
PSYCHE 04/16Juli2023
LÝ THUYẾT VỀ BỆNH – NHÂN CÁCH (personality) có thể gây bệnh không? Và khả năng chữa trị hiện nay ra sao?
Người thì ôm hết cơn giận cất giữ trong lòng. Còn người nọ thì nổ tung lên chỉ vì một sự khó chịu nhỏ nhất. Như vậy nững đặc điểm này có liên quan gì đến việc một người sẽ bị UNG THƯ hay ĐỘT QUỴ TIM không?
„NỖI CAY ĐẮNG“ là một tiểu sử, được phát hành năm 1977 bởi nhà xuất bản Kindler có trụ sở tại Munich, thật khó có thể hiểu được. Tác giả, người tự đặt tên cho mình là „Fritz Zorn“ – Zorn tiếng Việt có nghĩa là TỨC GIẬN; tác giả tự đặt tên cho mình là „Fritz TỨC GIẬN“, đã tính toán với gia đình anh ta một cách không thương tiếc.
Một KHỐI U ÁC TÍNH sau đó đã được lấy ra khỏi CỔ anh ấy. Fritz Zorn nhận thấy nguyên nhân của sự phát triển trong quá trình lớn lên của mình: Anh lớn lên trong một gia đình công nghiệp ở Thụy Sĩ và giàu có, trong bầu không khí mà anh mô tả trong cuốn sách của mình là “HÀI HÒA MỘT CÁCH CẤM ĐOÁN” (prohibitively harmonious)
Sự KHÁC BIỆT VỀ QUAN ĐIỂM đã KHÔNG ĐƯỢC TÁN THÀNH; TRÁNH CÁC CHỦ ĐỀ GÂY TRANH CÃI. Điều quan trọng nhất là KHÔNG ĐƯỢC XÚC PHẠM, lúc nào cũng phải tỏ ra LỊCH SỰ, phải luôn thể hiện nét THÂN THIỆN trên khuôn mặt. Ở chỗ khác, anh viết rằng: Anh đã “được NUÔI DƯỠNG để TRỞ THÀNH một CON CUA.”
Đáng tiếc, anh Zorn không còn sống để chứng kiến việc xuất bản bản thảo của mình. Anh qua đời ngay trước đó, ở tuổi 32, vì bệnh tật. Trong những năm 1980, những ghi chú của anh với tựa đề »Mars« đã trở thành một cuốn sách đình đám không chỉ ở Thụy Sĩ. “Trong đó, anh bày tỏ một ý tưởng đang trở nên rất phổ biến vào thời điểm đó: Ý tưởng cho rằng những XUNG ĐỘT KHÔNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT HOẶC CẢM XÚC BỊ KÌM NÉN có thể dẫn đến UNG THƯ“, nữ sử học y khoa tại Magdeburg, cô Bettina Wärmer đã giải thích.
“Chẳng hạn, anh ấy viết rằng: KHỐI U Ở CỔ của anh là KẾT QUẢ của tất cả NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT mà anh đã TỪNG NUỐT XUỐNG thay vì KHÓC.”
Trong thời điểm đó, các nhà khoa học đã đưa ra luận điểm rằng: Những ĐẶC ĐIỂM CÁ TÍNH (personality traits) nào đó hoàn toàn có khả năng làm TĂNG NGUY CƠ UNG THƯ. Ví dụ, quan niệm này được đại diện bởi nữ tâm lý học người Mỹ, cô Lydia Temoshok và đồng nghiệp của cô ấy là ông Bruce Heller. Đầu những năm 1980, cả hai đã phổ biến khái niệm CÁ TÍNH „Typ C” – chữ “C” là viết tắt của cụm từ “DỄ BỊ UNG THƯ” (cancer prone), tức là dễ mắc bệnh ung thư. Bằng cách này, họ hiểu những người PHỤC TÙNG SỰ ĐỘC QUYỀN (autority) và ĐÈ NÉN những CẢM XÚC TIÊU CỰC như TỨC GIẬN. Các đặc điểm khác còn bị nghi ngờ góp phần vào sự phát triển của các BỆNH TIM MẠCH hoặc RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA như bệnh tiểu đường.
Nhưng còn về phần LÝ THUYẾT thì sao?
I. Phải chăng có một thứ gọi là CÁ TÍNH UNG THƯ (cancer personality)?
Quan niệm cho rằng: Các bệnh KHỐI U CÓ GỐC RỄ TỪ TÂM LÝ đã có thể được tìm thấy ở Galen of Pergamum. Vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, một bác sĩ nổi tiếng người Hy Lạp đã phát triển thêm thuyết “BỐN THỂ DỊCH“, được sử dụng vào thời điểm đó để giải thích nguồn gốc của bệnh tật.
