PSYCHE News 32/22Okt2023
Tư liệu về KÍCH HOẠT NÃO BỘ (brain stimulation, BS)
KÍCH THÍCH TỪ TRƯỜNG XUYÊN SỌ (Transcranial magnetic stimulation, TMS) ở bệnh TRẦM CẢM.
Phản ứng của đồng tử (pupil reaction) có thể cho thấy xem ai có phản ứng tốt nhất với kích thích từ trường xuyên sọ (transkranielle Magnetstimulation) đối với bệnh trầm cảm (depression).
Những phát hiện mới từ các nhà nghiên cứu tại UCLA Health cho thấy rằng, việc đo lường được những thay đổi trong phản ứng của đồng tử với ánh sáng có thể giúp dự đoán sự phục hồi sau trầm cảm và cá nhân hóa việc điều trị chứng rối loạn trầm cảm nặng bằng cách sử dụng kích thích từ trường xuyên sọ (TMS)
TMS là một liệu pháp an toàn, không xâm lấn, sử dụng từ trường để kích thích các bộ phận của não liên quan đến việc điều chỉnh tâm trạng. Mặc dù TMS đã được chứng minh là có hiệu quả nhưng không phải tất cả bệnh nhân đều phản ứng tốt với liệu pháp này. Khả năng dự đoán ai sẽ được hưởng lợi nhiều nhất, có thể cho phép các bác sĩ điều chỉnh và điều trị mục tiêu tốt hơn.
Trong hai nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học UCLA phát hiện ra rằng: Phản ứng của đồng tử với ánh sáng trước khi điều trị có tương quan với sự cải thiện các triệu chứng trầm cảm trong quá trình trị liệu. Kích thước đồng tử phản ánh sự kích hoạt của hệ thống thần kinh tự chủ (autonome nervous system); hệ thống này kiểm soát các chức năng không tự nguyện và bị ảnh hưởng tiêu cực ở những người bị trầm cảm.
Phản ứng đồng tử trước điều trị có liên quan đến kết quả của điều trị lặp đi lặp lại kích thích từ xuyên sọ (rTMS) trong trầm cảm lâm sàng
1. Nghiên cứu đầu tiên được công bố trên „Tạp chí Rối loạn Cảm xúc“ (Journal of Affective Disorders), đã báo cáo kết quả của 51 bệnh nhân trải qua các buổi ứng dụng TMS hàng ngày. Trước khi điều trị, các nhà nghiên cứu đã đo biên độ co thắt đồng tử (CA), tức là biên độ co thắt đồng tử (CA) ở bệnh nhân, nghĩa là đồng tử co lại bao nhiêu khi tiếp xúc với ánh sáng. Sự co thắt của đồng tử là một chỉ số về chức năng của hệ thần kinh đối giao cảm (parasympathetic nervous system).
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa biên độ co thắt đồng tử cơ bản và sự cải thiện triệu chứng, cho thấy rằng biên độ co thắt cơ bản lớn hơn có liên quan đến kết quả tốt hơn. Nói cách khác, những người có độ co đồng tử khi phản ứng với ánh sáng cao hơn lúc ban đầu cho thấy các triệu chứng của họ được cải thiện nhiều hơn trong suốt quá trình điều trị.
Phản ứng đồng tử trước điều trị có liên quan đến phản ứng sớm thay đổi đối với kích thích từ xuyên sọ lặp đi lặp lại 10 Hz (rTMS) với các đợt theta ngắt quãng trong điều trị rối loạn trầm cảm nặng
2. Nghiên cứu thứ hai, được công bố trên tạp chí „Brain Stimulation“ (kích hoạt não bộ) đã tiến xa hơn và so sánh các bệnh nhân được điều trị trầm cảm bằng một trong hai giao thức TMS phổ biến: kích thích 10 Hz và kích thích nhanh theta ngắt quãng (iTBS). Kích thích 10 Hz cung cấp các xung từ (magnetic impulses) ở tần số cố định 10 xung mỗi giây (10 Hz), kích thích tần số liên tục và tương đối cao.
