BIÊN KHẢO LUẬN: Ca UNG THƯ của MARK ALLEN RUEGG và THIỀN theo Dr. JOE DISPENZA có phải là một liệu pháp có quy tắc nhất quán áp dụng CHẨN – ĐỊNH – TRỊ chứng bệnh UNG THƯ?

DẪN NHẬP
Thứ Tư, ngày 02.09.2026, trên trang Facebook cá nhân của một người Việt truyền tải một video được loan tải lại từ trang Dr. Joe Dispenza. Video gốc đã được công bố ngày 06.02.2026 trong hệ thống Stories of Transformation – Những câu chuyện chuyển hóa của Dr. Joe Dispenza.

Trên sân khấu, trước đông đảo người tham dự, một người đàn ông tên Mark Allen Ruegg cầm micro trực tiếp kể lại câu chuyện về căn bệnh ung thư giai đoạn IV của bản thân. Ông được y khoa cho biết rằng căn bệnh không thể phẫu thuật, không thể chữa khỏi và thời gian sống chỉ còn giới hạn.

Sau đó, Mark cùng vợ thực hành THIỀN theo Dr. Joe Dispenza hai lần mỗi ngày. Hai tuần sau khi bắt đầu thực hành phương pháp thiền này, ông được tái kiểm tra bằng PET và cho biết rằng khối u không còn được phát hiện.

Mark là người bệnh và cũng là người trực tiếp thuyết trình câu chuyện của mình. Dr. Joe Dispenza không xuất hiện trong đoạn video, nhưng hiện diện qua phương pháp THIỀN được Mark thực hành và qua hệ thống truyền thông mang tên Dr. Joe Dispenza đã biên tập, đặt tiêu đề rồi công bố câu chuyện trước quần chúng.

Chỉ trong một video ngắn, một căn bệnh ung thư giai đoạn IV, một tiên lượng thời gian sống còn lại, một phương pháp THIỀN được thực hành hai lần mỗi ngày, một trải nghiệm đặc biệt và một kết quả PET không còn phát hiện khối u đã được nối thành một câu chuyện khiến khán giả kinh ngạc, xúc động và đồng loạt vỗ tay.

Một câu chuyện thật đẹp. Với một kết cục thật kỳ diệu.
• Nhưng phía trước sự kiện tuyệt vời này xảy ra thì những gì đã được vận hành?
• Ông Mark Allen Ruegg thật sự mắc chứng bệnh ung thư gì?
• Từ lúc phát hiện bệnh đến khi PET không còn phát hiện khối u đã xảy ra những gì?
• THIỀN theo Dr. Joe Dispenza giữ vị trí nào trong toàn bộ diễn tiến ấy?

Và những gì được Mark thuyết trình, rồi trang Dr. Joe Dispenza công bố có đủ yếu tố để xác lập rằng:

Có phải THIỀN là một liệu pháp áp dụng CHẨN – ĐỊNH – TRỊ đối với chứng bệnh UNG THƯ hay không?

Chính video được loan tải ngày 02.09.2026 và những câu hỏi được mở ra từ câu chuyện ấy là DUYÊN hình thành Biên khảo luận với tiêu đề là:

CA UNG THƯ của MARK ALLEN RUEGG và THIỀN theo Dr. JOE DISPENZA có phải là một liệu pháp có quy tắc nhất quán áp dụng CHẨN – ĐỊNH – TRỊ chứng bệnh UNG THƯ?

* * *

MỤC LỤC

DẪN NHẬP
CHƯƠNG A – MARK ALLEN RUEGG và Dr. JOE DISPENZA
I. Mark Allen Ruegg
II. Dr. Joe Dispenza
III. Mối liên quan giữa hai nhân vật trong video

CHƯƠNG B – Ca UNG THƯ của MARK ALLEN RUEGG
I. Phạm vi tài liệu
II. Căn bệnh của Mark Allen Ruegg
III. Phát hiện và CHẨN bệnh
IV. ĐỊNH loại bệnh, mức độ lan tràn và giai đoạn
V. TRỊ bằng Y học hiện đại
VI. Theo dõi và kiểm tra bằng PET

CHƯƠNG C – THIỀN và THIỀN theo Dr. JOE DISPENZA
I. THIỀN trong tôn giáo
II. THIỀN trong y khoa
III. THIỀN theo Dr. Joe Dispenza
IV. Mark Allen Ruegg bắt đầu thực hành THIỀN
V. Phương pháp và tần suất thực hành
VI. Trải nghiệm đặc biệt trong khi thiền
VII. Vị trí của THIỀN trong câu chuyện được công bố

CHƯƠNG D – Không Còn Phát Hiện UNG THƯ
I. Kết quả được Mark kể trong video
II. Diễn tiến có trước lần PET
III. Kết quả tại từng vị trí
IV. Kết quả theo nội hàm y khoa

CHƯƠNG E – Đối Chiếu Quy Tắc CHẨN – ĐỊNH – TRỊ
I. Hai tiến trình cùng hiện hành
II. Chức năng CHẨN
III. Chức năng ĐỊNH
IV. Chức năng TRỊ

CHƯƠNG F – Diễn Tiến Sau Video: THIỀN CHƯA CHẨN – ĐỊNH thì TRỊ Thế Nào?
I. Phạm vi và nguồn thông tin
II. Tình trạng được công bố khi khối u được phát hiện trở lại
III. Khối u được phát hiện trở lại
IV. Triệu chứng và ảnh hưởng của khối u
V. Những lựa chọn điều trị sau khi khối u được phát hiện
VI. THIỀN và Healing Recipe sau khi khối u trở lại
VII. Hai thời điểm của cùng một ca bệnh

CHƯƠNG G – Giám Định – Kết Luận

CHƯƠNG H – Phụ Lục
I. Glossar A–Z | VN: EN / DE
1. Thuật ngữ theo nội dung Biên khảo luận và phiên bản „THIỀN Ban phúc“
2. Danh mục chữ viết tắt
II. Nguồn video và tài liệu tham khảo
1. Video và nội dung do hệ thống Dr. Joe Dispenza công bố
2. Tài liệu về ca ung thư của Mark Allen Ruegg
3. Tài liệu về diễn tiến sau video
4. Tài liệu về THIỀN và chăm sóc hỗ trợ trong y khoa
5. Tài liệu y khoa dùng để phân định thuật ngữ và phương pháp
III. Ghi chú

* * *

CHƯƠNG A – MARK ALLEN RUEGG và Dr. JOE DISPENZA
I. Mark Allen Ruegg

Mark Allen Ruegg là người bệnh ung thư, người thực hành THIỀN theo Dr. Joe Dispenza và người trực tiếp kể lại câu chuyện của mình trong video được trang Dr. Joe Dispenza công bố.

Mark sống tại Los Angeles cùng người vợ tên Buffy. Ông từng hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn với tư cách vũ công chuyên nghiệp, sau đó chuyển sang ngành quảng cáo và sản xuất truyền thông. Công việc của ông được gọi là child wrangler, chỉ người hướng dẫn, chăm sóc và phối hợp với trẻ em trong quá trình thực hiện quảng cáo, quay phim hoặc sản xuất hình ảnh. Mark và vợ đồng sáng lập BuMar Productions, một cơ sở cung cấp nhân sự và dịch vụ liên quan đến trẻ em cho các hoạt động sản xuất truyền thông.

Cuối năm 2023, Mark được xác định mắc ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy giai đoạn IV. Bệnh đã lan đến các hạch lympho và gan. Sau khi tham vấn nhiều bác sĩ, ông tiếp nhận điều trị theo Y học hiện đại, đồng thời thay đổi dinh dưỡng, sinh hoạt, môi trường sống và bắt đầu thực hành THIỀN cùng vợ.

Bài thiền được Mark và vợ thực hành mang tên Blessing of the Energy Centers, thuộc hệ thống thiền của Dr. Joe Dispenza. Theo lời Mark, hai người thiền hai lần mỗi ngày. Trong một lần thực hành, ông trải qua một sự kiện đặc biệt mà về sau ông tiếp tục nhắc lại khi kể về quá trình thay đổi sức khỏe của mình. Sự thực hành này trở thành một phần trong câu chuyện mà Mark kể trên sân khấu.

Tháng 12.2025, Mark tham dự Week Long Retreat của Dr. Joe Dispenza tại San Diego. Sau sự kiện, chính Mark chia sẻ rằng Dr. Joe đã gọi ông lên sân khấu. Trước đông đảo người tham dự, Mark cầm micro và trực tiếp thuật lại việc phát hiện ung thư, tiên lượng ban đầu, quá trình điều trị, việc thực hành THIỀN, trải nghiệm xảy ra trong khi thiền và kết quả kiểm tra bằng PET.

Người đàn ông tóc sáng màu, đeo kính và cầm micro trong video là Mark Allen Ruegg. Dòng chữ “Dr Joe Dispenza” hiển thị ở góc video là tên trang Facebook phát hành nội dung. Sự phân biệt này cần thiết vì hình ảnh cắt từ Facebook có thể khiến người xem nhận tên của trang đăng video thành tên của người đang đứng trên sân khấu.

Mark hiện diện trong video bằng chính hình ảnh, giọng nói và câu chuyện bệnh của bản thân. Ông không phải một nhân vật vắng mặt được người khác kể thay. Những thông tin xuất hiện trong phần thuyết trình trước hết là lời thuật lại của người đã trực tiếp trải qua căn bệnh, các phương pháp điều trị, sự thực hành THIỀN và những lần kiểm tra sau đó.

Sau khi tình trạng sức khỏe được cải thiện và các lần kiểm tra không còn phát hiện khối u, Mark tiếp tục chia sẻ câu chuyện qua các cuộc phỏng vấn, chương trình podcast, mạng xã hội và những tổ chức hỗ trợ người bệnh ung thư tuyến tụy. Ông tham gia điều hành một nhóm hỗ trợ dành cho người mắc ung thư thần kinh nội tiết tuyến tụy và tự giới thiệu mình là người đã trải qua ung thư giai đoạn IV, hiện ở tình trạng No Evidence of Disease – không còn bằng chứng về bệnh.