Ông cho rằng sự dư thừa “MẬT ĐEN” (black bile) một mặt dẫn đến U SẦU và mặt khác có thể gây UNG THƯ. Cô Bettina Wärmer từ Đại học Magdeburg giải thích: “Điều này tạo ra mối liên hệ giữa TÂM THÁI là U SẦU và UNG THƯ”. Ý tưởng này còn vang động đến cận đại. Ví dụ, vào thế kỷ 18, người ta vẫn cho rằng những SỰ KIỆN ĐÁNG BUỒN TRONG CUỘC SỐNG như cái chết của cha mẹ có thể gây ra các bệnh khối u.
Vào giữa thế kỷ 19, nhà nghiên cứu bệnh học tại Berlin, ông Rudolf Virchow, đã nhận ra rằng: Sự TĂNG TRƯỞNG này là DO CHỨC NĂNG SAI LẦM CỦA TẾ BÀO.
Nữ sử học gia, bà Hitzer, người đã đề cập đến chủ đề này trong luận án về sự hồi phục của mình và nói rằng: “Suy nghĩ rằng cảm xúc có thể chịu trách nhiệm một phần cho điều này hầu như không đóng vai trò gì trong những thập kỷ sau đó“. Điều đó đã thay đổi vào đầu thế kỷ 20 với ảnh hưởng ngày càng tăng của TÂM-THỂ học (psychosomatic). Đồng thời, điều này cũng có ý tưởng phổ biến cho rằng: UNG THƯ là một LOẠI THÔNG ĐIỆP MANG TÍNH BIỂU TƯỢNG NGẦM HIỂU – một ý niệm xuất hiện khi TỨC GIẬN.
Cho nên, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã kết luận từ những nghiên cứu khoa học ban đầu vào những năm 1950 rằng LÃNH CẢM (rigidity) hoặc XUNG ĐỘT BẢN SẮC TÌNH DỤC (sexual identity conflicts) có thể dẫn đến UNG THƯ CỔ TỬ CUNG ở phụ nữ. “Tuy nhiên, những nghiên cứu này sớm bị chỉ trích do thiếu sót về mặt phương pháp luận”, theo tường thuật của cô Hitzer.
Nghiên cứu ngày nay loại bỏ những diễn giải như vậy và ném nó vào lĩnh vực thần thoại. Luận điểm về CÁ TÍNH „TYP-C“ hoặc UNG THƯ DO CÁ TÍNH cũng không đứng vững trước sự xem xét kỹ lưỡng của khoa học. Ví dụ, nữ tâm lý học người Hà Lan, cô Eveline Bleiker và các đồng nghiệp đã ghi lại nhiều đặc điểm của gần 10.000 phụ nữ khỏe mạnh ngay trước khi bước sang thiên niên kỷ. 13 năm sau, 217 người trong số họ bị ung thư vú. Điều thú vị ở đây là không có đặc điểm tính cách nào được hỏi về họ – chẳng hạn như tức giận, lạc quan, kiểm soát cảm xúc – khác biệt so với những người tham gia vẫn khỏe mạnh.
Các nghiên cứu dài hạn như vậy cũng được gọi là NGHIÊN CỨU TRIỂN VỌNG – nghĩa là nghiên cứu cho những điều sẽ xảy ra – Các bài trắc nghiệm tâm lý được thực hiện khi bắt đầu nghiên cứu, tức là trước khi bệnh khởi phát. Mặt khác, trong các khảo sát hồi cứu, bệnh nhân được hỏi về THÁI ĐỘ và HÀNH VI của họ trước khi chẩn đoán. Điều này có thể dẫn đến sự sai lệch, bởi vì những người mắc bệnh ung thư đang tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “TẠI SAO LẠI LÀ TÔI?”. Điều này cũng làm thay đổi quan điểm về cuộc sống trước đây thường được xem như một sự biện minh. Và điều đó có thể giải thích tại sao một số nghiên cứu ban đầu đã tìm thấy bằng chứng về UNG THƯ do CÁ TÍNH. Bà Hitzer nói: “THEO NHỮNG GÌ TÔI BIẾT, KHÔNG CÒN AI TRONG SỐ CÁC BÁC SĨ CHUYÊN KHOA UNG THƯ ỦNG HỘ KHÁI NIỆM NÀY“.
