A. ĐỊNH NGHĨA UNG THƯ:
Ung thư có nghĩa là các tế bào cơ thể „dị biến“ (naughty change). Bởi sự „dị biến“ này nên chúng phát triển không kiểm soát và luôn tìm cách phá hủy các mô khỏe mạnh. Các tế bào „dị biến“ này tiếp tục phân chia – và thường nhanh hơn nhiều so với các tế bào cơ thể khỏe mạnh. Điều này tạo ra một khối u (tumor) tiếp tục phát triển. Trong trường hợp này, các bác sĩ nói về một khối u mới (neoplasia) – tức là sự hình thành mô mới (new tissue formation) – hoặc là một khối u.
Khối u mới hoặc khối u có thể lành tính (benigne) hoặc ác tính (maligne) và các bác sĩ cũng đ1nh giá tương tự. Ác tính có nghĩa là mô (tissue) đang phát triển rất hung hản (very aggressive). Khối u ác tính tăng trưởng xâm nhập vào những cấu trúc cơ thể xung quanh và phá hủy chúng. Chỉ có khối u ác tính mới được gọi là ung thư (cancer).
Ở một số loại ung thư, không có khối u ác tính điển hình được hình thành từ các tế bào mô. Một ví dụ về điều này là ung thư máu gọi là bệnh bạch cầu (leukemia). Ở trường hợp này, các tế bào bị bệnh được tìm thấy trong máu.
B. TĂNG TRƯỞNG NHANH thường gây tử vong. NĂM LOẠI UNG THƯ nguy hiểm nhất và cách có thể giảm gần một nửa nguy cơ
Đối với hầu hết các loại ung thư, y học hiện nay có thể hứa hẹn tỷ lệ chữa lành cao hoặc ít nhất không có triệu chứng trong nhiều năm. Một số khối u kháng trị liệu (resistance to therapy) phát triển nhanh chóng và hung hãn hoặc chỉ xuất hiện khi không thể ngăn chặn được nữa. [1]
Đã có rất nhiều tin tốt về căn bệnh“ung thư” đáng sợ trong những năm gần đây, đặc biệt là khi nói đến cơ hội phục hồi và sống sót sau những loại ung thư phổ biến nhất. Nếu một khối u được phát hiện kịp thời, chín trong số mười phụ nữ bị ung thư vú và chín trong số mười nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt sẽ sống sót sau mốc 5 năm quan trọng. Tỷ lệ phục hồi đối với bệnh ung thư da cũng hơn 9 phần trăm.
Mọi thứ có vẻ không mấy tốt đẹp đối với các loại ung thư khác: Chúng kháng mọi phương pháp điều trị hoặc phát triển nhanh đến mức chúng chỉ được phát hiện khi gần như quá muộn.
Những loại ung thư hung hãn này khiến tỷ lệ sống sót của người bị ảnh hưởng rất kém. Tuy nhiên, có một tin lành rằng, các yếu tố nguy cơ có thể giảm ngay cả đối với những khối u này. Nhìn chung, các bác sĩ cho rằng khoảng một nửa số bệnh ung thư có thể được ngăn ngừa thông qua lối Sống Lành Mạnh [2]
I. UNG THƯ TUYẾN TỤY (pancreatic cancer) là khối u có tiên lượng xấu nhất. Tuyến tụy (pancreas) sản xuất hormone insulin để chuyển hóa đường trong máu. Nó cũng tạo ra dịch tiêu hóa. Nó có mô chuyên biệt riêng cho cả hai chức năng.
Hầu hết các khối u ác tính phát triển trong mô tạo ra dịch tiêu hóa.
1. Số người mắc bệnh: Theo dữ liệu khai báo ung thư từ Viện Robert Koch (RKI), khoảng 17.000 người ở Đức được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tụy trong năm 2014 (số liệu được công bố gần đây nhất). Cũng như nhiều người bệnh đã chết. Nam giới và phụ nữ bị ảnh hưởng thường xuyên như nhau. Độ tuổi khởi phát trung bình là trên 70 tuổi.
2. Tại sao ung thư lại hung hãn đến vậy: Sự thay đổi tế bào ác tính ở tuyến tụy không gây ra bất kỳ triệu chứng nào trong thời gian dài nên khối u chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn. Nếu được phát hiện sớm thì việc chữa trị là hoàn toàn có thể. Ngay khi không thể phẫu thuật cắt bỏ khối u nữa thì khả năng sống sót sẽ giảm đi.