Như vậy, Mark Allen Ruegg đồng thời giữ nhiều vai trò có liên quan trực tiếp đến nội dung biên khảo luận này. Ông là người mang căn bệnh, người tiếp nhận điều trị y khoa, người thực hành THIỀN theo Dr. Joe Dispenza, người nhận kết quả PET và người trực tiếp kể lại toàn bộ trải nghiệm ấy trước công chúng.

II. Dr. Joe Dispenza
Ông Joe Dispenza là người thiết lập phương pháp THIỀN được Mark Allen Ruegg thực hành, người tổ chức Week Long Retreat nơi Mark kể lại câu chuyện và chủ thể của hệ thống truyền thông đã ghi hình, biên tập, đặt tiêu đề rồi công bố video.

Danh xưng chuyên môn đầy đủ của ông là Joe Dispenza, D.C. Chữ D.C. là viết tắt của Doctor of Chiropractic (tiến sĩ chuyên ngành chỉnh hình). Ông nhận bằng Doctor of Chiropractic tại Life University, Hoa Kỳ. Doctor of Chiropractic là bằng chuyên môn về chỉnh hình (Chiropractic), khác với Medical Doctor – M.D. của bác sĩ y khoa và khác với Doctor of Philosophy – Ph.D. của một học vị nghiên cứu khoa học. Chuyên ngành chính thức của Joe Dispenza không phải ung thư học hoặc khoa học thần kinh.

Trang chính thức giới thiệu Dr. Joe Dispenza là tác giả, nhà nghiên cứu, diễn giả và cố vấn doanh nghiệp. Ông xuất bản sách, xây dựng các khóa học trực tuyến, phát hành những bài thiền và tổ chức các buổi tịnh tâm (retreat) tại nhiều nơi. Nội dung hoạt động của ông liên quan đến sự thay đổi cá nhân, não bộ, cảm xúc, cơ thể, năng lượng, nhận thức và khả năng tự chữa lành.

Một trong những phương pháp do Dr. Joe Dispenza thiết lập là „Sư Ban phước lành từ các trung tâm năng lượng“ (Blessing of the Energy Centers). Phương pháp này hướng dẫn người thực hành tập trung sự chú ý vào những vùng được gọi là các trung tâm năng lượng của cơ thể. Đây chính là cách thiền mà Mark và vợ cho biết đã thực hành hai lần mỗi ngày trong quá trình bệnh.

Dr. Joe Dispenza phổ biến các hoạt động của mình qua một hệ thống gồm trang chính thức, YouTube, Facebook, Instagram, sách, khóa học và các sự kiện trực tiếp.

Trong hệ thống này có một chuyên mục mang tên Stories of Transformation – Những câu chuyện chuyển hóa. Chuyên mục tập hợp lời kể của những người đã tham gia hoặc thực hành phương pháp của ông và cho biết họ đã trải qua những thay đổi liên quan đến sức khỏe, đời sống hoặc trạng thái cá nhân như thế nào.

III. Mối liên quan giữa hai nhân vật trong video
Câu chuyện của Mark Allen Ruegg
•  được ghi hình trong Week Long Retreat tại San Diego vào tháng 12.2025 và
• được đưa vào Stories of Transformation với tiêu đề Healed From Pancreatic Cancer – His Doctor Called Him A Miracle.
•  Video đầy đủ được đăng trên YouTube ngày 25.01.2026.
• Nội dung tiếp tục được phát hành qua các trang mạng xã hội của Dr. Joe Dispenza; bản Facebook liên quan đến biên khảo luận này đề ngày 06.02.2026 và
• được một người Việt loan tải lại trên trang cá nhân ngày 02.09.2026.

Dr. Joe Dispenza không phải người cầm micro thuyết trình trong đoạn video. Sự hiện diện của ông được xác định qua phương pháp THIỀN mà Mark thực hành, sự kiện retreat do ông tổ chức và hệ thống truyền thông mang tên ông đã công bố câu chuyện.

Sau khi Mark kể lại trải nghiệm trên sân khấu, hệ thống Stories of Transformation lựa chọn nội dung, thực hiện video, đặt tiêu đề, viết phần giới thiệu, thêm phụ đề và tiếp tục phổ biến qua nhiều nền tảng. Vì vậy, cần phân biệt người trực tiếp kể lại ca bệnh với người thiết lập phương pháp đồng thời là chủ thể truyền thông công bố lời kể ấy.

Qua đó, cho thấy:
• Mark Allen Ruegg là người thuyết trình.
• Dr. Joe Dispenza là người thiết lập phương pháp THIỀN được nói đến, người tổ chức bối cảnh thuyết trình đồng thời là chủ thể của hệ thống truyền thông đưa video đến quần chúng.

CHƯƠNG B – Ca UNG THƯ của MARK ALLEN RUEGG
I. Phạm vi tài liệu
Ca ung thư của Mark Allen Ruegg được tái lập từ lời kể của chính ông, video Stories of Transformation do hệ thống Dr. Joe Dispenza công bố, những cuộc phỏng vấn liên quan và hồ sơ do Seena Magowitz Foundation cùng Project Purple đăng tải.

Các tài liệu này cung cấp những dữ kiện về triệu chứng ban đầu, vị trí và kích thước khối u, loại ung thư, chỉ số tăng sinh, nơi bệnh đã lan đến, thời điểm bắt đầu hóa trị, số đợt hóa trị, miễn dịch trị liệu, việc chăm sóc đường mật và kết quả của những lần kiểm tra sau điều trị. Hồ sơ bệnh án nguyên bản, báo cáo giải phẫu bệnh đầy đủ, tên thuốc, liều lượng, lịch điều trị và hình ảnh CT, MRI hoặc PET trước–sau không được công bố kèm theo.

II. Căn bệnh thật sự của Mark Allen Ruegg
Phần dịch tự động bằng tiếng Đức trên Facebook gọi căn bệnh của Mark là Adrenalkrebs – ung thư tuyến thượng thận. Cách dịch này không đúng với nội dung tiếng Anh của video gốc.

Pancreatic là tuyến tụy; adrenal là tuyến thượng thận.

Căn bệnh của Mark cũng không nên chỉ được gọi chung là Pancreatic Cancer – ung thư tuyến tụy. Theo những tài liệu về ca bệnh, chẩn đoán đầy đủ là Stage IV Pancreatic Neuroendocrine Carcinoma nghĩa là: ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy giai đoạn IV.

Phần lớn ung thư tuyến tụy thuộc loại Pancreatic Ductal Adenocarcinoma – ung thư biểu mô tuyến ống tụy. Mark không mắc loại ung thư phổ biến này mà mắc một dạng ung thư hiếm, phát sinh từ những tế bào mang đặc tính thần kinh nội tiết trong tuyến tụy.

Trong nhóm tân sinh thần kinh nội tiết, Y học hiện đại phân biệt Neuroendocrine Tumor – NET với Neuroendocrine Carcinoma – NEC.

• NET thường còn giữ mức độ biệt hóa của tế bào thần kinh nội tiết và có những cấp độ phát triển khác nhau.
• NEC là ung thư biểu mô thần kinh nội tiết biệt hóa kém, có độ ác tính cao, tăng trưởng nhanh và thường đã lan ra ngoài cơ quan nguyên phát khi được phát hiện.

Theo thông tin về ca Mark do Project Purple công bố, chỉ số Ki-67 của khối u cao hơn 90%. Ki-67 biểu thị tỷ lệ tế bào trong mẫu mô đang phân chia. Chỉ số trên 90% cho thấy mức tăng sinh rất mạnh, phù hợp với đặc tính phát triển nhanh của ung thư biểu mô thần kinh nội tiết độ cao.

Như vậy, căn bệnh cần được gọi đúng là ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy có mức tăng sinh rất cao, đã lan đến hạch lympho và gan, được xác lập ở giai đoạn IV. Đây là căn bệnh cụ thể của Mark Allen Ruegg – không phải ung thư tuyến thượng thận và cũng không đại diện cho mọi loại ung thư tuyến tụy.

III. Phát hiện và CHẨN bệnh
Cuối năm 2023, sau một chuyến đi đến Lake Havasu, Mark xuất hiện những cơn đau bụng dữ dội và phải đến khoa cấp cứu. Ông được chụp vùng bụng nhưng lần kiểm tra ban đầu không sử dụng chất cản quang. Khối u trong tuyến tụy chưa được nhận ra; thay vào đó, bác sĩ nghĩ đến viêm tụy và phát hiện một viên sỏi thận. Mark được hướng dẫn đến bác sĩ tiết niệu để điều trị sỏi thận.

• Sau khi sỏi thận được xử lý, Mark vẫn tiếp tục đau bụng và sụt cân. Những triệu chứng còn hiện hành cho thấy kết quả ban đầu chưa giải thích được tình trạng của ông. Mark tìm đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và được chỉ định chụp cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging, MRI).

• MRI phát hiện một khối u có kích thước khoảng bốn centimét tại đầu tuyến tụy. Hình ảnh đồng thời cho thấy những tổn thương tại hạch lympho và gan. Từ đây, tình trạng của Mark không còn được giới hạn trong giả định viêm tụy hoặc sỏi thận mà được tiếp tục khảo sát như một bệnh ung thư đã lan ra ngoài vị trí ban đầu.

• Hình ảnh khối u chưa đủ để xác định loại ung thư. Việc ĐỊNH bệnh còn cần kết quả mô bệnh học và những đặc điểm sinh học của tế bào. Tài liệu công khai không cung cấp bản báo cáo giải phẫu bệnh, phương thức lấy mẫu, vị trí lấy mẫu hoặc những dấu ấn hóa mô miễn dịch đã được sử dụng. Kết quả được các nguồn công bố là Pancreatic Neuroendocrine Carcinoma với Ki-67 trên 90%.