Một số người vẫn bám lấy nó. Họ coi ý tưởng này như một cơ hội để thay đổi cuộc sống của mình và bằng cách này, họ thành công trong việc tìm một ý nghĩa cho căn bệnh của mình. Đây cũng là trường hợp của Fritz Zorn, tên thật là Fritz Angst – Angst tiếng đức là SỢ HÃI (fear) không tiểu thuyết gia nào có thể nghĩ ra một ý tưởng phù hợp hơn, vì nỗi SỢ BỊ XÚC PHẠM là đặc điểm trong ba thập kỷ đầu tiên của cuộc đời ông. “Mối đe dọa của cái chết khiến tôi nghĩ rằng nếu cuối cùng tôi thoát chết, có lẽ cuối cùng tôi sẽ có cơ hội hồi sinh thực sự, cụ thể là một sự hồi sinh cho một cuộc sống mới,” ông viết trong tiểu sử.
II. Bất kỳ ai mắc bệnh ung thư đều TỰ tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: TẠI SAO LẠI LÀ TÔI?
Những người khác cảm thấy đáng sợ khi nghĩ đến việc họ bị đổ lỗi là người gây ra căn bệng của họ. Chẳng hạn, nữ văn sĩ Mỹ, cô Susan Sontag, người được chẩn đoán mắc bệnh UNG THƯ VÚ ở tuổi 42. “CÁC LÝ THUYẾT TÂM LÝ VỀ BỆNH TẬT LÀ NHỮNG CÔNG CỤ MẠNH MẼ ĐỂ ĐẨY SỰ XẤU HỔ CHO NGƯỜI BỆNH”, cô viết trong bài tiểu luận “BỆNH TẬT như PHÉP ẨN DỤ (disease as a metapho)” năm 1977. “Những bệnh nhân được dạy rằng: HỌ VÔ TÌNH GÂY RA CĂN BỆNH CỦA HỌ CŨNG CẢM THẤY RẰNG HỌ XỨNG ĐÁNG VỚI ĐIỀU ĐÓ.”
Mọi LÝ THUYẾT BỆNH DO TÂM LÝ cũng có thể bao gồm luận điểm rằng: Tình trạng CĂNG THẲNG (stress) cũng có thể gây ra các BỆNH VỀ KHỐI U. Theo đó, những người đặc biệt có nguy cơ mắc bệnh ung thư, do ĐẶC ĐIỂM CÁ TÍNH hoặc CƠ CHẾ QUẢN LÝ CĂNG THẲNG PHẢN TÁC DỤNG, không thể đối phó tốt với mọi thách thức.
III. Làm thế nào sự CĂNG THẲNG (stress) làm suy yếu HỆ MIỄN DỊCH (immun system)
Trước hết, giả định này nghe có vẻ khá hợp lý:
1. Khi có sự CĂNG THẲNG (stress) xảy ra, CORTISOL được tiết ra ở THƯỢNG THẬN (adrenal cortex). Phân tử này có thể gắn vào bề mặt của các tế bào miễn dịch và như vậy có khả năng ĐIỀU CHỈNH hoạt động của HỆ MIỄN DỊCH.
2. Nhưng khi tình trạng CĂNG THẲNG MÃN TÍNH lâu dài sẽ dẫn đến cái gọi là KHÁNG CORTISOL (cortisol resistenz): NỘI TIẾT TỐ (hormone) này mất tác dụng kiểm soát hệ miễn dịch, sau đó mất hiệu ứng.
3. Kết quả là, lực lượng phòng thủ của cơ thể có thể không còn khả năng kiểm soát đầy đủ các TẾ BÀO THOÁI HÓA.
Trên thực tế, các nghiên cứu trên chuột cho thấy sự CĂNG THẲNG MÃN TÍNH làm SUY YẾU PHẢN ỨNG MIỄN DỊCH CHỐNG LẠI KHỐI U. Sự tăng sinh tế bào của loài gặm nhấm bị căng thẳng phát triển nhanh hơn và HÌNH THÀNH DI CĂN (metastase) dễ dàng hơn.
Sự liên quan nào của các kết quả như vậy đối với con người lvẫn chưa rõ ràng. Một nghiên cứu của Phần Lan với dữ liệu từ khoảng 116.000 người châu Âu không tìm thấy mối liên hệ nào giữa căng thẳng trong công việc và các loại ung thư.
Mặt khác, một nhóm làm việc từ Trung Quốc đã đưa ra kết luận ngược lại khi đánh giá các nghiên cứu liên quan đến tổng số gần 300.000 người. Các kết quả cũng không rõ ràng đối với các sự kiện gây chấn thương như cái chết của người thân hoặc sự chia ly với bạn đời.
Một trong những phân tích toàn diện nhất về mối liên hệ giữa CĂNG THẲNG và UNG THƯ bắt đầu từ năm 2008. Yoichi Chida, nhà tâm lý học tại Đại học College London, đã đánh giá dữ liệu của hơn 500 nghiên cứu đã được công bố. Gần một phần tư trong số này cho thấy rằng: Những người gặp NHIỀU CĂNG THẲNG TRONG CUỘC SỐNG có NHIỀU KHẢ NĂNG MẮC UNG THƯ hơn.