3. Các yếu tố rủi ro có thể tránh được: Hút thuốc, kể cả hút thuốc thụ động, thừa cân và tiểu đường tuýp 2 là những yếu tố nguy cơ.
4. Tỷ lệ sống sót: Ung thư tuyến tụy có tỷ lệ sống sót thấp nhất trong tất cả các loại ung thư: theo RKI, chỉ có 9% bệnh nhân đạt được mốc 5 năm.
II. UNG THƯ GAN – khối u không đau: GAN là cơ quan có nhiệm vụ phân hủy chất độc trong cơ thể. Ung thư ở cơ quan giải độc thường phát triển từ bệnh xơ gan khi mô gan chuyển hóa thành mô liên kết (cirrhosis of the liver). Viêm gan mãn tính, chẳng hạn như viêm gan B hoặc viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, cũng là nguyên nhân gây ung thư.
1. Số người mắc bệnh: Trong 30 năm qua, số ca mắc mới đã tăng gấp đôi ở cả nam và nữ. Ở Đức hiện có khoảng 9.000 ca mắc bệnh mới mỗi năm (RKI 2014) và gần 8.000 ca tử vong. Đáng kể là có nhiều đàn ông bị ảnh hưởng hơn. Số RKI từ năm 2014 đối với các trường hợp mới: 6.370 nam so với 2.710 nữ.
2. Tại sao ung thư lại hung hãn đến vậy: Những dấu hiệu đầu tiên của ung thư gan chỉ xuất hiện ở giai đoạn bệnh tiến triển. Điều này làm hạn chế mọi sự điều trị. Hóa trị cổ điển với độc tố tế bào mạnh không phải là lựa chọn cho gan bị suy giảm chức năng mô. Phẫu thuật cũng chỉ có thể thực hiện được nếu còn đủ gan khỏe mạnh. Ba trong bốn trường hợp, ung thư gan không thể được phẫu thuật cắt bỏ tại thời điểm chẩn đoán.
Trong trường hợp ung thư gan, khối u thường tái phát sau khi điều trị thành công ban đầu.
3. Các yếu tố rủi ro có thể tránh được: Ở Đức, việc tiêu thụ rượu là nguyên nhân gây ra 15% chẩn đoán ung thư gan ở phụ nữ và 35% ở nam giới. Tiêu thụ nhiều thuốc cũng được coi là một yếu tố nguy cơ đối với cơ quan có nhiệm vụ phân hủy chất độc trong cơ thể.
4. Tỷ lệ sống sót trung bình sau 5 năm đối với bệnh ung thư gan là 12%.
III. UNG THƯ PHỔI – ngày càng gia tăng ở phụ nữ: Khối u ở phế quản hoặc mô phổi là một trong những loại ung thư phổ biến nhất. Khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và 20% phát triển thành ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC).
1. Số người mắc bệnh: Hàng năm, hơn 50.000 người ở Đức phát triển khối u phổi hoặc phế quản. Trong khi số lượng bệnh ở phụ nữ tăng đều đặn trong những năm gần đây thì tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới lại giảm. Theo RKI, năm 2014 có 34.560 nam và 19.280 nữ. 29.560 nam giới và 15.524 phụ nữ chết trong cùng một năm.
2. Tại sao ung thư lại hung hãn đến vậy: Nhìn chung, ung thư phổi ban đầu không gây ra bất kỳ triệu chứng cụ thể nào. Do đó, nó chỉ được phát hiện muộn, từ đó dẫn đến cơ hội phục hồi thấp. Các khối u phổi được phát hiện muộn thường tái phát trong hai hoặc ba năm tiếp theo sau khi điều trị ban đầu thành công.
Điều này đặc biệt bi thảm với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC), loại bệnh phát triển và lây lan nhanh chóng. Phần lớn bệnh nhân chỉ được chẩn đoán ở giai đoạn thứ tư của bệnh, khi đã có di căn. Phẫu thuật hiếm khi được cân nhắc, chỉ áp dụng cho những khối u rất nhỏ và khu trú ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, ung thư chỉ được phát hiện sớm ở 5% số người bị ảnh hưởng.
3. Các yếu tố rủi ro có thể tránh được: Hút thuốc nhưng cũng tiếp xúc nhiều với khí thải, bụi mịn và khói bụi thúc đẩy sự phát triển của ung thư phổi.