•  Diễn tiến CHẨN bệnh vì vậy bắt đầu từ đau bụng và sụt cân, trải qua một lần kiểm tra chưa phát hiện được khối u, rồi được tiếp tục bằng MRI và khảo sát chuyên khoa cho đến khi vị trí, loại tế bào và mức độ lan tràn của bệnh được xác lập.

IV. ĐỊNH loại bệnh, mức độ lan tràn và giai đoạn
Khối u nguyên phát nằm tại đầu tuyến tụy. Bệnh đã lan đếni các hạch lympho và gan. Sự hiện diện của di căn xa tại gan là căn cứ xác lập giai đoạn IV, không chỉ kích thước khoảng bốn centimét của khối u nguyên phát.

Từ những kết quả được công bố, căn bệnh của Mark được ĐỊNH bệnh qua bốn dữ kiện chính:
• vị trí khởi phát tại tuyến tụy;
• loại ung thư biểu mô thần kinh nội tiết;
• chỉ số tăng sinh Ki-67 trên 90%;
• mức độ lan đến hạch lympho và gan.

Bệnh không còn giới hạn tại tuyến tụy để chỉ xử lý tại chỗ. Theo lời kể về ca bệnh, khối u được đánh giá là không thể phẫu thuật cắt bỏ tại thời điểm chẩn đoán nên cần một phương pháp điều trị tác động đến toàn thân.

Mark kể rằng bác sĩ đầu tiên nhận định bệnh không thể chữa khỏi, thời gian sống còn lại khoảng bốn đến sáu tháng và mục tiêu khả thi là kiểm soát hoặc ổn định bệnh. Đây là tiên lượng do Mark thuật lại; tài liệu y khoa nguyên bản ghi nhận tiên lượng ấy không được công bố (!)

Mark và gia đình tiếp tục tìm kiếm thông tin, liên hệ với Seena Magowitz Foundation và tham vấn tổng cộng sáu bác sĩ, trong đó có bác sĩ chuyên về NET và NEC. Theo hồ sơ được công bố, những bác sĩ được tham vấn đều đề nghị hóa trị kết hợp miễn dịch trị liệu. Mark quyết định tiếp nhận điều trị với bác sĩ có chuyên môn về loại ung thư của mình.

V. TRỊ bằng Y học hiện đại
• Mark bắt đầu hóa trị vào tháng 12.2023. Do ung thư đã lan từ tuyến tụy đến hạch lympho và gan, hóa trị được sử dụng như một phương pháp điều trị toàn thân nhằm tác động đến tế bào ung thư tại khối u nguyên phát và những vị trí di căn.

Tên thuốc, liều lượng và khoảng cách giữa các chu kỳ hóa trị không xuất hiện trong tài liệu công khai. Vì vậy, không thể xác định phác đồ cụ thể từ nội dung video. Những dữ kiện được công bố cho biết bệnh đáp ứng nhanh sau khi hóa trị bắt đầu và Mark đã hoàn thành tổng cộng sáu đợt. Sau đợt thứ sáu, nhóm điều trị đề nghị dừng hóa trị vì việc tiếp tục có thể tạo gánh nặng quá lớn cho cơ thể.

• Miễn dịch trị liệu được thực hiện trong tiến trình điều trị và được duy trì mỗi tháng một lần sau khi hóa trị kết thúc. Tên thuốc miễn dịch, chỉ dấu sinh học làm căn cứ lựa chọn thuốc, ngày bắt đầu và thời gian dự kiến tiếp tục không được công bố. Tuy nhiên, miễn dịch trị liệu là một thành phần đã được xác nhận trong quá trình điều trị của Mark, không phải một chi tiết được suy ra từ bên ngoài.

• Mark còn được đặt stent để giữ đường mật thông thoáng. Stent kim loại gây nhiễm trùng nên được thay bằng stent nhựa. Vì stent nhựa cần được thay định kỳ khoảng ba tháng một lần, Mark đề nghị bác sĩ xem xét khả năng tháo bỏ. Trong lần xử lý tiếp theo, bác sĩ kiểm tra nhưng không còn tìm thấy khối u tại tuyến tụy nên tháo stent mà không đặt một stent mới.

Như vậy, việc TRỊ đã hiện hành từ lúc bệnh được xác định gồm:
• hóa trị qua sáu đợt,
• miễn dịch trị liệu được tiếp tục hằng tháng,
• chăm sóc đường mật bằng stent và theo dõi chuyên khoa.

Những biện pháp này diễn ra trước và trong thời gian các lần kiểm tra ghi nhận sự thay đổi của bệnh.

VI. Theo dõi và kiểm tra bằng PET
Positron Emission Tomography – PET là phương pháp chẩn đoán hình ảnh sử dụng chất đánh dấu phóng xạ để ghi nhận hoạt động chuyển hóa hoặc sự biểu hiện của một mục tiêu sinh học trong mô. Trong ung thư học, PET được sử dụng cùng những phương tiện khác để đánh giá phạm vi bệnh và sự đáp ứng với điều trị.

Tài liệu công khai không cho biết Mark được thực hiện loại PET nào, sử dụng chất đánh dấu nào, tiến hành vào ngày cụ thể nào và cũng không cung cấp bản kết luận của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Vì vậy, chỉ có thể ghi nhận kết quả theo nội dung được những nguồn liên quan thuật lại.

• Một lần PET được thực hiện sau khi Mark đã bắt đầu điều trị. Kết quả không còn ghi nhận vùng đáng quan ngại tại tuyến tụy và hạch lympho. Những tổn thương tại gan giảm kích thước và tiếp tục cải thiện. Các lần kiểm tra sau đó tiếp tục không tìm thấy khối u trong tuyến tụy; tình trạng gan được mô tả là gần trở lại bình thường. Mark vẫn được theo dõi định kỳ và tiếp tục miễn dịch trị liệu.

Kết quả tại tuyến tụy, hạch lympho và gan không được diễn đạt hoàn toàn giống nhau trong tài liệu. Việc không còn tìm thấy khối u tại tuyến tụy, không còn vùng đáng quan ngại tại hạch lympho và sự thu nhỏ của các tổn thương tại gan phải được giữ đúng theo từng vị trí, không nhập thành một kết quả chung vượt quá những gì đã được công bố.

Từ lúc xuất hiện đau bụng đến lần PET ghi nhận sự thay đổi, ca bệnh của Mark đã trải qua một tiến trình có thể nhận diện rõ: triệu chứng dẫn đến kiểm tra; MRI phát hiện khối u và những vị trí bệnh đã lan đến; mô bệnh học xác định ung thư biểu mô thần kinh nội tiết có Ki-67 trên 90%; di căn gan xác lập giai đoạn IV; hóa trị, miễn dịch trị liệu và chăm sóc đường mật được thực hiện; PET cùng những lần kiểm tra tiếp theo ghi nhận đáp ứng của bệnh.

Đó là toàn bộ nền CHẨN – ĐỊNH – TRỊ theo Y học hiện đại của ca Mark Allen Ruegg. Ý nghĩa chính xác của kết quả “không còn phát hiện ung thư” và sự phân biệt giữa đáp ứng điều trị, lui bệnh, không còn bằng chứng bệnh với chữa khỏi sẽ được trình bày riêng trong CHƯƠNG D.

CHƯƠNG C – THIỀN và THIỀN theo Dr. JOE DISPENZA
I. THIỀN trong tôn giáo
THIỀN là cách gọi bằng tiếng Việt của một hệ thực hành có nguồn gốc lâu đời tại Ấn Độ. Thuật ngữ Sanskrit dhyāna và Pāli jhāna chỉ sự tu tập tập trung, an định và thâm nhập sâu của TÂM.

Khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, dhyāna được phiên âm thành Thiền-na rồi rút gọn thành Thiền; tại Nhật Bản được gọi là Zen và tại Hàn Quốc là Seon.

Những hình thức tĩnh tâm, tập trung, quán chiếu và chiêm niệm cũng hiện diện trong Ấn Độ giáo, Kỳ-na giáo, Đạo giáo, Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo Sufi.

Mỗi truyền thống đặt sự thực hành trong một nền giáo lý, giới luật và mục đích riêng nên không thể gom tất cả vào một nội dung “meditation” duy nhất.

Trong Phật giáo, THIỀN thuộc tiến trình tu tập TÂM để phát triển định và tuệ.
• Chỉ – samatha – giúp TÂM an tĩnh và tập trung.
• Quán – vipassanā – soi thấy thân, cảm thọ, TÂM và các pháp như chúng đang hiện hành.
• Chánh niệm – sati – là sự nhận biết rõ điều đang có mặt; định – samādhi – là sự ổn định và chuyên nhất của TÂM. Chánh niệm, định và quán có liên quan nhưng không đồng nghĩa và không thay thế cho nhau.

Trong Thiền tông, sự thực hành hướng đến việc trực nhận bản tính của TÂM và sự vật. Tọa thiền, theo dõi hơi thở, công án, thoại đầu hoặc tỉnh thức trong sinh hoạt được sử dụng tùy theo truyền thống.

Trong Kitô giáo có cầu nguyện chiêm niệm;

Trong Hồi giáo Sufi có dhikr – sự tưởng niệm Thượng đế.

Những thực hành ấy hướng đến tu tập, chuyển hóa nhận thức, đức tin, đời sống tâm linh hoặc giải thoát.

Người ĐANG bệnh có thể thực hành THIỀN để được bình tĩnh, nâng đỡ và có khả năng đối diện với bệnh tật. Tuy nhiên, THIỀN trong tôn giáo không được thiết lập như một phương pháp chuyên khoa dùng để xác định loại tế bào ung thư, phân giai đoạn bệnh hoặc điều trị một khối u.