IV. TYP-A: CÁ TÍNH liên quan đến TIM?
Khoa học ngày nay cũng có quan điểm phê phán tương tự về mối liên hệ được cho là giữa cái gọi là CÁ TÍNH „Typ-A“ và các BỆNH TIM MẠCH. Nhà tâm lý học tim mạch, ông Karl-Heinz Ladwig thuộc bệnh viện bên phải dòng Isar ở München, Nam Đức giải thích: “Những người TYP-A rất HIẾU ĐỘNG (hyperaktiv), THAM VỌNG (ambitious) và MUỐN NHANH ĐẠT tốc độ 180”. “Ngoài ra, họ phải LUÔN CHỊU ÁP LỰC VỀ THỜI GIAN nên họ THIẾU KIÊN NHẪN (impatient), KHÔNG ĐỂ NGƯỜI KHÁC NÓI HẾT, ĂN ĐỨNG và LUÔN CÓ CÁI HẸN TIẾP THEO TRONG ĐẦU. Vì vậy, họ chính xác là týp người, theo quan điểm của một người bình thường, chắc chắn một ngày nào đó họ sẽ bị ĐỘT QUỴ TIM“. Nhưng điều đó dường như không đúng, dựa trên mọi thứ chúng ta biết ngày nay.
Khái niệm “CÁ TÍNH Typ-A“ bắt nguồn từ các bác sĩ tim mạch Hoa Kỳ, các ông Ray Rosenman và Meyer Friedman; sau đó họ có xu hướng sử dụng khái niệm “MẪU HÀNH VI Typ-A“. Theo một giai thoại, ông Rosenman đã từng thuê một người thợ bọc ghế để sửa những chiếc ghế trong phòng chờ của mình. “Người đàn ông đã xem những cái ghế và hỏi: Ông có loại bệnh nhân thật kỳ lạ? Các ghế chỉ có mép trước bị trầy xước», theo ông Ladwig. „Rõ ràng những người chờ đợi đã rất bồn chồn đến nỗi họ chỉ ngồi trên mép ghế và liên tục đứng lên ngồi xuống. Quan sát này đã khiến ông Rosenman suy nghĩ về loại người mà anh ta đang đối phó.“
Các ông Friedman và Rosenman bắt đầu một nghiên cứu dài hạn vào năm 1960 để khám phá những ảnh hưởng của CÁ TÍNH Typ-A. Khoảng 3500 người đàn ông khỏe mạnh đã tham gia. Trong quá trình kiểm tra ban đầu, họ được hỏi, trong số những thứ khác, về những CÁ BIỆT và HÀNH VI đặc trưng của họ. Năm 1965, 133 người trong số họ đã mắc bệnh TIM MẠCH VÀNH (CHD), tức là động mạch vành cung cấp máu cho cơ rỗng bị hẹp. Những người tham gia thuộc Typ-A bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn: Họ có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao hơn gấp đôi, ngay cả khi các nhà nghiên cứu đã tính đến những yếu tố ảnh hưởng như hút thuốc, béo phì, huyết áp cao hoặc mức cholesterol. Các nghiên cứu khác ban đầu xác nhận có mối liên hệ này.
Tuy nhiên, trong những năm 1990, những nghi ngờ về kết quả đã tăng lên. Ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy THAM VỌNG LỚN đi đôi với ÁP LỰC THỜI GIAN KHÔNG PHẢI là yếu tố dự báo bệnh tim sau này. Tốt nhất, điều này dường như áp dụng cho một thành phần của HÀNH VI Typ-A: “SÚNG NGẮN” – tức là xu hướng quá PHẤN KHÍCH chỉ vì một điều NHỎ NHẶT và THÙ ĐỊCH đối với ĐỒNG LOẠI của mình. Tuy nhiên, mối tương quan ở đây là rất nhỏ.
Một công bố của các nhà khoa học Anh vào năm 2012 cũng gây ra sự ngờ vực đáng kể đối với các kết quả ban đầu: Họ đã chứng minh rằng nhiều nghiên cứu tích cực đã được tài trợ bởi ngành công nghiệp thuốc lá, đặc biệt là Philip Morris. Hút thuốc đã bị nghi ngờ gây ra các bệnh tim mạch vào những năm 1960. Trong nghiên cứu Typ-A, các công ty đã nhìn thấy cơ hội để thiết lập một lời giải thích thay thế: Nếu HÀNH VI Typ-A gây tổn thương tim đồng thời thường hút thuốc hơn, thì có thể lập luận rằng: Bản thân việc sử dụng thuốc lá không gây hại cho sức khỏe. Trên thực tế, ông Friedman đã đưa ra lập luận này trong một bức thư năm 1994 gửi cho một cơ quan Hoa Kỳ. Trong đó, ông đã lên tiếng phản đối việc hạn chế hút thuốc trong các tòa nhà.
