị ảnh hưởng chẳng hạn như đến phòng khám bệnh hoặc phòng khám ngoại trú. Người liên hệ đầu tiên phải là bác sĩ gia đình của họ. Ban đầu, họ được điều trị y tế tổng quát. Tuy nhiên, họ nên được bác sĩ gia đình giới thiệu đến bác sĩ tâm lý hay tâm thần chuyên khoa càng nhanh càng tốt. Trải nghiệm tích cực đầu tiên này có thể thúc đẩy động lực đồng hành với việc điều trị bằng tâm lý trị liệu.
Nguồn: Schlosspark-Klinik-Dirmstein.
. . . . .
CẢM NHẬN
Kính thưa các Bạn,
TRẦM CẢM là một hiện trạng „hot“ trong xã hội hiện nay đang bị bủa vây không lối thoát bởi mọi tật dịch bệnh; như Corona hơn 2 năm với nhiều biện pháp gọi là „giãn cách“ để tránh lây nhiễm khiến số tử vong cao. Điều này đã dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế, tài chánh, thất nghiệp v.v… Và nay với thiên tai hỏa hoạn, động đất, lũ lụt, giông bão, sạt lỡ kéo theo dịch bệnh hoành hành nay mai … điều này chắc chắn khó tránh khỏi – chẳng cần phải tiên tri dự đoán chi cả(!) Lại thêm chiến tranh bùng phát từ tháng 2 năm 2023 tại Ukraine; tiếp đến là cuộc chiến giữa Israel và nhóm khủng bố Hamas được chống lưng bởi các quốc gia Hồi giáo như Iran, Irak, Libanon v.v…
Nói chung, nhân loại ĐANG đứng trước một thảm họa không bút mực nào có thể diễn tả được trong lịch sử con người trên hành tinh này! Mọi nền kinh tế sản suất về thương mại chỉ làm giảm thiểu nhu cầu an sinh. Trong khi đó, mọi năng lượng sẳn có của hành tinh này hiện đang được khai thác và sử dụng triệt để nhằm phòng chống thiên tai và tái thiết sau đó; nạn thiếu lương thực, nước uống sẽ có mặt không lâu bởi thiên tai và chiến tranh.
Các cường quốc có „điều kiện“ đều ra sức thi nhau gia tăng sản suất vũ khí, đạn dược… đến cả vũ khí hạt nhân hay hóa học cũng đang được nhân lên càng nhiều càng tốt cho cái gọi là „yêu nước giữ nước“ bất kể bom đạn tàn phá hủy hoại thân MẸ hành tinh này, không tha cho một mạng sống nào của những đứa con của MẸ hành tinh…!
TƯƠNG LAI chỉ là những gì xa vời khó vói tới! Thế thì làm sao nhân loại không bị trầm cảm, đây mới là chuyện lạ!
Và TRẦM CẢM được định nghĩa như thế nào, thì các chuyên gia y tế về tâm thần, tâm lý hay não bộ học vẫn CHƯA thể có một khái niệm nào chính xác để gọi tên nó. Họ chỉ căn cứ vào các triệu chứng do họ „mặc định, thống kê hóa, cẩm nang hóa“ để có thể thẩm định đánh giá rằng: Một người bị trầm cảm thì phải có ít nhất những triệu chứng chính và phụ do họ thống kê từ kết quả các ca lâm sàng đặt ra (sic)
Tất cả những điều này chỉ là NGỌN còn gọi là triệu chứng, những gì có thể cân đong đo đếm, nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ mó được – cái gọi là vật lý, sắc, material, hữ vi v.v… Còn cái gọi là GỐC của chứng TRẦM CẢM thì họ chỉ giả định, chứ chưa hề có cách để CHẨN. Cái gọi là CHẨN đoán bệnh trầm cảm chỉ toàn là những điều khai báo về tình trạng sức khỏe của người bị ảnh hưởng để đưa vào máy vi tính có programm sẳn để đối chiếu với 3 triệu chứng chính và 7 phụ mà đánh giá. Sau đó, nếu kế tquả đáp ứng các yêu cầu đặt ra, thì người được chẩn đoán bị đóng một con dấu trầm cảm „nhẹ – trung bình (vừa) – nặng“ vào đâu đó chẳng cần biết (sic). Sau đó, họ được chỉ định phương pháp để trị liệu, chủ yếu là sử dụng thuốc „chống trầm cảm“ (anti depressiva) … chỉ thế thôi!