II. THIỀN trong y khoa
Trong y khoa và tâm lý học, meditation là thuật ngữ bao quát nhiều cách thực hành như điều hòa hơi thở, duy trì sự chú ý, quan sát suy nghĩ, nhận biết cảm giác cơ thể hoặc nuôi dưỡng lòng từ. Mindfulness – chánh niệm – là một trong những hình thức được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi.

Từ nền này hình thành các chương trình có cấu trúc như Mindfulness-Based Stress Reduction – MBSR và Mindfulness-Based Cognitive Therapy – MBCT. Những chương trình ấy có thời lượng, nội dung thực hành, người hướng dẫn và tiêu chí đánh giá tương đối rõ ràng.

Đối với người bệnh ung thư, meditation và mindfulness được sử dụng trong chăm sóc hỗ trợ. Các nghiên cứu khảo sát tác động của chúng đối với stress, lo âu, triệu chứng trầm cảm, đau, mất ngủ, mệt mỏi, khả năng thích ứng và chất lượng sống.

Viện Ung thư quốc gia (National Cancer Institute) của Hoa Kỳ cũng giới thiệu meditation, mindfulness và những kỹ thuật thư giãn như các biện pháp giúp người bệnh cùng người chăm sóc giảm stress và ứng phó với lo âu.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên được công bố năm 2024 trên 145 người bệnh ung thư tuyến tụy đang hóa trị đã khảo sát mindfulness kết hợp với phản hồi sinh học. Những tiêu chí được đánh giá gồm lo âu, đau, mệt mỏi về tinh thần, khả năng tập trung, thư giãn và chất lượng sống. Nghiên cứu ghi nhận sự cải thiện trong các lĩnh vực hỗ trợ này, không sử dụng THIỀN để xác định loại ung thư, phân giai đoạn hoặc thay thế hóa trị.

Vị trí của THIỀN trong y khoa vì vậy phải được xác định đúng. THIỀN có thể hỗ trợ người đang mang bệnh và góp phần cải thiện chất lượng sống. CHẨN ung thư vẫn cần khám lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh. ĐỊNH bệnh cần xác lập vị trí, loại tế bào, mức độ biệt hóa, chỉ số tăng sinh, nơi bệnh đã lan đến và giai đoạn. TRỊ bệnh phải dựa vào những kết quả ấy để lựa chọn phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, miễn dịch trị liệu, điều trị đích hoặc phương pháp chuyên khoa thích hợp.

• Sự bình tĩnh sau khi thiền không xác định được khối u đã nhỏ lại.
• Cảm giác nhẹ nhàng không cho biết tế bào ung thư thuộc loại nào.
• Một trải nghiệm nội tâm mạnh cũng không phân định được giai đoạn bệnh.

Cho nên: Hỗ trợ người đang mang bệnh và CHẨN – ĐỊNH – TRỊ chính chứng bệnh là hai lãnh vực và nhiệm vụ khác nhau.

III. THIỀN theo Dr. Joe Dispenza
Phương pháp được Mark Allen Ruegg thực hành mang tên Blessing of the Energy Centers – Sự ban phước từ các trung tâm năng lượng. Đây là chương trình do Dr. Joe Dispenza sáng lập và phổ biến qua sách Becoming Supernatural, các bài hướng dẫn bằng âm thanh, khóa học trực tuyến và retreat.

Phương pháp gồm nhiều bài thiền, hướng người thực hành lần lượt đặt sự chú ý vào những vùng được Dr. Joe gọi là energy centers – các trung tâm năng lượng của cơ thể. Theo cách giải thích của ông, mỗi trung tâm hoạt động như một “bộ não nhỏ”, có năng lượng, thông tin, hoạt động hóa học, hormone, cơ quan và hệ thống thần kinh riêng.

Người thực hành được hướng dẫn làm chậm hoạt động sóng não từ beta xuống alpha và theta, tập trung vào từng trung tâm rồi mở rộng sự chú ý đến khoảng không gian chung quanh. Sự chú ý và ý định được sử dụng để tổ chức lại năng lượng và thông tin, đưa các trung tâm đến trạng thái coherence – sự đồng bộ có trật tự.

Dr. Joe liên kết tiến trình này với hệ thần kinh tự chủ và cho rằng sự đồng bộ giữa các trung tâm có thể tác động đến trạng thái hóa học, hormone, tế bào, mô và cơ quan. Khái niệm trung tâm năng lượng (energy centers) có điểm tương đồng với luân xa (chakra) trong những truyền thống Ấn Độ, nhưng Blessing of the Energy Centers không phải nguyên bản của một pháp môn tôn giáo cổ truyền. Đây là hệ thống riêng của Dr. Joe, kết hợp ngôn ngữ về trung tâm năng lượng với sóng não, hệ thần kinh tự chủ, hormone, trường năng lượng và sự thay đổi sinh học.

Blessing of the Energy Centers có tên gọi, nền lý thuyết và cách hướng dẫn riêng. Những tác động được gán cho phương pháp thuộc nội dung do Dr. Joe xác lập; việc phương pháp này có một quy trình nhất quán áp dụng CHẨN – ĐỊNH – TRỊ ung thư hay không sẽ được giám định riêng.

IV. Mark Allen Ruegg bắt đầu thực hành THIỀN
Mark cho biết trước khi mắc bệnh ông chưa từng biết thiền. Sau khi được chẩn đoán ung thư giai đoạn IV và nghe tiên lượng thời gian sống còn lại khoảng bốn đến sáu tháng, ông tìm kiếm thêm những cách hỗ trợ mình trong quá trình điều trị.

Qua phim tài liệu Heal, Mark biết đến Dr. Joe Dispenza, sau đó tiếp cận sách, nội dung giảng dạy và những bài thiền của ông.
• Mark bắt đầu thực hành khi đã tiếp nhận hóa trị và miễn dịch trị liệu.
• Ông không ngừng điều trị y khoa để chuyển sang chỉ dùng THIỀN.
• Buffy, vợ của Mark, cùng tham gia và giúp ông duy trì việc thực hành hằng ngày. Bên cạnh THIỀN và điều trị y khoa, Mark còn thay đổi chế độ dinh dưỡng, vận động, môi trường sống, đời sống tâm linh, cách ứng phó với stress và sinh hoạt thường nhật.

Trong những cuộc phỏng vấn về sau, Mark gọi toàn bộ những điều mình đã thực hiện là Healing Recipe – công thức chữa lành. Công thức này gồm hóa trị, miễn dịch trị liệu, THIỀN, niềm tin, đời sống tâm linh, dinh dưỡng, vận động, gia tăng những điều tích cực và giảm stress.

V. Phương pháp và tần suất thực hành
Mark và Buffy thực hành Blessing of the Energy Centers hai lần mỗi ngày. Mark kể rằng lúc đầu ông vẫn còn nghi ngờ vì chưa từng thiền, nhưng hai người tiếp tục duy trì việc thực hành trong suốt quá trình điều trị.

Khi thiền, Mark hướng sự chú ý khỏi hình ảnh một người chỉ còn bốn đến sáu tháng để sống và tập trung vào hình ảnh một con người đang sống, khỏe mạnh và không còn để căn bệnh làm chủ mình. Ông liên kết sự thay đổi cách nhận biết bản thân với niềm tin rằng cơ thể không thể chữa lành nếu liên tục ở trong trạng thái sợ hãi và sinh tồn.

Tài liệu công khai không cho biết ngày Mark bắt đầu thực hành, thời lượng mỗi lần thiền, phiên bản Blessing of the Energy Centers được sử dụng hoặc thứ tự những bài ông đã thực hiện. Vì vậy, một phác trình THIỀN chi tiết hơn không thể được tái lập từ những thông tin hiện có.

VI. Trải nghiệm đặc biệt trong khi thiền
Mark kể rằng sau một lần thực hành THIỀN, ông và Buffy đi ngủ. Khoảng ba giờ sáng, ông tỉnh giấc vì đau dữ dội và cảm nhận một điều gì đó “bùng nổ” rồi thoát ra từ cột sống.

Đây là trải nghiệm do Mark trực tiếp cảm nhận và thuật lại. Tài liệu công khai không ghi nhận việc ông được bác sĩ khám ngay sau sự kiện, không xác định nguyên nhân y khoa của cơn đau và không có kết quả xét nghiệm hoặc chẩn đoán hình ảnh được thực hiện tại chính thời điểm ấy.

Mark đặt sự kiện lúc ba giờ sáng trong mối liên hệ với buổi thiền trước đó. Trải nghiệm này về sau được gọi là The 3am Explosion Post Meditation và trở thành một dấu mốc nổi bật trong câu chuyện của ông.

Mark đã có lịch chụp PET trước khi sự kiện xảy ra. Khoảng hai tuần sau, ông thực hiện lần PET theo lịch và kể rằng kết quả kiểm tra không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy.

“Hai tuần” vì vậy là một thời gian từ trải nghiệm lúc ba giờ sáng đến lần chụp PET, không phải toàn bộ thời gian Mark thực hành THIỀN.

VII. Vị trí của THIỀN trong câu chuyện được công bố
Trong lời kể đầy đủ của Mark, THIỀN là một thành phần trong Healing Recipe gồm điều trị y khoa và nhiều thay đổi trong đời sống. Mark cho biết ông không biết riêng yếu tố nào tạo ra kết quả nên tiếp tục duy trì những gì đang thực hiện.

Hệ thống THIỀN của Dr. Joe Dispenza công bố câu chuyện trong Stories of Transformation với tiêu đề Healed From Pancreatic Cancer – His Doctor Called Him A Miracle. Phần giới thiệu cho biết Mark đang hóa trị, chưa từng thiền trước đó, cùng vợ thực hành Blessing of the Energy Centers hai lần mỗi ngày và khoảng hai tuần sau trải nghiệm đặc biệt, lần chụp PET đã được lên lịch từ trước không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy.