“Trong khi đó, người ta thậm chí còn cho rằng những người có HÀNH VI Typ-A rõ ràng có cơ hội sống sót cao hơn sau cơn đau tim”, nhà tâm lý học tim mạch (psycho cardiologist) ông Karl-Heinz Ladwig ở München nói rằng: “Rõ ràng là họ có thể xử lý tốt hơn những ảnh hưởng tiêu cực đi kèm với một sự kiện đau buồn như vậy.” Tuy nhiên, cũng có những dấu hiệu cho thấy những người Typ-A có nhiều khả năng bị KIỆT SỨC và sau đó rơi vào trạng thái TRẦM CẢM. Ông Ladwig nhấn mạnh: “Sự kết hợp TÂM TRẠNG CHÁN NẢN hay CẢM XÚC TIÊU CỰC và sự XA LÁNH XÃ HỘI thực sự được coi là một yếu tố NGUY CƠ gây ra các BỆNH HỆ TIM MẠCH ngày nay”.
V. Typ-D: Có xu hướng HÀNH VI KHÔNG LÀNH MẠNH
Hiện nay cũng có một nhãn hấp dẫn cho những đặc điểm này: “CÁ TÍNH Typ-D“, “D” là “ĐAU KHỔ“, tức là đau khổ hoặc KHÔNG VUI. Nó có liên quan, trong số những thứ khác, với sự gia tăng tỷ lệ tử vong do bệnh tim. Không giống như ung thư, yếu tố kích hoạt trong trường hợp này thực sự có thể là MỨC ĐỘ CĂNG THẲNG CAO hơn.
Ông Ladwig nói: “Có bằng chứng cho thấy những người thuộc Typ-D PHẢN ỨNG MẠNH MẼ HƠN với các TÁC NHÂN GÂY CĂNG THẲNG so với những người khác. “Sau đó, họ tiết ra nhiều cortisol và những hormone gây căng thẳng khác, đồng thời phát triển chứng VIÊM THƯỜNG XUYÊN HƠN.” Hiện đã có tài liệu rõ ràng rằng cả hai đều có thể góp phần gây tổn thương cho tim.
Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác: “Nghiên cứu đã cho thấy rằng: Những người có CÁ TÍNH Typ-D ÍT HOẠT ĐỘNG THỂ CHẤT hơn, HÚT THUỐC nhiều hơn và ĂN UỐNG KHÔNG LÀNH MẠNH thường xuyên hơn”, theo ông Paul Lodder, giáo sư thống kê y tế tại Đại học Tilburg ở Hà Lan giải thích. “Họ cũng ÍT TÌM SỰ GIÚP ĐỠ khi nhận thấy những dấu hiệu cảnh báo đầu tiên của bệnh.” Vì vậy, một phần quan trọng của hiệu ứng “Typ-D” được cho là GIÁN TIẾP: Những người bị ảnh hưởng KHÔNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE tốt. Và điều đó có nghĩa là họ BỊ ỐM THƯỜNG XUYÊN hơn.
Có lẽ vì lý do này mà ý tưởng về một NHÂN CÁCH BỆNH khá phản tác dụng. Nghiên cứu Typ-D cho thấy một số tâm lý làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim nghiêm trọng. Nhưng thuật ngữ “NHÂN CÁCH” (personality) có thể cho thấy rằng: KHÓ THAY ĐỔI. Ông Paul Lodder nói: “Các ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CÁ NHÂN được coi là TƯƠNG ĐỐI ỔN ĐỊNH và KHÓ BỊ ẢNH HƯỞNG. Thay vào đó, người ta cũng có thể xem xét những hậu quả có thể xảy ra của NHÂN CÁCH Typ-D và hỗ trợ những người bị ảnh hưởng loại bỏ những thói quen không lành mạnh và điều trị các vấn đề về tâm lý.
Đúng là một số người có khả năng đối phó với căng thẳng tốt hơn những người khác – có lẽ cũng là do KHUYNH HƯỚNG. Tuy nhiên, khả năng này có thể HỌC ĐƯỢC; các chương trình đào tạo đặc biệt đã được chứng minh là dẫn đến sự ĐIỀM TĨNH hơn. Và thò tay vói tới khoai tây chiên, rượu và thuốc lá không phải là ĐỊNH MỆNH. Cái nhãn BỆNH TẬT NHÂN CÁCH không nên làm lu mờ sự thật này.
Frank Luerweg – Tác giả là nhà báo khoa học ở Lüneburg – Bắc Đức
Spektrum ngày 03.07.2023
. . . . .