Phương pháp „iTBS“ là một hình thức kích thích nhanh hơn bằng cách sử dụng các chùm ba xung (three impulses) ở tần số 50 Hz, được lặp lại với các khoảng dừng ngắn giữa các xung. Mô hình này được cho là bắt chước nhịp điệu tự nhiên của một số hoạt động nhất định của não bộ.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng: Những người có tình trạng đồng tử co chậm hơn đã cải thiện đáng kể tình trạng trầm cảm sau 10 buổi điều trị bằng iTBS thay vì 10 Hz.
3. Nhà nghiên cứu Cole Citrenbaum, tác giả chính của cả hai nghiên cứu và nhà nghiên cứu của „Chương trình Nghiên cứu và Lâm sàng (Clinical and Research Program) TMS tại „Viện Khoa học Thần kinh và Hành vi Con người Semel“ (Semel Institute for Neuroscience and Human Behavior) tại đại học UCLA nói rằng: “Những kết quả này cho thấy rằng chúng tôi có thể sử dụng một bài test đơn giản đối với đồng tử để xác định ai có khả năng phản ứng cao nhất với kích thích điện từ của não để điều trị chứng trầm cảm”.
Các nhà nghiên cứu đề nghị rằng: Việc đo phản ứng đồng tử trước khi bắt đầu áp dụng TMS có thể giúp lựa chọn phương pháp điều trị trên cơ sở từng cá nhân. Theo Citrenbaum: “Chúng tôi cũng có thể điều chỉnh tần suất kích thích cho từng bệnh nhân để tối đa hóa lợi ích của việc điều trị”. Cách tiếp cận cá nhân hóa này có thể mang lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân.
Theo tiến sĩ Andrew F. Leuchter, tác giả chính của cả hai nghiên cứu và Giáo sư ưu tú về tâm thần học (psychiatry) tại „Viện khoa học thần kinh và hành vi con người Jane và Jerry Semel“ (Jane and Jerry Semel Institute for Neuroscience and Human Behavior) thuộc đại học UCLA: “Ở thời điểm này, có khoảng 65% bệnh nhân được điều trị bằng TMS có sự cải thiện đáng kể về chứng trầm cảm của họ”.
Ông tiếp: “Mục tiêu của chúng tôi là hơn 85% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau trầm cảm. Càng hiểu rõ hơn về hoạt động phức tạp của não gây ra trầm cảm thì chúng ta càng có thể điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp với bệnh nhân để đảm bảo phục hồi hoàn toàn. Kiểm tra đồng tử có thể là một công cụ hữu ích để đạt được mục tiêu này.”
© Psylex.de/22.10.2023 – Nguồn: „Tạp chí Rối loạn cảm xúc“ (Journal of Affective Disorders) 2023. DOI: 10.1016/j.jad.2023.07.008 – Tạp chí „Kích thích não bộ“ (Brain Stimulation) 2023. DOI: 10.1016/j.brs.2023.10.006
. . . . .
CẢM NHẬN
A.
Nội dung phát biểu của vị giáo sư ưu tú, tiến sĩ Andrew F. Leuchter, tác giả chính của cả hai nghiên cứu và Giáo sư ưu tú về tâm thần học (psychiatry) tại „Viện khoa học thần kinh và hành vi con người Jane và Jerry Semel“ (Jane and Jerry Semel Institute for Neuroscience and Human Behavior) thuộc đại học UCLA có thể chia ra làm bốn (04) tiêu điểm là:
[1]. „“Mục tiêu của chúng tôi là hơn 85% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau trầm cảm.
[2]. Càng hiểu rõ hơn về hoạt động phức tạp của não gây ra trầm cảm thì
[3]. chúng ta càng có thể điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp với bệnh nhân để đảm bảo phục hồi hoàn toàn.
[4]. Kiểm tra đồng tử có thể là một công cụ hữu ích để đạt được mục tiêu này.”
Bốn tiêu điểm kết luận trên cho thấy rằng:
1. Các chuyên gia „ưu tú“ của ngành tâm lý trị liệu và tâm thần học cho đến nay vẫn CHƯA BIẾT „tác nhân“ hay „nguyên nhân CHÍNH của bệnh trầm cảm là gì cả?