4. Tỷ lệ sống sót: Trong số các bệnh ung thư phổ biến, ung thư phổi có tiên lượng xấu nhất. Sau 5 năm, chỉ có 15% bệnh nhân nam và 20% bệnh nhân nữ còn sống.
IV. KHỐI U NÃO – đặc biệt nguy hiểm: Ung thư não rất hiếm. Nó chiếm ít hơn hai phần trăm của tất cả các khối u ác tính. Có một số loại phụ với tỷ lệ chữa lành rất khác nhau. Ví dụ, trẻ em bị ảnh hưởng tương đối thường xuyên sẽ có khối u khác với người lớn. Tỷ lệ chữa lành đạt hơn 90 phần trăm. Ở người lớn, khối u não phổ biến nhất là u nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastoma) ác tính nhất.
1. Số người mắc bệnh: Năm 2014, Viện Robert Koch đã ghi nhận khoảng 6.700 trường hợp u não mới ở Đức, trong đó có 230 trường hợp là trẻ em. 5.770 người chết vì căn bệnh này vào năm 2015. Khoảng 2.500 người trên khắp nước Đức được chẩn đoán mắc bệnh u nguyên bào thần kinh đệm – một khối u não cực kỳ nguy hiểm và là một trong những bệnh ung thư nguy hiểm nhất ở người lớn – mỗi năm. Nam giới có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn nữ giới. Độ tuổi trung bình khởi phát bệnh là vào giữa những năm 60.
2. Tại sao ung thư lại hung hãn đến vậy: U nguyên bào thần kinh đệm phát triển cực kỳ nhanh chóng; trung bình, khối u này tăng gấp đôi kích thước sau mỗi 50 ngày. Nó phát triển nhanh đến mức ngay cả các mạch máu cũng không thể theo kịp việc vận chuyển máu vào bên trong: Lõi của u nguyên bào thần kinh đệm chết đi, nhưng ung thư vẫn tiếp tục phát triển.
3. Các yếu tố rủi ro có thể tránh được: Các yếu tố lối sống không ảnh hưởng đến khối u não.
4. Tỷ lệ sống sót: Tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với tất cả các khối u não chỉ là hơn 20%, mặc dù u nguyên bào thần kinh đệm có tiên lượng xấu hơn đáng kể vào khoảng 5%. Thời gian sống sót trung bình kể từ thời điểm chẩn đoán là 15 tháng.
V. UNG THƯ MÁU – thể cấp tính nguy hiểm hơn thể mãn tính: Trong bệnh bạch cầu, các tế bào máu chưa trưởng thành nhân lên không kiểm soát được. Nếu có nhiều, chúng sẽ lấn át các tế bào máu khỏe mạnh. Có sự phân biệt giữa bệnh bạch cầu cấp tính và mãn tính.
Bệnh bạch cầu cấp tính là những căn bệnh nghiêm trọng, đột ngột, nếu không được điều trị sẽ dẫn đến tử vong trong vòng vài tuần, trong khi bệnh bạch cầu mãn tính có diễn biến bệnh chậm hơn, ngấm ngầm hơn.
1. Số người mắc bệnh: Khoảng 13.700 người mắc bệnh bạch cầu ở Đức trong năm 2014. Khoảng 40% trong số họ được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu lympho mãn tính (CLL) và 21% mắc bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML). Bệnh bạch cầu lymphocytic cấp tính (ALL) chỉ ảnh hưởng đến 7% số người bị ảnh hưởng.
Nguy cơ mắc bệnh bạch cầu rất cao ở thời thơ ấu, giảm dần khi tuổi càng cao và tăng trở lại từ tuổi 30. Đàn ông bị ảnh hưởng thường xuyên hơn một chút so với phụ nữ.
2. Tại sao ung thư lại hung hãn đến vậy: Các triệu chứng không đặc hiệu và cũng có thể là một bệnh nhiễm trùng vô hại. Đồng thời, các tế bào máu bị bệnh tràn ngập cơ thể. Ngoài ra, nguy cơ tái phát cao với loại ung thư này. [3] (stress)
3. Các yếu tố rủi ro có thể tránh được: Lối sống không ảnh hưởng đến bệnh bạch cầu. Tia X hoặc tia phóng xạ có thể thúc đẩy sự hình thành. [4]
4. Tỷ lệ sống sót: Những người bị ảnh hưởng được chẩn đoán khi còn nhỏ sống lâu nhất; trong khi ở người lớn, các dạng cấp tính vẫn có tiên lượng khá xấu. Xác suất sống sót sau 5 năm ở thời thơ ấu là khoảng 92% (ALL) và 74% (AML), nhưng giảm đáng kể khi tuổi chẩn đoán ngày càng tăng. Đối với AML là 23%.