Những ai mắc bệnh trầm cảm được CHẨN đoán theo ICD-10 theo 7 triệu chứng trên thì được xem là trầm cảm có các triệu chứng „điển hình“. Có thể đặt cho nó một khái niệm gọi là „trầm cảm điển hình hay hữu hình“, nghĩa là trầm cảm có những triệu chứng có thể „nhận biết“ được bằng cách này hay cách khác!
Còn những loại trầm cảm „không điển hình“ là thứ „trầm cảm vô hình“, vì không thấy triệu chứng như đã mặc định! Đơn giản dễ hiểu: Vì chúng bị „che giấu kỹ“ bằng cái „mỉm cười“ (!)
Ở điểm này cũng cho thấy có cái gì đó không phù hợp hay nói rõ là mâu thuẩn ngay nơi quan điểm. Bởi nếu chẩn đoán bất kỳ một người bị ảnh hưởng nào đó và đánh giá rằng: Họ mắc bệnh „trầm cảm không điển hình“ thì dựa vào đâu mà đánh giá:
1. họ bị trầm cảm
2. bởi các triệu chứng trầm cảm của họ „không điển hình“, nghĩa là không phù hợp các tiêu chuẩn đã được „thống kê và mặc định“ (?)
Chẳng hạn như chứng trầm cảm „mỉm cười“!
Trong khi đó, không ít TRẠNG sư „coaching“ cho đại chúng về cái khái niệm hay phương pháp gọi là „Hãy luôn mỉm cười“ trước mọi tình huống. Đây là chiêu bài gọi là phương châm của vô số cái gọi là TRẠNG sư „dạy đời“ để „chữa lành“, „chuyển hóa tâm thức“ v.v…! Họ thường rêu rao, hướng dẫn cho người bị ảnh hưởng bằng cái „mỉm cười“ để „lẫn trốn, tránh né, hãy quên đi, đè nén, ức chế“ v.v… khi đương sự không thể nhìn thẳng và chấp nhận cái tiêu cực họ ĐANG phải gánh chịu, không phải để sửa đổi, mà chuyển hóa bằng cách LÀM MỚI những điều KHÔNG tiêu cực! Bởi họ đã và đang không có khả năng, bản lĩnh, yếu đuối hay năng lượng để tự hay can đảm lên tiếng nhờ sự hỗ trợ của bên ngoài để khắc phục được tâm thái trầm cảm của họ.
Vì thế cho nên đối với bên ngoài, họ chỉ tìm cách mỉm cười „ngoại giao“ để che dấu triệu chứng trầm cảm họ ĐANG mắc phải. Khi càng muốn che dấu sự thật, thì họ càng rơi vào tình huống luôn tìm cách vận động tư duy để có thể „ngụy biện“ bệnh trạng của họ qua cái „mỉm cười“ đối với bên ngoài.
Hành vi này của họ không giống chẳng khác „con chó ngậm cái đuôi quay vòng“ ngày càng ngậm chặt hơn. Nghĩa là, sơi dây trói họ ngày càng „siết chặt thêm“ dẫn đến tư tưởng „bất lực“ trước tình huống. Điếu này là nguy cơ dẫn đến „tự sát“, bởi đối với họ „tự tử“ là cách duy nhất để „bức xiềng xích“ đang làm họ „khó thở“!
Càng tránh né, lẫn trốn, ức chế che đây „sự thật“ bao nhiêu thì năng lượng bị dìm nén sẽ nổ tung càng mạnh không chỉ gấp đôi mà nhân lên nhiều hơn thế nữa… Tình huống này dẫn đến ý nghĩ „tự tử“ của đương sự là chuyện „phải đến“! Do vì đâu?