Trong đoạn video ngắn được loan tải trên mạng xã hội, chẩn đoán ung thư giai đoạn IV, THIỀN, trải nghiệm lúc ba giờ sáng và kết quả PET được đặt liền nhau. Hóa trị được nhắc đến nhưng không giữ cùng mức độ nổi bật; miễn dịch trị liệu, toàn bộ các đợt hóa trị, diễn tiến của những tổn thương tại gan và những thành phần khác trong Healing Recipe không được trình bày đầy đủ.

Vì vậy, trong ca bệnh của Mark, THIỀN hiện diện cùng điều trị y khoa và những biện pháp hỗ trợ khác. Trong cách video được biên tập, THIỀN và trải nghiệm lúc ba giờ sáng lại giữ vị trí chuyển tiếp nổi bật giữa căn bệnh ở đầu câu chuyện và kết quả PET ở cuối câu chuyện. Đây là hai vị trí cần được phân định trước khi khảo sát quy tắc CHẨN – ĐỊNH – TRỊ.

CHƯƠNG D – Không Còn Phát Hiện UNG THƯ
I. Kết quả được Mark kể trong video
Mark Allen Ruegg kể rằng khoảng hai tuần sau trải nghiệm đặc biệt xảy ra sau khi THIỀN, ông thực hiện một lần PET đã được lên lịch từ trước. Kết quả kiểm tra không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy.

II. Diễn tiến có trước lần PET
Trước lần PET này, Mark đã được xác định mắc ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy giai đoạn IV, lan đến hạch lympho và gan. Ông đã tiếp nhận hóa trị và miễn dịch trị liệu, đồng thời thực hành bài thiền Blessing of the Energy Centers hai lần mỗi ngày, thay đổi chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt và môi trường sống.

III. Kết quả tại từng vị trí
Tại tuyến tụy, PET không còn phát hiện khối u. Tại hạch lympho, những lần kiểm tra sau điều trị không còn ghi nhận vùng đáng quan ngại. Tại gan, các tổn thương thu nhỏ và tiếp tục cải thiện qua những lần kiểm tra tiếp theo.

• Ba kết quả này không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, không thể nhập chúng thành một câu chung rằng lần PET ấy đã xác nhận toàn bộ ung thư trong cơ thể Mark biến mất.

IV. Kết quả theo nội hàm y khoa
• “Không còn phát hiện khối u” là kết quả của một phương tiện kiểm tra tại một thời điểm nhất định.
• “Lui bệnh”
là tình trạng các dấu hiệu của bệnh giảm xuống hoặc biến mất.
• “Không còn bằng chứng bệnh” có nghĩa là những phương tiện kiểm tra đang được sử dụng không tìm thấy dấu hiệu bệnh có thể nhận diện.
• “Chữa khỏi” là một xác lập rộng hơn, đòi hỏi thời gian theo dõi và đánh giá theo loại ung thư cụ thể.

Do đó, kết quả được công bố trong video được xác lập chính xác là: sau quá trình điều trị y khoa, thực hành THIỀN và những thay đổi hỗ trợ khác, PET không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy của Mark.

Kết quả ấy xuất hiện sau khi Mark thực hành THIỀN theo Dr. Joe Dispenza. Tuy nhiên,

việc THIỀN có phải là nguyên nhân tạo ra kết quả hay không chưa thể xác lập!

CHƯƠNG E – Đối Chiếu Quy Tắc CHẨN – ĐỊNH – TRỊ
I. Hai tiến trình cùng hiện hành
Từ lúc Mark Allen Ruegg xuất hiện những cơn đau bụng đến khi PET không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy, hai tiến trình cùng hiện hành nhưng không thực hiện cùng một chức năng.

• Tiến trình thứ nhất thuộc Y học hiện đại.
Mark được khám, thực hiện chẩn đoán hình ảnh, xác định vị trí khối u, lấy mẫu mô, phân loại tế bào ung thư, đo chỉ số tăng sinh, xác lập những nơi bệnh đã lan đến, phân giai đoạn, lựa chọn phương pháp điều trị và theo dõi đáp ứng bằng PET cùng các lần kiểm tra chuyên khoa.

• Tiến trình thứ hai là việc Mark cùng người vợ Buffy thực hành Blessing of the Energy Centers theo Dr. Joe Dispenza. THIỀN được đưa vào đời sống hằng ngày trong khi Mark đang tiếp nhận điều trị ung thư. Mark sử dụng phương pháp này để thay đổi trạng thái sống, giảm sự chi phối của sợ hãi, nuôi dưỡng hình ảnh một con người khỏe mạnh và hỗ trợ mình trong quá trình đối diện với bệnh.

Hai tiến trình này cùng xuất hiện trong ca bệnh nhưng phải được phân định theo chức năng thực sự của từng phương pháp.

II. Chức năng CHẨN
CHẨN bắt đầu từ việc nhận ra những triệu chứng đang hiện hành và sử dụng phương tiện thích hợp để tìm căn nguyên gây ra những triệu chứng ấy.

• Trong ca Mark, đau bụng dữ dội và sụt cân là những biểu hiện dẫn đến việc thăm khám. Lần chụp bụng không có chất cản quang tại khoa cấp cứu chưa phát hiện được khối u. Sau khi sỏi thận được xử lý nhưng đau bụng và sụt cân vẫn tiếp tục, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa chỉ định MRI. Chính MRI phát hiện khối u khoảng bốn centimét tại đầu tuyến tụy cùng những tổn thương ở hạch lympho và gan.

• THIỀN theo Dr. Joe không phát hiện khối u, không xác định vị trí tổn thương và không nhận ra nơi bệnh đã lan đến. Blessing of the Energy Centers cũng không cung cấp một quy trình khám, xét nghiệm hoặc chẩn đoán hình ảnh để phân biệt ung thư với viêm tụy, sỏi thận hay một nguyên nhân khác gây đau bụng.

Trong ca bệnh này, chức năng CHẨN được thực hiện bằng việc ghi nhận triệu chứng, khám chuyên khoa và chẩn đoán hình ảnh. THIỀN bắt đầu sau khi căn bệnh đã được phát hiện nên không giữ chức năng CHẨN ung thư.

III. Chức năng ĐỊNH
ĐỊNH là xác định căn nguyên đã được CHẨN phát hiện thuộc căn bệnh nào, có đặc tính sinh học ra sao, đã lan đến đâu và đang ở giai đoạn nào.

• Hình ảnh một khối u tại tuyến tụy chưa đủ để xác định bản chất của bệnh. Qua khảo sát mô bệnh học, khối u của Mark được phân loại là Pancreatic Neuroendocrine Carcinoma – ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy, không phải ung thư biểu mô tuyến ống tụy thường gặp. Chỉ số Ki-67 trên 90% cho biết tế bào ung thư có mức tăng sinh rất cao. Tổn thương tại hạch lympho và di căn gan xác lập bệnh ở giai đoạn IV.

Những dữ kiện này giúp bác sĩ phân biệt loại ung thư của Mark với những dạng ung thư tuyến tụy khác và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Việc Mark tham vấn sáu bác sĩ, trong đó có bác sĩ chuyên về NET và NEC, cũng diễn ra trên nền căn bệnh đã được ĐỊNH cụ thể.

• Blessing of the Energy Centers không lấy mẫu mô, không xác định nguồn gốc tế bào, không đo Ki-67, không phân biệt NET với NEC, không nhận biết di căn và không phân giai đoạn ung thư. Phương pháp hướng sự chú ý đến các energy centers nhưng không có quy trình dùng những trung tâm ấy để ĐỊNH loại bệnh của Mark.

Trong ca bệnh này, chức năng ĐỊNH được thực hiện bằng giải phẫu bệnh, những đặc điểm sinh học của khối u và kết quả chẩn đoán hình ảnh. THIỀN không thực hiện chức năng ĐỊNH bệnh.

IV. Chức năng TRỊ
TRỊ là lựa chọn và thực hiện phương pháp tác động đến căn bệnh có căn nguyên đã được CHẨN tìm ra và loại bệnh đã được ĐỊNH.

Trường hợp ung thư của Mark đã lan đến hạch lympho và gan, việc điều trị cần tác động đến toàn thân.

Sau khi tham vấn các bác sĩ, Mark bắt đầu hóa trị vào tháng 12.2023 và hoàn thành tổng cộng sáu đợt. Miễn dịch trị liệu được thực hiện trong quá trình điều trị và tiếp tục mỗi tháng sau khi hóa trị kết thúc. Mark còn được đặt stent để giữ đường mật thông thoáng, xử lý nhiễm trùng do stent kim loại và tiếp tục được chăm sóc bằng stent nhựa.

• Hóa trị và miễn dịch trị liệu được lựa chọn trên nền loại ung thư, mức tăng sinh, giai đoạn bệnh và tình trạng riêng của Mark. Đây là những phương pháp trực tiếp thuộc điều trị ung thư. Việc đặt stent không tiêu diệt tế bào ung thư nhưng giải quyết tình trạng tắc nghẽn đường mật và những vấn đề phát sinh quanh khối u.

• THIỀN được Mark thực hành trong cùng thời gian điều trị. Ông và Buffy thiền hai lần mỗi ngày, thay đổi cách đối diện với tiên lượng bệnh, giảm stress và nuôi dưỡng niềm tin vào khả năng sống.
Ở vị trí này, THIỀN “chỉ” có thể hỗ trợ người đang mang bệnh trong quá trình điều trị – chứ không thể TRỊ được bệnh!

Blessing of the Energy Centers không xác lập loại tế bào cần tác động, không lựa chọn cách xử lý theo giai đoạn, không quy định liều lượng theo kích thước hoặc mức độ lan tràn của khối u và không có tiêu chí chuyên môn để thay đổi phương pháp khi bệnh không đáp ứng. Trong tài liệu về ca Mark, THIỀN cũng không được sử dụng thay cho hóa trị, miễn dịch trị liệu hoặc việc theo dõi bằng PET.