2. Họ đã áp dụng phương pháp gọi là „kích thích từ trường xuyên sọ“ (transcranial magnetic stimulation) cho việc điều trị bệnh trầm cảm và nhận thấy bệnh nhân có cải thiện đôi phần. Qua những kết quả nghiên cứu này, nhiều nhà công nghệ đã kinh doanh chế máy „kích từ trường vào đầu“ bán cho những người bị trầm cảm.
Mặc dù họ chưa biết vùng nào của não bộ cần được KÍCH THÍCH, nhưng vẫn chế máy bán. Điều này chẳng khác những máy dập, run v.v… dùng cho vật lý trị liệu trong việc xoa bóp (masaage) đau nhức… chứ chẳng biết nguyên nhân chính của sự đau nhức, mệt mõi, khó chịu này từ đâu sinh ra?
3. Cũng như nguyên nhân CHÍNH gây ra bệnh trầm cảm hay những triệu chứng tâm lý hoặc tâm thần khác không phải vì „sự hoạt động phức tạp của não“ [2]
Điều này là một quan niệm cực sai lầm không riêng gì của vị giáo sư ưu tú thần kinh học mà hầu hết của ngành y khoa. Cho nên mục tiêu hy vọng của họ chỉ mong đạt hơn tỷ lệ „85% bệnh nhân phục hồi hoàn toàn sau trầm cảm“ mà không thể 100% theo phương pháp TMS này – ngoại trừ nghiệp bệnh?
4. Đồng thời,
4.1. báo cáo nghiên cứu trên cho thấy rằng: Không phải người nào bị trầm cảm cũng có thể thích hợp với ứng dụng TMS, nên cần phương pháp KIỂM TRA trước gọi là „cá nhân hoá“ [3]
4.2. cho đến nay, sau khi áp dụng TMS cho bệnh nhân trầm cảm, các chuyên gia vẫn chưa có cách kiểm tra sự cải thiện triệu chứng như thế nào.
Cho nên họ nghĩ ra cách ĐO sự „co giản“ của đồng tử là con ngươi đối với „ánh sáng“ để có thể kết luận được tâm trạng „u ám, trì trệ, suy sụp“ của chứng trầm cảm liên quan đến sự „tiếp cận ánh sáng“ của „con ngươi“ như thế nào.
„Con ngươi“ hay „đồng tử“ có chức năng biểu lộ trực tiếp „cảm xúc“ của một người khi tiếp cận tình huốnghay đối tượng nào đó.
a. vì dụ, nếu đương sự cảm thấy tình huốnghay đối tượng thoải mái „như ý“ nghĩa là „hợp nhãn“ thì mắt sáng rở, con ngươi nở giản chan hoà ánh sáng (!) nghĩa là „không ngăn ngại ánh sáng“;
b. còn trường hợp „không hợp nhãn“ nghĩa là „bất như ý“ thì đồng tử khép hay co lại „không muốn nhìn, không muốn thấy“ nghĩa là „ngăn ngại ánh sáng“…
5. Điều này cũng đơn giản dễ hiểu vì sao họ áp dụng việc kiểm tra đồng tử [4]:
5.1. TRƯỚC khi điều trị trầm cảm bằng TMS, các chuyên gia đo sự co giản của đồng tử để biết: a) bệnh nhân có chỉ số trầm cảm bao nhiêu; b) và thử kích hoạt ngắn TMS để biết bệnh nhân có thích hợp phương pháp này không – dễ hiểu thôi: nếu đồng tử co thì không ok; còn đồng tử giản thì ok (!)
5.2. SAU khi điều trị, chỉ số đo sự co giản đồng tử có thể cho họ biết rằng cách áp dụng phương pháp TMS hay iTMS hoặc sau này còn nhiều dạng khác tương tự (!): a) thứ nào có hiệu quả cao hơn?; b) triệu chứng trầm cảm đã cải thiện bao nhiêu phần trăm?
Những chỉ số hay con số được làm chuẩn cho việc đánh giá sư „co giản“ của đồng tử chỉ là những con số của thống kê lâm sàng ghi lại. Nó không giống chẳng khác cái gọi là „cẩm nang chẩn đoán“ các triệu chứng tâm ly hay tâm thần của Đức là ICD và của Mỹ là DSM (!)