Điều vô cùng đơn giản dễ hiểu rằng: Cho dù một căn bệnh hay bất kỳ một triệu chứng bệnh tật khổ tâm đau thân mang một tên chung gì đó, từ đau nhức hình hài vật-lý đến tâm lý hoặc tâm thần, kể cả những bệnh nan y nghĩa là Đông Tây Nam Bắc y khoa chưa hay không có cách can thiệp chẩn đoán và điều trị như những bệnh gọi là ung thư (cancer), bệnh tự miễn (autoimmun diseases) cũng như rối loạn phát triển (development disorders) các kiểu, cùng rối loạn các hệ sinh-hóa (biology systems) như hormon, immun v.v… thì căn nguyên gây ra chúng đều có chung một chỗ!
Chỗ nào vậy? Xin thưa, cái chỗ này gọi là TÁC Ý của đương sự (!)
Bởi TÁC Ý là quỹ đạo của NHÂN-QUẢ; chúng tương tức tương tác luân phiên vận hành chưa hề bị gián đoạn bởi không gian, thời gian, nơi chốn, môi trường hay bất kỳ điều kiện nào v.v… phù hợp và bị ảnh hưởng bởi TÁC Ý!
Người ta vẫn thường lầm rao giảng cho rằng: Nhân Quả hay Luân Hồi là một vòng tròn thậm chí là một đường thẳng – tùy theo cái gọi là nhân sinh quan của người đó!
Xin thưa rằng, sự thật không phải thế! Mà sự vận hành của NHÂN (duyên) QUẢ là một vòng „XOẮN đa chiều“ – như cơn lốc xoáy của tornado (!) – tùy thuộc vào NHÂN là tác ý và DUYÊN là điều kiện từ bên ngoài (ngoại) hay bên trong (nội) mà tương tác với cái tác ý (nhân) ĐANG là để thay đổi hướng và độ xoắn dẫn đến cái gọi là SINH hay QUẢ. Khi nó „xoắn“ hướng LÊN trên thì gọi là sức khỏe, may mắn, hạnh phúc, lành thiện, phước v.v… hoặc „xoắn“ hướng XUỐNG dưới thì gọi là bệnh tật, xui xẻo, khổ đau, ác, họa v.v…
Cho nên, Như Lai đảm bảo rằng: NHÂN QUẢ hay NGHIỆP nghĩa là cái TÁC Ý có thể CHUYỂN HÓA được nhân quả hay nghiệp chỉ xảy ra NGAY ĐANG LÀ. Nghĩa là liên tục LÀM MỚI tức chuyển hóa tác ý ngay đang là – chứ cái nghiệp ĐÃ là không bao giờ có thể TU chỉnh hay SỬA đổi được gì cả!
Vì thế cho nên, quan niệm TU là SỬA hoàn toàn không phù hợp với giáo lý Phật đà! Bởi đây là quan niệm của đạo giáo khác ở Trung quốc được du nhập vào Phật Giáo khi được truyền sang Trung quốc. Và Việt Nam bị ảnh hưởng rất nhiều tư tưởng các đạo giáo này suốt gần 1000 năm bị Trung quốc đô hộ. Bởi vậy, giáo lý Phật đà đã và đang bị „nhuộm“ theo những quan niệm, triết học „thời thế“ cho nó có „khoa học“ hòng mong lôi cuốn „thính giả“, chứ không phải „hành giả“!
FAZIT
Kính thưa các Bạn,
ngay cả nhà bác học thiên tài cận đại là Albert Einstein, người đưa ra thuyết TƯƠNG ĐỐI (theory of relativity) với công thức năng lượng là E=m.c2 dẫn đến việc chế tạo và sản suất phi tiển để dẫn đến sự tàn sát nhân loại và hành tinh này ngày nay, cũng dựa vào nền tảng giáo lý Vô Thường (transience) theo quy trình Nhân Duyên Sinh (cause, conditions and consequences) của giáo lý Phật đà để hình thành tư tưởng khoa học này!