C. 10 QUY TẮC CHỐNG UNG THƯ của Bộ luật Ung thư Châu Âu . Các chuyên gia từ Viện Nghiên cứu Ung thư Đức (DKFZ) ước tính có tới 50% tổng số trường hợp ung thư là DO LỐI SỐNG KHÔNG LÀNH MẠNH. Do đó, các chuyên gia về ung thư đã tạo ra “Bộ luật Ung thư Châu Âu” với 10 quy tắc chống ung thư. Điều này làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư khoảng 40%. [5]
1. Đừng hút thuốc . Khói thuốc lá là yếu tố nguy cơ số 1 và là nguyên nhân gây ra 19% tổng số ca ung thư mới trong năm 2018. Vô số chất gây ung thư không chỉ làm tăng nguy cơ ung thư phổi mà còn cả các khối u ở tuyến tụy, bàng quang, thận, miệng và họng, dạ dày hoặc thực quản.
2. Tránh thừa cân . Yếu tố nguy cơ thừa cân cũng gần như nghiêm trọng. Các chuyên gia của DKFZ cho rằng điều đó đã chứng minh rằng tỷ lệ mỡ trong cơ thể tăng lên sẽ làm tăng nguy cơ mắc ít nhất 11 loại ung thư. Đây chủ yếu là ung thư vú và ruột.
3. Tập thể dục hàng ngày . Nhìn chung, các nhà khoa học ước tính rằng việc thiếu tập thể dục đã gây ra 6% số ca ung thư mới ở Đức trong năm 2018. Bộ quy tắc khuyến nghị ít nhất 150 phút tập thể dục vừa phải hoặc 75 phút hoạt động thể chất mạnh mẽ.
4. Ăn trái cây và rau quả tươi . Các nhà khoa học ước tính rằng khoảng 8% tổng số ca ung thư mới ở Đức trong năm 2018 có thể bắt nguồn từ THÓI QUEN ĂN UỐNG KHÔNG LÀNH MẠNH. Bất cứ ai ăn một chế độ ăn uống đa dạng và tươi ngon chủ yếu sẽ giảm nguy cơ ung thư biểu mô ở thực quản, dạ dày, ruột và tuyến tụy.
[Nguồn: Focus.online, ngày 06.04.2024. Hình: Getty Images/iStockphoto . Tế bào ung thư bám vào mô khỏe mạnh bằng mạch máu.]
Phụ chú: Viện ROBERT KOCH . Viện Robert Koch (RKI) là một viện liên bang thuộc phạm vi của Bộ Y tế Liên bang.
* RKI là cơ quan trung ương của chính phủ liên bang trong lĩnh vực giám sát và phòng ngừa dịch bệnh và do đó cũng là cơ quan trung ương của chính phủ liên bang trong lĩnh vực nghiên cứu y sinh học theo định hướng ứng dụng và biện pháp.
* Nhiệm vụ cốt lõi của RKI là phát hiện, phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Các nhiệm vụ bao gồm nhiệm vụ pháp lý chung để phát triển các kết quả khoa học làm cơ sở cho các quyết định chính sách y tế.
* Nhiệm vụ chính là khảo sát khoa học, phân tích dịch tễ học và y tế cũng như đánh giá các bệnh cực kỳ nguy hiểm, phổ biến rộng rãi hoặc có tầm quan trọng cao đối với chính sách y tế hoặc công cộng.
* RKI tư vấn cho các bộ liên bang có trách nhiệm, đặc biệt là Bộ Y tế Liên bang (BMG), và tham gia vào việc phát triển các quy chuẩn và tiêu chuẩn.
* RKI cung cấp thông tin và tư vấn cộng đồng cũng như ngày càng rộng rãi hơn đến công chúng.
* Liên quan đến việc xác định các mối nguy hiểm và rủi ro đối với sức khỏe, RKI thực hiện “chức năng ăng-ten” trung tâm theo nghĩa hệ thống cảnh báo sớm.
(trích dịch từ trang http://www.rki.de).
. . . . .