6. Tóm lại: Vì sao có nghiên cứu áp dụng cách „kiểm tra đồng tử“ như trên?
6.1. chưa có cách kiểm tra hiệu ứng của việc ứng dụng TMS?
6.2. đã có những hậu quả nghiêm trọng khả thi đối với bệnh nhân trầm cảm sau khi được áp dụng TMS!
6.3. chưa có cách kiểm tra kết quả sự cải thiện triệu chứng?
B.
Thưa các Bạn,
đã từng theo dõi các bài chia sẻ kết quả lâm sàng, quan điểm trái chiều của Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® đối với kết quả các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến những bệnh Thân, Tâm lý, Tâm thần hay Tâm Thể; những thông tin về y khoa, nghiên cứu não bộ, tâm lý học, thần kinh học, não bộ học, miễn dịch học, di truyền học, dịch tể học v.v… thì các Bạn cũng đã biết rõ Y lý và Y học của chúng tôi về nguyên nhân CHÍNH gọi là TÁC NHÂN hay TÁC Ý dẫn đến mọi triệu chứng, bệnh lý của thân, tâm và não bộ chính là STRESS nghĩa là sự CĂNG THẲNG thân, tâm, não bộ (somatic, psychological, neuronal stress).
Và STRESS từ đâu xuất hiện?
Thủ phạm của mọi tật dịch dị bệnh khổ đau thân tâm, thần kinh, não bộ chính là tâm trạng BẤT NHƯ Ý nghĩa là KHÔNG NHƯ Ý MUỐN, KHÔNG NHƯ TÁC Ý
Khi STRESS có mặt:
1. thì Trục „STRESS“ với hai hệ „thần kinh giao cảm“ (parasympathetic) và „thần kinh đối giao cảm“ (sympathetic) – nối kết trực tiếp với hệ „thần kinh cảm xúc“ (emotional nervous system), chứ không phải ở bộ phận nào của não liên quan đến việc điều chỉnh tâm trạng theo như báo cáo trên (sic) – bị rối loạn, không ổn định, mất cân bằng… dẫn đến tình trạng rối loạn hệ MIỄN DỊCH, BẠCH CẦU „cổ điển“ và hệ G-Lympho „não bộ“ cùng tất cả các hệ sinh-hoá-vật lý khác của cơ thể.
Tình trạng này khiến cho thân tâm mất khả năng PHÒNG HỘ, suy yếu chức năng ĐỐI KHÁNG mọi xâm nhập của những vật thể lạ tiêu cực từ bên ngoài cũng như những ý nghĩ và tác ý tiêu cực bên trong của nội tâm.
2. Ngoài ra STRESS có liên quan mật thiết với „đồng tử“. Bởi trầm cảm hay những triệu chứng tâm lý, tâm thần hoặc thần kinh não bộ có liên quan đến STRESS, nên điều không có gì ngạc nhiên khi „kiểm tra chỉ số sự co giản của đồng tử“ có thể biết được mức độ của triệu chứng v.v…
Tuy nhiên, cách kiểm tra mức độ „co giản“ đồng tử để đánh giá theo kết luận 4 điểm của giáo sư tiến sĩ ưu tú của đại học UCLA cũng chỉ là việc loay hoay „vạch lá tìm sâu“ để „xịt thuốc ngừa sâu“ cũng chỉ là phần NGỌN, chứ vẫn chưa biết sâu „từ đâu đến“ nghĩa là GỐC của vấn đề.
Bởi GỐC của rối loạn trầm cảm hay những rối loạn tâm lý hay tâm thần khác KHÔNG PHẢI ở NÃO BỘ (hardware), nên phương pháp gọi là „Kích Thích Từ Trường Xuyên Sọ“ (transcranial magnetic stimulation) không giống chẳng khác việc gãi ngứa ngoài da, chứ vẫn chưa biết triệu chứng NGỨA có gốc từ đâu!