CẢM NHẬN
Trước khi chúng tôi góp ý chia sẻ cụ thể và thực tiễn về y lý và y học của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® liên quan đến chủ đề „LÝ THUYẾT VỀ BỆNH – NHÂN CÁCH (personality) có thể gây bệnh không?“ chúng tôi kính mời các Bạn cùng tìm hiểu khái quát „NHÂN CÁCH là gì mà có thể GÂY BỆNH?“
A. NHÂN CÁCH là gì mà có thể GÂY BỆNH?“
1. NHÂN CÁCH (personality) hay CÁ THỂ (individuality) của một người biểu hiện qua NGOẠI HÌNH (physical apparition), HÀNH VI (behave) và KINH NGHIỆM SỐNG (experience) so với những người khác CÙNG TUỔI và CÙNG VĂN HÓA. Mỗi người khác nhau về ngoại hình của họ.
2. Nhưng trước khi bản chất thực sự (nhân cách) của một người thể hiện, thì điều này kéo dài ít nhất cho đến tuổi mẫu giáo. Theo nữ giáo sư tiến sĩ Daniele Elsner thuộc đại học Mainz,Đức quốc nói: “NHÂN CÁCH bao gồm một phần GEN, phần khác do MÔI TRƯỜNG ĐỊNH HÌNH”. Tuy nhiên, tất nhiên là có sự khác biệt rõ ràng về TÍNH KHÍ (temperament) ngay cả ở trẻ sơ sinh.
3. Có nhiều kiểu mẫu khác nhau về các loại NHÂN CÁCH, vì lẽ nó phát triển theo KINH NGHIỆM (kinh nghiệm chung), MÔI TRƯỜNG (trường học hoặc công việc) và YẾU TỐ DI TRUYỀN (bao gồm cả đặc điểm di truyền của cha mẹ).
Xin đơn cử một vài đặc điểm của nhân cách là sự NHIỆT TÌNH, THAM VỌNG, THÔNG MINH, TÒ MÒ, LẠC QUAN hoặc ỔN ĐỊNH CẢM XÚC hay DỄ NHẠY CẢM. Điều đặc biệt về nó là những thuộc tính này CHỈ có thể THAY ĐỔI ÍT hoặc THẬM CHÍ KHÔNG THỂ thay đổi hoặc KHÔNG THỂ HỌC được!
4. Có 5 yếu tố NHÂN CÁCH được phân định là:
• Cởi mở (openness)
• Có lương tâm, tận tình (conscientiousness)
• Hướng ngoại (extraversion)
• Hài hoà (compatibility)
• Cuồng loạn (neuroticism)
5. Sự khác biệt giữa NHÂN CÁCH (personlity) và CÁ TÍNH (character) – Theo định nghĩa chung, NHÂN CÁCH là tổng thể tất cả các ĐẶC THÙ hoặc PHONG CÁCH RIÊNG (peculiarity) của một người. Theo ngôn ngữ sử dụng thông thường, những đặc điểm của NHÂN CÁCH cũng được gọi là CÁ TÍNH hay những đặc điểm CÁ TÍNH của một người.
6. NHÂN CÁCH (personality) đối với BẢN SẮC (identity) – NHÂN CÁCH liên quan đến những đặc điểm CÁ NHÂN (individual) có liên quan đến HÀNH VI (behave) của họ. Còn BẢN SẮC nói đến QUAN NIỆM BẢN THÂN (self concept) và BẢN SẮC (identity) nghĩa là sự HIỂU BIẾT về bản thân.
7. Yếu tố quan trọng của NHÂN CÁCH – NHÂN CÁCH cũng độc đáo như DẤU VÂN TAY của mỗi người. Nó xác định cách chúng ta phản ứng khi gặp những tình huống khó khăn, điều gì khiến chúng ta hào hứng và mặt khác gây khó khăn cho chúng ta. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, NHÂN CÁCH của một người ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp của họ.
8. Thế nào là ĐA NHÂN CÁCH (multiple personalities)? – Mỗi con người đều có nhiều mặt đến nỗi đôi khi người ta tưởng rằng mình có nhiều nhân cách. Đa nhân cách không thể tích hợp các phần khác nhau của một cá nhân thành cái NGÃ (self) của họ. Nhiều NHÂN CÁCH tồn tại bên cạnh những người này và luân phiên nổi bật.