CẢM NHẬN
Kính thưa các Bạn,
chủ đề ung thư với diễn tiến phát triển của tế bào ung thư hay khối u ở nhiều bệnh chứng ung thư cũng như cách can thiệp và kết quả một số bệnh ung thư như ung thư máu (bạch cầu), đại tràng, tủy sống… theo y pháp Năng Lượng TÂM – THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® đã từng được chúng tôi chia sẻ qua các báo cáo lâm sàng hơn một thập niên qua thiết nghĩ rằng cũng đủ để nói lên hiệu dụng của phương pháp trị liệu „độc nhất“ trên hành tinh này do chúng tôi phát minh – được Cơ quan Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức cứu xét nội dung Y lý – Y học và Y thuật của phương pháp, thương hiệu cùng logo và cuối cùng được công nhân ngày 11.06.2012.
Chúng tôi mạn phép ghi lại những links các bài chia sẻ liên quan đến chủ đề UNG THƯ và phương pháp DINH DƯỠNG lẫn PHÒNG CHỐNG thực tiễn để hỗ trợ việc chữa lành và phòng ngừa, điều mà cái gọi là „10 QUY TẮC CHỐNG UNG THƯ của Bộ luật Ung thư Châu Âu“ nêu ra, theo chúng tôi vẫn còn thiếu một yếu tố cực kỳ quan trọng TÁC ĐỘNG cho việc thực hiện 10 quy tắc này.
Điều này, các Bạn theo dõi các bài chia sẻ sau đây sẽ rõ biết ạ!
- TÂM Ý THỨC Kích Tác, Tương Tác Tích Cực cho sự Tăng Trưởng Phát Triển KHỐI U, UNG THƯ!
- MEDI News 01/08März2023 . HỆ THẦN KINH KÍCH TÁC và TƯƠNG TÁC KHỐI U và UNG THƯ
- TÁM (08) Clip về quá trình trẻ “UNG THƯ TỦY SỐNG” được cải thiện với Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
- NIỀM VUI CUỐI TUẦN cách đây sáu năm . UNG THƯ HẠCH Nonhopkin Lymphoa . Kết quả tuyệt vời với bài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BS“
- MỘT NGƯỜI ĐỨC UNG THƯ BẠCH HUYẾT KÈM NHIỀU HỘI CHỨNG PHỤ, CHỮA LÀNH BẰNG Y PHÁP TÂM-THỂ P.E.R.G.®
- SỨC KHOẺ là TÀI SẢN QÚY NHẤT Của Đời Người! Cách Dưỡng Thân và Tâm theo Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®
Chỉ có một điều xin cần nhắc lại ở đây rằng: UNG THƯ cũng chỉ là một PHÁP gây ra từ cách sống, làm việc, ăn uống, nghỉ ngơi, thể dục… nói chung là sự DINH DƯỠNG của THÂN và TÂM. Câu hỏi đặt ra ở đây là: CÁI GÌ làm cơ sở tác động thúc đẩy cách sống và dinh dưỡng như thế để dẫn đến bệnh ung thư?
Những kết quả tuyệt vời của các ca lâm sàng UNG THƯ được Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® đã cho thấy rằng:
1. UNG THƯ chỉ là một tên gọi chung liên quan đến sự thành hình và phát triển của KHỐI U lành hay ác tính từ sự „dị biến“ của tế bào;
2. Nhưng CĂN NGUYÊN dẫn đến nan chứng ung thư Ở MỖI NGƯỜI KHÁC NHAU!
Cho nên việc CHẨN tìm CĂN NGUYÊN, chúng tôi gọi là TÁC NHÂN – không phải nguyên nhân (!) – sinh ra mọi chứng tật dịch dị bệnh khổ tâm đau thân kể cả mọi nan chứng gọi là ung thư hay khối u để hỗ trợ việc điều trị bất kể phương pháp nào đều mang tính cách „BẮT BUỘC“. Bởi việc làm này mới có thể gọi là CHỮA GỐC; ngoài ra thì tất cả chỉ là chữa ngọn!