Kính mời các Bạn tìm hiểu tham khảo thêm về chủ đề STRESS theo Y lý „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ với link sau: PSYCHE 03 – Tư Liệu Tham Khảo – STRESS – CĂNG THẲNG
Nhưng dù sao chăng nữa… thì…
FAZIT
mọi kết quả của những nghiên cứu khoa học ngày càng XÁC NHẬN phương pháp KÍCH HOẠT NÃO BỘ (brain stimulation, BS) của TÂM-THỂ P.E.R.G.® có khả năng cải thiện triệu chứng trầm cảm.
Còn các phương pháp hiện hành hay đang còn thử nghiệm vẫn chưa có cách tìm ra chính xác TÁC NHÂN hay NGUYÊN NHÂN GỐC – những biểu hiện tâm lý bên ngoài như trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, sợ hãi v.v… chỉ là những SẢN PHẨM của tác nhân, cho nên họ chưa có phương pháp CHUYỂN HOÁ (transform) gốc.
Phương pháp độc đáo nhằm cải thiện hoàn toàn GỐC mọi triệu chứng hay bệnh tâm lý, tâm thần hoặc thần kinh của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® là sự kết hợp nhất quán của:
1. KÍCH HOẠT NÃO BỘ với bài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BS“ bằng „10 đầu ngón tay“ – chứ không dùng bất kỳ phương tiện y cụ nào cả, hà huống đến từ trường v.v…
2. CÀI ĐẶT LẬP TRÌNH „mPERG“ để thiết lập thần kinh (neuron) MỚI, vùng thần kinh não bộ (brain nervous areal) MỚI để CHUYỂN HOÁ (transform) TÁC NHÂN GỐC tiêu cực gây bệnh!
Ở điểm này, có thể nhận ra rõ ràng rằng: Tây y chỉ mới đạt được chưa trọn vẹn 1/3 trong nỗ lực tìm ra một liệu pháp thích hợp cho tâm lý, tâm thần hay thần kinh trị liệu!
Bởi GỐC của mọi tật dịch dị bệnh khổ đau của thân và tâm nằm trọn vẹn trong nguyên lý sau:
Bệnh nhân ĐANG LÀ
CÁI họ ĐÃ LÀ
Bệnh nhân SẼ LÀ
CÁI họ ĐANG LÀ…M
Ở đây, câu hỏi đặt ra là: CÁI họ đang làm ngay đang là là CÁI gì?
Xin thưa… đơn giản, dễ hiểu, dễ làm và dễ thành là bệnh nhân TỰ thao tác Kích Hoạt Não Bộ vớibài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BS“ cùng Cài Đặt Lập Trình „mPERG“ để Chuyển Hoá Tác Nhân Tiêu Cực gây bệnh đã được CHẨN tìm ra chính xác – mà không dùng bất kỳ loại dược phẩm, dược thảo hoặc thiết bị phương tiện y cụ gì khác cả!
Nhân đây, chúng tôi kính gửi đến các Bạn video ghi lại toàn bộ thao tác bài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BS“ và câu lập trình „mPERG“ ngắn để dễ thực tập cho sức khoẻ thân tâm của các Bạn trong thiên niên kỷ của dịch chồng dịch đang lan tràn khắp nơi bởi thiên tai, hoạn hoạ, giông bão, lũ lụct, động đất, sóng thần, hoả hoạn, chiến tranh, khủng bố v.v…
1. bài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BS“
2. câu lập trình „mPERG“ ngắn:
„Tôi HÀI LÒNG và CHẤP NHẬN
mọi sự việc NHƯ NÓ ĐANG LÀ, nên
luôn BìNH TỈNH trước mọi tình huống
NĂNG LƯỢNG SỐNG của tôi cao,
tôi TRÀN ĐẦY TÌNH THƯƠNG.
Tôi luôn THƯƠNG YÊU, CÁM ƠN,
SÁM HỐI, XIN LỖI muôn loài và vật,
xin HÃY THA THỨ cho tôi
cùng tất cả mọi người.“
Thương kính chúc mọi sinh linh tuần cuối tháng 10.2023 Ý NHƯ VẠN SỰ NHƯ NÓ ĐANG LÀ để được THÂN YÊN TÂM AN!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“
Chủ Nhật ngày 22.10.2023


Bình luận