Vì vậy, cần phân biệt việc THIỀN hỗ trợ trạng thái sống của Mark với việc điều trị trực tiếp căn bệnh đã được xác định. Hai hoạt động cùng hiện hành nhưng không thực hiện cùng một nhiệm vụ.

CHƯƠNG F – Diễn Tiến Sau Video: Thiền CHƯA CHẨN – ĐỊNH thì TRỊ Thế Nào?
I. Phạm vi và nguồn thông tin

• Video Stories of Transformation về Mark Allen Ruegg được ghi hình tại Week Long Retreat ở San Diego vào tháng 12.2025, công bố trên YouTube ngày 25.01.2026 và tiếp tục phát hành trên Facebook ngày 06.02.2026. Nội dung video dừng tại thời điểm Mark thuật lại rằng những lần kiểm tra không còn phát hiện ung thư.

• Ngày 07.04.2026, Project Purple Podcast phát hành Episode 327 – Surviving Pancreatic Cancer with Mark Allen Ruegg. Phần giới thiệu chương trình vẫn ghi nhận Mark đang ở tình trạng không còn phát hiện ung thư trong cơ thể và gọi diễn tiến của ông là sự chuyển từ ung thư giai đoạn IV sang lui bệnh. Nguồn này cho thấy ít nhất tại thời điểm cuộc phỏng vấn được công bố, câu chuyện “không còn phát hiện ung thư” vẫn tiếp tục được Mark và một tổ chức hỗ trợ người bệnh ung thư tuyến tụy phổ biến trước công chúng.

• Ngày 25.08.2026, chương trình The Miracle Morning công bố Episode 650 – Mark Allen Ruegg: A Living Miracle cùng toàn văn cuộc phỏng vấn. Trong cuộc trò chuyện được công bố này, Mark lần đầu trình bày chi tiết trong những nguồn được khảo sát rằng một khối u đã được phát hiện trở lại trong tuyến tụy khoảng ba tháng trước đó. Căn cứ vào thời điểm chương trình được phát hành và cách Mark nói “khoảng ba tháng trước”, lần phát hiện này được suy định vào khoảng tháng 5.2026.

• Cuối tháng 8.2026, Mark tiếp tục công bố Update #14 trên trang Facebook và Instagram cá nhân. Trong cập nhật này, ông gọi tổn thương được phát hiện là “một khối u mới trong tuyến tụy”, cho biết chưa phát hiện bệnh tại những nơi khác và mô tả khối u đang làm tắc một ống tụy, gây viêm tụy cùng nhiều cơn đau.

Những nguồn này là lời tự thuật công khai của Mark và nội dung do các chương trình phỏng vấn biên tập. Hồ sơ CT, MRI, PET, báo cáo giải phẫu bệnh và bệnh án nguyên bản của lần phát hiện mới chưa được công bố.

II. Tình trạng được công bố trước khi phát hiện lại khối u
• Trong cuộc phỏng vấn Project Purple được phát hành tháng 4.2026, Mark kể lại rằng sau chẩn đoán ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy giai đoạn IV, ông đã kết hợp hóa trị, miễn dịch trị liệu, THIỀN, dinh dưỡng, vận động, giảm stress và những thay đổi khác trong đời sống. Phần giới thiệu chương trình ghi rằng vào thời điểm ấy Mark không còn ung thư có thể phát hiện trong cơ thể.

Mark gọi những gì mình thực hành là Healing Recipe – công thức chữa lành. Bảy thành phần được ông xác định gồm niềm tin, THIỀN, đời sống tâm linh, tăng điều tích cực, giảm stress, dinh dưỡng và vận động. Điều trị y khoa bằng hóa trị và miễn dịch trị liệu vẫn hiện diện trong diễn tiến bệnh nhưng không được Mark xếp vào bảy thành phần mang tính đời sống của Healing Recipe.

• Cũng trong cuộc phỏng vấn được công bố ngày 25.08.2026, Mark nhìn lại giai đoạn trước khi khối u được phát hiện trở lại và kể rằng sau những đợt điều trị đầu tiên, PET từng không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy, hạch lympho và gan. Các lần CT và MRI tiếp theo cũng từng cho kết quả “sạch”. Chính trên nền những kết quả trước đó, Mark tham dự các chương trình của Dr. Joe Dispenza, được mời lên sân khấu kể lại câu chuyện và bắt đầu phổ biến Healing Recipe đến cộng đồng do mình thiết lập.

Như vậy, việc Mark chia sẻ câu chuyện chữa lành không kết thúc cùng video tháng 02.2026 mà tiếp tục được phổ biến qua podcast, mạng xã hội, chương trình hỗ trợ người bệnh và dự án sách của ông.

III. Khối u được phát hiện trở lại
Trong Episode 650, Mark nói rõ rằng khoảng ba tháng trước cuộc phỏng vấn, ông nhận kết quả chụp cho thấy khối u đã trở lại trong tuyến tụy. Mark dùng cách diễn đạt “my tumor’s back in my pancreas” – khối u của tôi đã trở lại trong tuyến tụy.

Theo lời Mark, khối u khi được nhận ra có kích thước khoảng 1,8 centimét và sau đó được ghi nhận khoảng hai centimét. Bác sĩ điều trị cho biết diễn tiến này không giống kiểu tái phát mà ông thường dự kiến đối với căn bệnh của Mark. Nếu bệnh trở lại theo diễn tiến trước đây, bác sĩ dự kiến tổn thương xuất hiện tại gan hoặc hạch lympho, là những nơi bệnh đã từng di căn. Tuy nhiên, tại thời điểm Mark thuật lại, gan và hạch lympho vẫn không có tổn thương được phát hiện; khối u được ghi nhận riêng trong tuyến tụy.

Thông tin này được Mark nhắc lại trong Update #14. Ông viết rằng một khối u mới đã được tìm thấy trong tuyến tụy và “tin tốt” là chưa thấy nó ở nơi nào khác.

Cách gọi “khối u trở lại” trong cuộc phỏng vấn và “một khối u mới” trong bài cập nhật đều là cách diễn đạt của Mark. Hồ sơ công khai chưa cung cấp kết quả sinh thiết mới để xác định đây là sự tái phát của ung thư biểu mô thần kinh nội tiết ban đầu, một tổn thương còn sót lại phát triển trở lại hay một tổn thương mới có đặc tính khác.

• Vì vậy, dữ kiện có thể xác lập đến ngày 02.09.2026 là:
Phương tiện chẩn đoán hình ảnh đã phát hiện một khối u khoảng 1,8 đến hai centimét trong tuyến tụy; gan và hạch lympho chưa có tổn thương được phát hiện theo lời Mark; bản giải phẫu bệnh của khối u mới chưa được công bố.

IV. Triệu chứng và ảnh hưởng của khối u
Trong cuộc phỏng vấn ngày 25.08.2026, Mark chủ yếu nói đến tác động tinh thần của kết quả kiểm tra mới. Ông cho biết
• sự sợ hãi và bất định trở lại mạnh mẽ, khiến ông rơi vào trạng thái mà chính ông gọi là một nơi “sâu và tối”;
•
ông cảm thấy hoảng sợ, buồn, trầm xuống và không biết phải làm gì tiếp theo.

Update #14 cung cấp thêm những biểu hiện thuộc cơ thể. Theo Mark, khối u làm tắc một ống tụy, gây viêm tụy và nhiều cơn đau. Một cập nhật tiếp theo còn cho biết khối u trong tuyến tụy bắt đầu ảnh hưởng đến đường mật và làm xuất hiện vàng da.

Những triệu chứng này không được nhận ra hoặc phân loại bằng THIỀN. Khối u được phát hiện bằng chẩn đoán hình ảnh; vị trí và kích thước được bác sĩ đánh giá; viêm tụy, tình trạng tắc ống tụy, ảnh hưởng đường mật, đau và vàng da đưa Mark trở lại quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa.

Tình trạng mới không còn chỉ là một hình ảnh không gây biểu hiện. Khối u đã tạo ra những thay đổi có thể nhận biết trong cơ thể và cần được CHẨN – ĐỊNH lại theo diễn tiến hiện tại.

V. Những lựa chọn điều trị sau khi khối u được phát hiện
Theo lời Mark trong Episode 650,
• tình trạng mới khác với thời điểm chẩn đoán giai đoạn IV cuối năm 2023. Khi ấy, bệnh đã lan đến gan và hạch lympho, phẫu thuật không phải là lựa chọn được đưa ra.

• Đến lần phát hiện năm 2026, khối u còn nhỏ và chỉ được ghi nhận trong tuyến tụy nên bác sĩ có thể xem xét xạ trị hoặc phẫu thuật.

Mark nói ban đầu ông không muốn tiếp nhận xạ trị hoặc phẫu thuật. Tuy nhiên, ông dùng câu chuyện người đàn ông chờ Thượng đế cứu khỏi trận lụt nhưng từ chối phao, thuyền và trực thăng để tự giải thích rằng điều trị y khoa cũng có thể chính là phương tiện cứu người đang được trao cho mình. Ông xác nhận nếu xạ trị là “chiếc phao cứu sinh” thì ông sẽ tiếp nhận nó.

Điều này cho thấy Mark không lựa chọn giữa Y học hiện đại và những phương pháp hỗ trợ theo cách loại trừ một bên. Ông tiếp tục gọi đường hướng của mình là integrative approach – tiếp cận kết hợp – và nói rằng mình cần làm bất cứ điều gì cần thiết.

Tại thời điểm cuộc phỏng vấn được công bố, xạ trị và phẫu thuật mới được Mark trình bày như những lựa chọn có thể thực hiện. Tài liệu công khai chưa cho biết phương án nào đã được chính thức lựa chọn, chưa có tên thủ thuật, lịch xạ trị, kế hoạch phẫu thuật hoặc kết quả sau can thiệp. Vì vậy, không thể viết rằng Mark đã được xạ trị, đã được phẫu thuật hoặc khối u mới đã biến mất.