9. NHÂN CÁCH có thay đổi được không? – Điều cho đến nay được biết rằng: NHÂN CÁCH vẫn CÒN có thể THAY ĐỔI được ở tuổi trưởng thành: Theo TUỔI TÁC, trung bình chúng ta trở nên CHẮC CHẮN hơn, DỄ CHỊU hơn và CẢM XÚC ỔN ĐỊNH hơn [tóm tắt, trích dịch từ tài liệu giáo khoa tâm lý học]
B. NHÂN CÁCH (personality) theo Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®
Theo y lý học của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®, sự tượng hình cái gọi là NHÂN CÁCH của một con người trải qua các giai đoạn TRƯỞNG DƯỠNG và GIÁO DƯỠNG như sau:
1. TÂM TRẠNG của người Mẹ lúc thụ thai, suốt thời gian mang thai và lúc sinh hài nhi;
2. CÁCH TIẾP CẬN MÔI TRƯỜNG của đứa bé ngay sau khi ra đời;
3. CÁCH GIÁO DƯỠNG của người Mẹ, gia đình;
4. CÁCH TIẾP THU, XỬ LÝ mọi THÔNG TIN từ bên ngoài;
5. Từ đó hình thành những KINH NGHIỆM và HÀNH VI của một con người – cái gọi là NHÂN CÁCH (personality) hay CÁ TÍNH (character)
Nói chung, năm (05) giai đoạn trên xảy ra cùng hai yếu tố:
1. BẨM SINH (angeboren, innate)
2. HUÂN TẬP (erworben, acquired)
BẨM SINH theo nhà Phật do NGHIỆP (karma) tác động! Y học gọi là DI TRUYỀN (gene). Nghĩa là sự ra đời của một chúng sinh PHẢI hội đủ ba (04) yếu tố NGHIỆP của đứa Bé, người Cha và người Mẹ TƯƠNG TÁC nhau và BỐI CẢNH MÔI TRƯỜNG lúc đó mới thành tựu – nghĩa là sự hoà hợp của cái gọi là BIỆT (individual) và CỘNG (collective) NGHIỆP (karma)
HUÂN TẬP là sự TRƯỞNG DƯỠNG và GIÁO DƯỠNG từ hai thành tố:
1. Người MẸ – từ lúc THỤ THAI và suốt thời gian MANG THAI: Người MẸ nuôi dưỡng THÂN – TÂM của hài nhi qua cái CUỐN RÚN – nghĩa là Mẹ ăn gì thì chuyển thành MÁU thông qua cuốn rún nuôi THÂN bé. Người MẸ có bất kỳ tâm trạng hay tâm lý tích hoặc tiêu cực gì thì những TÂM THỨC này chuyển thành chất dẫn truyền thần kinh thông qua cuốn rún CÀI ĐẶT vào hệ thần kinh của trẻ (!)
2. BỐI CẢNH MÔI TRƯỜNG lúc đứa bé ra đời. Nó bị CHOÁNG NGỘP bởi mọi thông tin về âm thanh, màu sắc, vị lưỡi, xúc giác, không khí v.v… ĐANG ẬP đến mà KHÔNG HIỂU vì thế CHƯA XỬ LÝ được.
Những thông tin của BẨM SINH và HUÂN TẬP khi đức bé chào đời là những CHỦNG TỬ QUAN TRỌNG tác động cho sự hình thành NHÂN CÁCH (personality) hay CÁ TÍNH (charakter) của đứa trẻ.
Và yếu tố NHÂN CÁCH này dần CHUYỂN ĐỔI (thay đổi) theo thời gian được NUÔI DƯỠNG và TRƯỞNG DƯỠNG từ gia đình, xã hội, bạn bè, học đường… cũng như sự TIẾP CẬN của năm (05) GIÁC CĂN với mọi đối tượng tương ứng của nó để hình thành KINH NGHIỆM và HÀNH VI.
TUỲ vào những chủng tử BẨM SINH và HUÂN TẬP mà cái gọi là NHÂN CÁCH hay CÁ TÍNH của một con người được hình thành qua KINH NGHIỆM và HÀNH VI để làm chủ sự VẬN HÀNH của THÂN và TÂM của nó.
C. TÁC NHÂN (original trigger) gây BỆNH NHÂN CÁCH (personality diseases)
Có thể nói rằng: NHÂN CÁCH của một cá nhân không giống chẳng khác một LẬP TRÌNH (software) được biên soạn từ những DATAs của BẨM SINH và HUÂN TẬP. LẬP TRÌNH này đã được CÀI ĐẶT (install) cho cổ máy vật lý là THÂN (hardware) và HỆ THỐNG VẬN HÀNH (system) ví như BỘ NÃO – không phải là TÂM như hầu hết các khoa học gia nói đến cho đến nay – cũng như các khớp xương, cơ bắp, lục phủ ngũ tạng, hệ thần kinh, hệ miễn dịch, nội tiết tố, bạch cầu… v.v…
Để có thể sử dụng cái thân HARDWARE này cần phải có một AI ĐÓ BIẾT sử dụng (tác ý) LẬP TRÌNH TƯƠNG ỨNG theo Ý MUỐN của họ LÚC ĐÓ. Nhưng khi cái THÂN hardware này KHÔNG HOẠT ĐỘNG hay hoạt động CHẬM – vì bất kỳ lý do nào đó – như Ý MUỐN của họ … nghĩa là „NGOÀI“ Ý MUỐN hay còn gọi là BẤT NHƯ Ý thì bộ máy có VẤN ĐỀ … cái gọi là TẬT DỊCH DỊ BỆNH KHỔ ĐAU…!