Mặt khác, một yếu tố khác cực kỳ quan trọng tạo cơ hội cho mọi tật bệnh kể cả ung thư là STRESS – sự CĂNG THẲNG của thân „lẫn“ tâm! Stress không những góp phần cho việc hình thành tính „dị biến“ của tế bào dẫn đến căn bệnh theo chủ đề ở đây là ung thư, khối u cũng như sự tái phát bệnh chứng sau một thời gian ngắn hay lâu cho dù đã được can thiệp chữa trị
Điều chúng tôi gợi ý được chứng minh qua nhiều trường hợp người „được“ chẩn đoán „ung thư“. Những người này từ khước mọi phương pháp điều trị hiện hành cũng như thuốc men. Sau đó, họ đã CHUYỂN HÓA toàn bộ CÁCH SỐNG và DINH DƯỠNG cho THÂN cùng TÂM! Thế mà họ sống thêm vài thập niên và nan chứng „ung thư“ này không còn cơ hội phát triển hủy diệt mạng sống của họ!
Sự sống sót của họ là xác minh thuyết phục đối với Y lý, Y học và Y thuật Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trong việc can thiệp chứng bệnh nan y „ung thư“ này bằng phương pháp như sau:
1. CHẨN tìm Tác Nhân (căn nguyên);
2. THAO TÁC bài Ý Công Tâm Pháp PERG-BS để „Kích Hoạt Não Bộ (brain-stimulation, BS) cùng Cái Đât Lập Trình „mPERG“ Chuyển Hóa Tác Nhân – tích cực cũng như tiêu cực – Gây Bệnh“
3. CHUYỂN HÓA cách DINH DƯỠNG và lối SỐNG bằng phương thức „5B-PERG“ gồm:
3.1. BIẾT sống chậm lại;
3.2. BIẾT đủ;
3.3. BIẾT không vật dưỡng;
3.4. BIẾT không dùng chất say như bia rượu, xì-ke ma-túy…;
3.5. BIẾT chuyển hóa, ổn định, cân bằng, phục hồi mọi chức năng của Thân và Tâm với bài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BS“ để Phòng Kháng Và Chữa Lành Mọi Tật Bệnh Và Lây Nhiễm Khuẩn – hướng dẫn thao tác theo link video:
và cân bằng, ổn định, chuyển hóa hệ thần kinh căng thẳng (stress), hệ miễn dịch (immun) và bạch cầu (lympho) cổ điển cùng não bộ vời bài Ý Công Tâm Pháp „PERG-BSplus“ của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® với Video:
Theo Y lý của y pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.®, mọi nan chứng bệnh kể cả ung thư cũng chỉ là một PHÁP như những pháp HỮU vi (sắc, thân, rupa, material) cân đong đo đếm xờ mó, thấy, nghe, ngửi, nếm v.v… cùng VÔ vi (tâm, nama, im-material) cân đong đo đếm xờ mó, thấy, nghe, ngửi, nếm v.v… khác, nên nó vẫn có thể được chữa lành. Đơn giản dễ hiểu bởi:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
chỉ NHÂN QUẢ CÓ THẬT
vận hành TỪNG SÁT-NA
vì đặc tính „nhân duyên sinh“ hay còn gọi tắt là „nhân quả“ nghĩa là „vô thường“ của PHÁP nên mỗi chúng sanh đều có thẩm quyền và khả năng CHUYỂN HÓA nó, theo quy trình giáo lý cốt lõi của Phật đà là TỨ DIỆU ĐẾ được trình bày ngắn gọn đơn giản dễ hiểu dễ làm dễ có kết quá làm nền tảng Y Lý – Y Học và Y Thuật cho Năng Lượng TÂM – THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® như sau
Chúng sanh ĐANG là (khổ, bệnh = nghiệp quả)
CÁI TÁC Ý của họ ĐÃ là (tập, làm = nghiệp nhân)
Chúng sanh SẼ là (lạc, khỏe mạnh = nghiệp quả)
CÁI TÁC Ý của họ ĐANG là…m! (tập, làm = nghiệp nhân)
Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bố Tát Ma Ha Tát
Thương kính chúc muôn loài Sức Khỏe Bình Thường, luôn An Lành với „Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC được ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ SÁU ngày 12.04.2024
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liêu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover: www.hannover-wendepunkt.de/team/
Ghi chú: Kính mong các Bạn lưu ý cho lúc liên lạc qua internet hay điện thoại – Kể từ Chủ Nhật ngày 31.03.2024, châu Âu kể cả Đức đã đổi giờ mùa HÈ: 2 sáng ngày thứ HAI lên thành 3 giờ. Nghĩa là, giờ Việt Nam sẽ đi TRƯỚC giờ Đức hay châu Âu 5 tiếng. Ví dụ, Việt Nam là 3h CHIỀU thì Đức và châu Âu là 10h SÁNG


Bình luận