VI. THIỀN và Healing Recipe sau khi khối u trở lại
Mark cho biết trước khi nhận kết quả mới, ông đã xây dựng Healing Recipe, tham gia podcast, chuẩn bị viết sách và hướng dẫn một cộng đồng gồm khoảng 300 người. Khi khối u xuất hiện trở lại, chính ông gọi sự kiện này là một “stress test” – phép thử chịu căng thẳng – đối với công thức của mình.

Mark nói rằng toàn bộ cấu trúc ấy đã sụp xuống “như một ngôi nhà bằng những lá bài”. Sự nghi ngờ xuất hiện:
ông tự hỏi mình có thật sự là người như đã công bố hay không, có đang lừa dối người khác hay không, câu chuyện trước đây có thật hay không và ung thư có trở lại hay không?

Mark cho rằng sự sợ hãi đã đưa khối u trở lại. Đây là cách giải thích của chính người bệnh về diễn tiến của mình.

Tuy nhiên, cuộc phỏng vấn không cung cấp kết quả xét nghiệm hoặc bằng chứng y khoa xác lập sợ hãi là nguyên nhân tạo ra khối u khoảng hai centimét trong tuyến tụy.

Sau đó, Mark cho biết mình trở lại những thành phần căn bản của Healing Recipe, tiếp tục THIỀN, dinh dưỡng, vận động, giảm stress, đời sống tâm linh và những nỗ lực khác. Ông bổ sung điều mà mình gọi là unwavering faith – đức tin không lay chuyển – vì cho rằng trước đây Healing Recipe của mình còn thiếu thành phần này.

Như vậy, Mark không xác định rằng Blessing of the Energy Centers đã sai và cũng không ngừng THIỀN sau khi khối u „mới“ được phát hiện. Ông tiếp tục đặt THIỀN trong một công thức rộng hơn và bổ sung đức tin để giải thích cách mình đối diện với lần bệnh xuất hiện trở lại.

Tuy nhiên,
• việc bổ sung đức tin không CHẨN được bản chất khối u mới,
• không ĐỊNH được đây là tái phát hay một tổn thương khác và
• không lựa chọn được phương pháp TRỊ liệu giữa xạ trị, phẫu thuật hoặc phương pháp điều trị chuyên khoa tương ứng.

VII. Hai thời điểm của cùng một ca bệnh
Diễn tiến được xác lập theo ba thời điểm:
• video Stories of Transformation được công bố ngày 06.02.2026, câu chuyện dừng ở kết quả không còn phát hiện ung thư.
• Đến khoảng tháng 5.2026, phương tiện kiểm tra phát hiện một khối u khoảng 1,8 centimét trong tuyến tụy.
• Đến tháng 8.2026, Mark cho biết khối u có kích thước khoảng hai centimét, gan và hạch lympho vẫn không có tổn thương được phát hiện, nhưng khối u đã gây tắc ống tụy, viêm tụy, đau và bắt đầu ảnh hưởng đến đường mật.

Hai thời điểm này không xóa bỏ lẫn nhau. Kết quả PET trước đó xác lập những gì phương tiện kiểm tra không còn phát hiện tại thời điểm ấy. Kết quả chụp năm 2026 xác lập tình trạng mới được phát hiện về sau. Chính diễn tiến tiếp tục của ca bệnh cho thấy “không còn phát hiện” không đồng nghĩa với “không bao giờ xuất hiện lại” và không tự xác lập “chữa khỏi”.

Mark vẫn tiếp tục THIỀN và những thành phần khác trong Healing Recipe. Đồng thời, chính việc kiểm tra y khoa đã phát hiện khối u, xác định kích thước cùng vị trí, theo dõi sự thay đổi và mở ra khả năng xạ trị hoặc phẫu thuật.

CHƯƠNG G – Giám Định – Kết Luận
Toàn bộ diễn tiến cho thấy căn bệnh của Mark Allen Ruegg được phát hiện bằng chẩn đoán hình ảnh, được xác định bằng mô bệnh học, được phân giai đoạn theo mức độ lan tràn và được điều trị bằng hóa trị cùng miễn dịch trị liệu.

THIỀN xuất hiện sau khi căn bệnh đã được phát hiện và trong lúc điều trị y khoa đang hiện hành. Mark thực hành Blessing of the Energy Centers hai lần mỗi ngày để giảm sự chi phối của sợ hãi, nuôi dưỡng niềm tin và thay đổi cách đối diện với bệnh. Đó là vị trí có thật của THIỀN trong ca bệnh.

Trải nghiệm đặc biệt lúc ba giờ sáng xảy ra khoảng hai tuần trước lần PET đã được lên lịch. PET sau đó không còn phát hiện khối u trong tuyến tụy. Trình tự ấy xác lập điều xảy ra trước và điều xảy ra sau, nhưng không tự xác lập THIỀN là nguyên nhân tạo ra kết quả. Trước lần PET, hóa trị, miễn dịch trị liệu, THIỀN, dinh dưỡng, vận động và những thay đổi khác trong đời sống của Mark đều đang hiện hành.

Khoảng tháng 5.2026, một khối u được phát hiện trở lại trong tuyến tụy. Mark vẫn tiếp tục THIỀN và Healing Recipe, nhưng chính phương tiện chẩn đoán hình ảnh mới phát hiện khối u, xác định kích thước cùng vị trí. Khi khối u gây tắc ống tụy, viêm tụy, đau và ảnh hưởng đến đường mật, xạ trị hoặc phẫu thuật lại được đặt ra.

Toàn bộ biên khảo luận cho thấy:
• Y học hiện đại đã thực hiện việc CHẨN để tìm khối u, ĐỊNH loại ung thư cùng giai đoạn bệnh và lựa chọn phương pháp TRỊ phù hợp.
• THIỀN hỗ trợ người đang mang bệnh nhưng không phát hiện được khối u, không xác định được loại tế bào, không phân giai đoạn và không lựa chọn được cách điều trị theo căn bệnh riêng của Mark.

Vì vậy, Biên khảo luận này đi đến kết luận rằng:
THIỀN theo Dr. Joe Dispenza không phải là một liệu pháp có quy tắc nhất quán dùng CHẨN – ĐỊNH – TRỊ chứng bệnh ung thư.

Sự giám định được thực hiện trong Biên khảo luận này không chỉ liên quan đến THIỀN hay riêng ca của Mark. Nó liên quan đến cách mỗi người tự bảo vệ mình khi nghe giới thiệu một loại thuốc hoặc phương pháp có khả năng “chữa bệnh”.

Một tên bệnh có thể được hình dung như MẪU SỐ CHUNG của nhiều phân số. Nhiều người mang cùng tên bệnh như “ung thư”, “đau đầu“, „trầm cảm“, „hoang tưởng“ v.v… nhưng CĂN dẫn đến triệu chứng bệnh ở mỗi người là một TỬ SỐ RIÊNG hoàn toàn khác nhau.

Cùng triệu chứng đau đầu nhưng cái đau không nhất thiết sinh ra từ cùng một CĂN. Thuốc chống đau có thể làm giảm triệu chứng, nhưng triệu chứng CHỈ tạm lắng xuống chưa có nghĩa CĂN sinh bệnh đã được tìm thấy để điều trị tận CĂN GỐC.

Cùng mang tên bệnh ung thư cũng không có nghĩa mọi người có cùng loại tế bào, cùng vị trí khối u, cùng mức độ lan rộng và cùng một cách chữa. Không thể chỉ nhìn tên bệnh chung rồi đem một phương pháp chung chung nào đó áp dụng cho tất cả.

Vì vậy, khi nghe nói một loại thuốc hay phương pháp chữa được một căn bệnh, điều cần biết là phương pháp ấy
• CHẨN như thế nào để tìm CĂN sinh triệu chứng bệnh;
• dựa vào đâu để ĐỊNH bệnh gì;
• rồi sau đó mới xác lập cách TRỊ ra sao.

Tóm lại, việc thật sự gọi là chữa lành một triệu chứng bệnh cần hội đủ ba yếu tố „ắt có va đủ“ là:
• CHẨN tìm CĂN.
• ĐỊNH biết BỆNH.
• TRỊ nơi CĂN đã được CHẨN và ĐỊNH.

Bởi thật đơn giản dễ hiểu rằng:
Chưa CHẨN – chưa ĐỊNH thì biết TRỊ thế nào!

CHƯƠNG H – Phụ Lục
I. Glossar A–Z | VN: EN / DE
1. Thuật ngữ
theo nội dung Biên khảo luận và bài THIỀN “Sự ban phước lành từ các trung tâm năng lượng“: Blessing of the Energy Centers / Segnung der Energiezentren