Có thể nói rằng: Chính NHÂN CÁCH là NGUYÊN NHÂN dẫn đến tật dịch dị bệnh khổ đau hay sức khoẻ. Nhưng NHÂN CÁCH hay CÁ TÍNH này do sự TÁC Ý làm TÁC NHÂN (original trigger)nghĩa là Ý MUỐN THỰC HIỆN tác động, điều khiển vận hành sinh ra NGUYÊN NHÂN (sekundar triggers)
Cho nên chính cái TÁC Ý BẤT NHƯ Ý „ĐANG LÀ“ này gây ra STRESS khiến mọi hệ thống sinh hoá vật lý cũng như thần kinh cùng mọi chức năng phòng chống miễn dịch v.v… của thân và não bộ bị rối loạn. Tình trạng này tạo cơ hội cho bệnh tật có khả năng khởi sanh – thân bệnh kể cả tâm bệnh.
Đối với Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®, chúng tôi không quan tâm đến tất cả những khái niệm tâm lý học hiện đại, cái mà khoa tâm lý trị liệu cần đến để định bệnh và chữa bệnh. Nhưng việc CHẨN CHỮA theo cách này cũng chỉ là CHỮA NGỌN (sic). Điều đơn giản dễ hiểu là vì sao?
Ngay khái niệm gọi là NHÂN CÁCH (personality) CHỉ được hiểu thô sơ là biểu hiện của DI TRUYỀN (gen), KINH NGHIỆM và HÀNH VI. Ở điểm này, các chuyên gia y khoa từ trước đến nay CHƯA hề NGHĨ đến là „CÁI GÌ LÀM CHỦ TÁC ĐỘNG cho mọi khả năng thành hình DI TRUYỀN, huân tập và xử lý KINH NGHIỆM cũng như HÀNH VI“?
Người ta CHỈ đơn giản nghĩ rằng: Người có NHÂN CÁCH tốt thì KHOẺ MẠNH; còn người có NHÂN CÁCH „tiêu cực“ sẽ có TÂM LÝ „tiêu cực“ dẫn đến BỆNH TẬT và nghiêm trọng nhất là các chứng bệnh UNG THƯ!
D. KẾT LUẬN
Vài kết quả điển hình về bệnh UNG THƯ do NHÂN CÁCH „có thể“ gây ra được ghi nhận trong bài biên khảo của tác giả Frank Luerweg bên trên XÁC NHẬN một cách GIÁN TIẾP rằng bệnh UNG THƯ là một loại bệnh – ngoài những yếu tố khác tác động – chủ yếu do những PHẢN ỨNG TÂM LÝ qua NHÂN CÁCH gây ra, nghĩa là chính thức nhắc đến khái niệm TÂM-THỂ bệnh: Bệnh THÂN do TÂM sinh ra (psycho-somatic) – kể cả UNG THƯ!
Đây cũng là một bằng chứng XÁC NHẬN „Y LÝ LUẬN“ về NGUYÊN NHÂN gây ra bệnh UNG THƯ của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®. Điều mà chúng tôi suốt trên 10 năm qua đã gửi đến các Bạn nhiều kết quả lâm sàng tuyệt vời của các ca CHẨN TRỊ bệnh UNG THƯ do chúng tôi từng thực hiện!
Tóm lại, SỰ THẬT vẫn là SỰ THẬT cho dù hiện thời nó ĐANG bị CHE KHUẤT bởi những đám mây đen của tham vọng, quyền lợi, vật chất v.v… đang vần vũ; nhưng đàng sau đó muôn thưở vẫn mãi là ÁNH SÁNG của SỰ THẬT! Và SỰ THẬT gì?
Xin thưa, SỰ THẬT là:
Tất cả mọi tật dịch dị bệnh
khổ đau của THÂN hay TÂM
đều là HÀNH TUNG, DẤU TÍCH
của TÁC Ý „NGAY ĐANG LÀ“.
… bởi điều đơn giản dễ hiểu… vì lẽ:
„Ta ĐANG LÀ
CÁI ta ĐÃ LÀ
Ta SẼ LÀ
CÁI ta ĐANG LÀ…M“
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc-Diệp
Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
Chủ Nhật ngày 16.07.2023


Bình luận