Trong những lần hướng dẫn các khóa „Phật Pháp Ứng Dụng“ (Applied Buddha Praxis) cho người Đức ở Tổ Đình Viên Giác trước năm 2020 – nhất là các giáo sư và sinh viên thần học, y khoa v.v… – chúng tôi luôn mượn công thức năng lượng của A.Einstein „E=m.c2“ đểchứng minh cho họ „thấy“ rõ NGHIỆP LỰC của tất cả các pháp hữu vi cùng vô vi diễn tiến như thế nào!
Cũng như chứng minh cho các nhà khoa học hay tôn giáo học „thấy“ và „hiểu“ rõ quy trình vận hành của NHÂN (duyên) QUẢ mang tính khoa học tự nhiên như thế nào theo quan điểm và sự khẳng định của A.Einstein khi đề cập đến vấn đề „Tôn Giáo và Khoa Học“.
Ông từng nói rằng: „… Phật Giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật Giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học. Vì Phật Giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt trên khoa học!“
Kính thưa các Bạn,
đối với Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® cũng như thế!
Vì Y lý – Y học và Y thuật của Y phương minh TÂM THỂ-P.E.R.G.® dựa trên nền tảng giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ của Phật giáo để phát minh chế tác ra nguyên tắc và phương pháp CHẨN – TRỊ của riêng mình – như ông A.Einstein với thuyết Tương Đối của ông cũng dựa trên nền tảng TỨ ĐIỆU ĐẾ là „khổ (khổ) – tập (nhân) , diệt (quả) – đạo (nhân)“ – quy trình nhân (duyên) quả, nghĩa là „năng lượng NGAY ĐANG LÀ làm nhân cho cái SẼ LÀ“ và liên tục chưa hề gián đoạn!
Và cái gọi là „năng lượng NGAY ĐANG LÀ“ chính là cái gọi là „TÁC Ý ngay đang là“ để vận hành vòng XOẮN NGHIỆP LỰC theo chiềuhướng lên trên gọi là THUẬN là tích cực, sức khỏe, phước lành, hạnh phúc v.v… hoặc theo chiều hướng xuống dưới gọi là NGHỊCH là tiêu cực, bệnh hoạn, ác báo, khổ đau v.v…
Kính thưa các Bạn,
vì lẽ đó, chúng tôi luôn TỰ HÀO (proud) nhưng KHÔNG KIÊU NGẠO (not arrogant) khi chúng tôi mượn tạm câu nói của A.Einstein ở trên để khẳng định rằng:
„Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.® không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học, y khoa. Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.® không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học. Vì Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.® bao gồm cả khoa học cũng như vượt trên khoa học!
Bởi nền tảng Y học – Y lý và Y thuật của nó là giáo lý TỨ ĐIỆU ĐẾ của Phật Giáo để CHẨN tìm ra GỐC RỄ của mọi tật dịch dị bệnh khổ tâm đau thân là nhân TÁC Ý của từng bệnh nhân, rồi mới có thể lên phác đồ CHUYỂN HÓA tác ý gây bệnh. Trong khi đó tất cả mọi công trình nghiên cứu phát hiện từ trước đến nay thậm chí gọi là mới của khoa học, y khoa và mãi mãi về sau này cũng CHỈ là cách chữa NGỌN, vì họ chưa hay không biết cái NHÂN của bệnh tật do đâu sinh ra!“
Kính thưa các Bạn,
tính khoa học của giáo lý Phật Đà và Y lý – Y học cùng Y thuật của Y phương minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.®“ vô cùng đơn giản dễ hiểu qua „lập trình mPERG“ sau:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA
cho nên
Tôi và chúng sanh ĐANG là
Cái TÁC Ý của tôi và họ ĐÃ là;
Tôi và chúng sanh SẼ là
Cái TÁC Ý của tôi và họ ĐANG là…m!
Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát
Thương kính chúc các Bạn cùng muôn loài Thân Tâm An Lạc,luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ BẢY ngày 12.10.2024
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover: https://hannover-wendepunkt.de/team/
Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:
1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo


Bình luận