CĂN của triệu chứng: root or origin of a symptom / Ursprung eines Symptoms
Ca bệnh: case; clinical case / Fall; Krankheitsfall
Chăm sóc hỗ trợ: supportive care / unterstützende Behandlung; supportive Versorgung
Chánh niệm: mindfulness / Achtsamkeit
CHẨN: diagnostic examination; diagnostic investigation / diagnostische Untersuchung; diagnostische Abklärung
Chẩn đoán hình ảnh: diagnostic imaging / bildgebende Diagnostik
Chất cản quang: contrast agent / Kontrastmittel
Chất đánh dấu phóng xạ: radioactive tracer / radioaktiver Tracer
Chữa khỏi: cure / Heilung
Đáp ứng điều trị: treatment response / Therapieansprechen
Đáp ứng hoàn toàn: complete response / vollständiges Ansprechen; komplette Remission
Đau bụng: abdominal pain / Bauchschmerzen
Di căn: metastasis / Metastase
ĐỊNH: diagnostic determination; classification / diagnostische Bestimmung; Einordnung
Đời sống tâm linh: spirituality; spiritual life / Spiritualität; spirituelles Leben
Giai đoạn IV: stage IV / Stadium IV
Giải phẫu bệnh: pathology; histopathology / Pathologie; Histopathologie
Hạch lympho: lymph node / Lymphknoten
Hóa trị: chemotherapy / Chemotherapie
Không còn bằng chứng bệnh: no evidence of disease / kein Nachweis einer Erkrankung
Không còn phát hiện khối u: no detectable tumor / kein Tumor nachweisbar
Khối u: tumor / Tumor
Lui bệnh: remission / Remission
Miễn dịch trị liệu: immunotherapy / Immuntherapie
Mô bệnh học: histopathology / Histopathologie
Phân giai đoạn: staging / Stadieneinteilung
Phương pháp kết hợp: integrative approach / integrativer Ansatz
Sự chú ý: attention / Aufmerksamkeit
Sự đồng bộ có trật tự: coherence / Kohärenz
Sự tái xuất hiện của bệnh: recurrence / Wiederauftreten der Erkrankung; Rezidiv
Tế bào thần kinh nội tiết: neuroendocrine cell / neuroendokrine Zelle
THIỀN: meditation / Meditation
THIỀN trong chăm sóc hỗ trợ: meditation in supportive care / Meditation in der unterstützenden Behandlung
TRỊ: treatment; therapy / Behandlung; Therapie
Trung tâm năng lượng: energy center / Energiezentrum
Tuyến tụy: pancreas / Bauchspeicheldrüse; Pankreas
Tuyến thượng thận: adrenal gland / Nebenniere
Ung thư biểu mô: carcinoma / Karzinom
Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết: neuroendocrine carcinoma / neuroendokrines Karzinom
Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tuyến tụy: pancreatic neuroendocrine carcinoma / neuroendokrines Karzinom des Pankreas
Ung thư biểu mô tuyến ống tụy: pancreatic ductal adenocarcinoma / duktales Adenokarzinom des Pankreas
Ung thư giai đoạn IV: stage IV cancer / Krebs im Stadium IV
Ung thư tuyến thượng thận: adrenal cancer / Nebennierenkrebs
Ung thư tuyến tụy: pancreatic cancer / Bauchspeicheldrüsenkrebs; Pankreaskarzinom
Viêm tụy: pancreatitis / Pankreatitis; Bauchspeicheldrüsenentzündung
Vàng da: jaundice / Gelbsucht; Ikterus
Xạ trị: radiation therapy; radiotherapy / Strahlentherapie

2. Danh mục chữ viết tắt
BOTEC: Blessing of the Energy Centers – bài thiền Ban phúc cho các trung tâm năng lượng
CT: Computed Tomography / Computertomographie – chụp cắt lớp vi tính
D.C.: Doctor of Chiropractic – bằng chuyên môn về Chiropractic
Ki-67: Ki-67 Proliferation Index – chỉ số Ki-67 biểu thị tỷ lệ tế bào đang ở trong chu kỳ phân chia
MBSR: Mindfulness-Based Stress Reduction – chương trình giảm stress dựa trên chánh niệm
MBCT: Mindfulness-Based Cognitive Therapy – liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm
M.D.: Medical Doctor – bác sĩ y khoa
MRI: Magnetic Resonance Imaging / Magnetresonanztomographie – chụp cộng hưởng từ
NCI: National Cancer Institute – Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ
NEC: Neuroendocrine Carcinoma – ung thư biểu mô thần kinh nội tiết
NED: No Evidence of Disease – không còn bằng chứng bệnh có thể phát hiện tại thời điểm kiểm tra
NET: Neuroendocrine Tumor – u thần kinh nội tiết
PET: Positron Emission Tomography / Positronen-Emissions-Tomographie – chụp cắt lớp phát xạ positron
Ph.D.: Doctor of Philosophy – học vị tiến sĩ nghiên cứu
YHTC: symptom-based medicine / symptomorientierte Medizin – Y học triệu chứng

II. Nguồn video và tài liệu tham khảo
1. Video và nội dung do hệ thống Dr. Joe Dispenza công bố
• Dr. Joe Dispenza. (25.01.2026). Healed From Pancreatic Cancer – His Doctor Called Him A Miracle. YouTube. Video đầy đủ ghi lời kể của Mark Allen Ruegg tại Week Long Retreat, San Diego, tháng 12.2025.
• Dr. Joe Dispenza. (2026). Healed From Pancreatic Cancer – His Doctor Called Him A Miracle. Stories of Transformation. Trang giới thiệu chính thức của video, trình bày chẩn đoán, việc hóa trị, thực hành Blessing of the Energy Centers, trải nghiệm khi thiền và kết quả PET.
• Dr. Joe Dispenza. Official Website. Nguồn giới thiệu tác giả, hoạt động, sách, bài thiền, khóa học và retreat của Dr. Joe Dispenza.

2. Tài liệu về ca ung thư của Mark Allen Ruegg
• Brabant, Julia. (09.2024). A Miracle in the Making: How Hope Redefined Mark Ruegg’s Experience With Pancreatic Cancer. Seena Magowitz Foundation. Nguồn trình bày triệu chứng ban đầu, lần kiểm tra chưa phát hiện khối u, MRI, khối u khoảng bốn centimét tại đầu tụy, di căn hạch lympho và gan, tham vấn sáu bác sĩ, hóa trị, miễn dịch trị liệu, PET và việc xử lý stent.
• Project Purple Podcast. (07.04.2026). Episode 327 – Surviving Pancreatic Cancer with Mark Allen Ruegg. Cuộc phỏng vấn về chẩn đoán ung thư biểu mô thần kinh nội tiết, điều trị, Healing Recipe và tình trạng được Mark công bố trước khi khối u được phát hiện trở lại.
• Project Purple Podcast. (02.04.2026). Episode 327 – Surviving Pancreatic Cancer with Mark Allen Ruegg. SoundCloud. Bản giới thiệu và âm thanh của cùng cuộc phỏng vấn.
• Mark Allen Ruegg. Trang Facebook cá nhân. Nguồn tự thuật và những cập nhật công khai của Mark về tình trạng bệnh, hoạt động hỗ trợ người bệnh và Healing Recipe.

3. Tài liệu về diễn tiến sau video
• Elrod, Hal. (25.08.2026). Episode 650 – Mark Allen Ruegg: A Living Miracle. The Miracle Morning. Nguồn cung cấp toàn văn cuộc phỏng vấn, trong đó Mark xác nhận khối u được phát hiện trở lại trong tuyến tụy khoảng ba tháng trước, kích thước từ khoảng 1,8 đến hai centimét, tình trạng gan và hạch lympho cùng khả năng xạ trị hoặc phẫu thuật.
• Mark Allen Ruegg. (Cuối tháng 08.2026). Update #14 – Facing New Pancreatic Tumor and Asking for Prayers. Facebook. Nguồn do Mark tự công bố về khối u trong tuyến tụy, tình trạng tắc ống tụy, viêm tụy và đau.
• Mark Allen Ruegg. (Cuối tháng 08.2026). Update #15. Facebook. Cập nhật tiếp theo liên quan đến ảnh hưởng của khối u đối với đường mật và tình trạng vàng da.

4. Tài liệu về THIỀN và chăm sóc hỗ trợ trong y khoa
• National Cancer Institute. (11.04.2024). Meditation and Relaxation for Your Mind and Body. Tài liệu giới thiệu meditation, mindfulness và các kỹ thuật thư giãn như những cách giúp người bệnh ung thư cùng người chăm sóc giảm stress, ứng phó với lo âu và cảm thấy dễ chịu hơn.
• National Health Service. Mindfulness. Tài liệu giới thiệu mindfulness là sự chú ý đến những gì đang xảy ra bên trong và bên ngoài con người trong từng thời điểm.
• Mi, N., Zhang, S.-T., Sun, X.-L., Li, T., Liao, Y., Dong, L. & Chu, L.-L. (2024). A Randomized Controlled Trial of Mindfulness Meditation Combined With BrainLink Intelligent Biofeedback Instrument on Pancreatic Cancer Patients Under Chemotherapy. Brain and Behavior, 14(12), e70197. Nghiên cứu trên 145 người bệnh ung thư tuyến tụy đang hóa trị, đánh giá lo âu, đau, mệt mỏi não, khả năng tập trung, thư giãn và chất lượng sống; không sử dụng THIỀN để CHẨN, phân giai đoạn hoặc thay thế điều trị ung thư.

5. Tài liệu y khoa dùng để phân định thuật ngữ và phương pháp
• National Cancer Institute. Dictionary of Cancer Terms. Từ điển thuật ngữ dùng để đối chiếu các khái niệm về ung thư, khối u, di căn, lui bệnh, chữa khỏi, Ki-67 và những phương pháp điều trị.
• National Cancer Institute. Radiation Therapy to Treat Cancer. Tài liệu về nguyên tắc, hình thức và vị trí của xạ trị trong điều trị ung thư.
• National Cancer Institute. Jaundice. Tài liệu giải thích vàng da có thể xuất hiện khi đường mật bị tắc.
• Neuroendocrine Tumor Research Foundation. About Neuroendocrine Tumors. Tài liệu tổng quát về tế bào và các tân sinh thần kinh nội tiết.
• Klimstra, D. S., Modlin, I. R., Coppola, D., Lloyd, R. V. & Suster, S. (2010). The Pathologic Classification of Neuroendocrine Tumors: A Review of Nomenclature, Grading, and Staging Systems. Pancreas, 39(6), 707–712. Tài liệu về phân loại mô bệnh học, cấp độ và phân giai đoạn tân sinh thần kinh nội tiết.

III. Ghi chú:
Toàn bộ nguồn trực tuyến được kiểm tra lần cuối ngày 02.09.2026. Các bài đăng, podcast và video ghi nhận lời tự thuật cùng nội dung truyền thông về ca Mark Allen Ruegg; chúng không thay thế hồ sơ bệnh án, báo cáo giải phẫu bệnh hoặc phúc trình chẩn đoán hình ảnh nguyên bản.


Hoàn tất ngày thứ NĂM, 03.09.2026
© Ngoc-Diep NGO | All rights reserved

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc