DẪN NHẬP

Ngày nay, không khó để gặp một người cùng lúc mang nhiều bệnh trong cơ thể. Cao huyết áp, béo phì, đau cột sống, đau khớp gối, suy giảm thị lực, tiểu đường, rối loạn giấc ngủ, căng thẳng hay nhiều bệnh chứng khác thường xuất hiện cùng lúc ở một người. Hình ảnh này đang quen thuộc vin con người trong xã hội hiện đại.

Đối với y học triệu chứng, mỗi bệnh đều có tên gọi riêng, tiêu chuẩn chẩn đoán, nguyên nhân bệnh và phương pháp điều trị vì thế cũng riêng biệt. Vì vậy, người bệnh thường được chuyển đến nhiều chuyên khoa khác nhau để được chẩn đoán và điều trị đúng căn bệnh.

Chính từ thực tế lâm sàng này, một câu hỏi rất đáng quan tâm được nêu ra.

Nếu một người cùng lúc có năm, sáu hay nhiều triệu chứng bệnh khác nhau, thì đó thật sự có phải là năm, sáu căn bệnh hoàn toàn khác nhau? Hay tất cả chỉ là nhiều bệnh chứng khác nhau cùng có một nguyên nhân mà chưa được nhận ra?

ATLAS-CASE này không được dựng từ một giả thuyết, nà được thực hiện từ một trường hợp có thật.

Phụ nữ 57 tuổi, chuyên gia giám định y tế của một công ty bảo hiểm sức khỏe tại Đức, tham dự khóa học Năng Lượng TÂM-THỂ Phản xạ trên Mặt (P.E.R.G.® nach NGOs) tại Viện Y khoa PARACELSUS Đức, chi nhánh tại Münster, vào tháng Hai năm 2025. Bà không đến vì một chứng bệnh, mà mang theo nhiều triệu chứng đã tồn tại trong nhiều năm.

Ở trường hợp này, một câu hỏi được đặt ra:

Liệu những triệu chứng này có thật sự do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, hay CHỈ từ MỘT lý do DUY NHẤT nào đó?

Việc tìm đáp án của câu hỏi này là nội dung khảo sát của ATLAS-CASE: BỆNH THỜI ĐẠI – ĐA TRIỆU CHỨNG BỆNH thật sự do NHIỀU NGUYÊN NHÂN dẫn đến?

* * *

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

CHƯƠNG A
BỆNH theo Y Học Triệu Chứng
I. Nhóm bệnh, định nghĩa và phân loại
II. Các triệu chứng đi kèm
III. Chẩn đoán
IV. Các phương pháp điều trị hiện hành
V. Tiến trình theo dõi – tái phát
VI. Hiện trạng và những số liệu liên quan
VII. Tài liệu tham khảo cho CHƯƠNG A
VIII. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG A

CHƯƠNG B
BỆNH theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
I. Quy trình 4-TRỤ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
II. Triệu chứng bệnh là nguyên nhân hay bệnh chứng?
III. CHẨN – ĐỊNH – TRỊ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
IV. PHÒNG bệnh theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
V. KẾT QUẢ chứng minh
VI. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG B

CHƯƠNG C
GIÁM ĐỊNH ĐỐI CHIẾU
TỔNG HỢP giữa Y Học Triệu chứng và TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

CHƯƠNG D – KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH

CHƯƠNG E
– Phụ Lục
Glossar A–Z | VN: EN / DE
1. Thuật ngữ theo nội dung
2. Thuật ngữ chuyên biệt độc lập của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

* * *

CHƯƠNG A – BỆNH theo Y Học Triệu Chứng

Khi tham dự khóa học Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®, người bệnh khai báo hiện có năm triệu chứng bệnh chính gồm:

Huyết áp trung bình 160/90 mmHg.
Béo phì, cân nặng trên 90 kg.
Đau lưng vùng thận, mức độ đau 7/10.
Hai đầu gối không thể nâng cao, mức độ khó chịu 7/10.
Sợ bóng tối vì thị lực suy giảm, mức độ khó chịu 6/10.

Năm bệnh (05) mà người bệnh khai báo thuộc nhiều nhóm bệnh khác nhau theo y học triệu chứng. Mỗi bệnh đều có định nghĩa, tiêu chuẩn phân loại và hướng tiếp cận riêng. Vì vậy, trước khi khảo sát diễn tiến lâm sàng, cần xác định từng bệnh đang thuộc nhóm bệnh nào theo các tiêu chuẩn y học hiện hành.

I. Nhóm bệnh, định nghĩa và phân loại
Người bệnh khai báo năm bệnh đang có gồm: cao huyết áp, béo phì, đau lưng vùng thận, hai đầu gối không thể nâng cao và sợ bóng tối vì thị lực suy giảm.

Theo y học triệu chứng, năm bệnh này không thuộc cùng một nhóm bệnh mà được phân loại theo nhiều chuyên ngành khác nhau. Cho nên, mỗi bệnh đều có định nghĩa, tiêu chuẩn phân loại, phương pháp chẩn đoán và hướng điều trị riêng. Việc xác định đúng nhóm bệnh là bước đầu tiên trước khi khảo sát triệu chứng, chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

1. Cao huyết áp thuộc nhóm bệnh TIM MẠCH. Đây là tình trạng huyết áp động mạch tăng cao kéo dài so với giới hạn bình thường và là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh tim mạch, đột quỵ, suy tim và bệnh thận mạn. Hiện nay, tăng huyết áp được phân loại theo mức huyết áp đo được và được chia thành nhiều mức độ để phục vụ cho việc theo dõi và điều trị.

2. Béo phì thuộc nhóm bệnh RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA và DINH DƯỠNG. Đây là tình trạng tích lũy mỡ quá mức hoặc phân bố mỡ bất thường làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh như đái tháo đường týp 2, bệnh tim mạch, rối loạn mỡ máu, gan nhiễm mỡ và nhiều rối loạn chuyển hóa khác. Béo phì thường được phân loại dựa trên chỉ số khối cơ thể (BMI) kết hợp với vòng bụng và các yếu tố nguy cơ đi kèm.

3. Đau lưng vùng thận theo y học triệu chứng trước hết được xếp vào nhóm bệnh CƠ XƯƠNG KHỚP hoặc nhóm BỆNH TIẾT NIỆU, tùy theo nguyên nhân được xác định sau khi chẩn đoán. Triệu chứng đau vùng thắt lưng có thể liên quan đến cột sống, cơ, dây chằng, thần kinh hoặc cũng có thể xuất phát từ thận và đường tiết niệu.

4. Hai đầu gối không thể nâng cao thuộc nhóm bệnh CƠ XƯƠNG KHỚP và VẬN ĐỘNG. Đây là biểu hiện của tình trạng hạn chế chức năng khớp gối do nhiều nguyên nhân khác nhau như thoái hóa khớp, tổn thương sụn, dây chằng, gân cơ hoặc các bệnh viêm khớp. Mức độ hạn chế vận động được đánh giá thông qua khám lâm sàng kết hợp với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khi cần thiết.

5. Sợ bóng tối vì thị lực suy giảm trước hết thuộc nhóm bệnh của MẮT và THỊ GIÁC. Theo y học triệu chứng, giảm thị lực trong điều kiện ánh sáng yếu có thể liên quan đến nhiều bệnh của giác mạc, thủy tinh thể, võng mạc, thần kinh thị giác hoặc những nguyên nhân khác. Vì vậy, việc xác định nguyên nhân cần được thực hiện thông qua khám chuyên khoa mắt và các xét nghiệm chuyên biệt.

II. Các triệu chứng đi kèm
Theo y học triệu chứng, mỗi bệnh không chỉ biểu hiện bằng một triệu chứng đơn lẻ mà thường đi kèm với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau. Những triệu chứng đi kèm này giúp bác sĩ định hướng nguyên nhân, đánh giá mức độ bệnh và phát hiện các biến chứng có thể đã hoặc đang xảy ra.

Ở người bị cao huyết áp, ngoài chỉ số huyết áp tăng cao, người bệnh có thể xuất hiện đau đầu, chóng mặt, ù tai, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi hoặc hoàn toàn không có triệu chứng trong một thời gian dài. Khi huyết áp kéo dài nhiều năm mà không được kiểm soát tốt, nguy cơ tổn thương tim, não, thận và mạch máu sẽ tăng lên.

Ở người bị béo phì, ngoài tình trạng tăng cân và tích lũy mỡ trong cơ thể, người bệnh thường dễ mệt khi vận động, giảm khả năng hoạt động thể lực, đau cột sống, đau khớp gối, tăng nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2, rối loạn mỡ máu, gan nhiễm mỡ, hội chứng ngưng thở khi ngủ và nhiều bệnh tim mạch.

Đối với đau lưng vùng thận, triệu chứng có thể xuất hiện liên tục hoặc từng đợt, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội, tăng lên khi vận động hoặc thay đổi tư thế. Tùy theo nguyên nhân, người bệnh còn có thể kèm theo hạn chế vận động cột sống, đau lan xuống chân, rối loạn cảm giác hoặc các triệu chứng của bệnh đường tiết niệu như tiểu buốt, tiểu nhiều lần hoặc tiểu ra máu.

Ở người có hạn chế vận động hai khớp gối, ngoài việc khó nâng chân hoặc khó leo cầu thang, người bệnh còn có thể đau khi đi lại, cứng khớp sau khi nghỉ ngơi, giảm biên độ vận động, có tiếng lạo xạo trong khớp hoặc giảm khả năng chịu lực khi đứng lâu.

Đối với suy giảm thị lực trong điều kiện ánh sáng yếu, người bệnh thường gặp khó khăn khi lái xe vào buổi tối, giảm khả năng quan sát, nhìn mờ, chói sáng khi gặp đèn đối diện hoặc khó thích nghi khi chuyển từ nơi sáng sang nơi tối. Tùy theo nguyên nhân, tình trạng này có thể tiến triển từ từ hoặc xuất hiện cùng với các bệnh khác của mắt.

III. Bảng đúc kết MỤC II

Triệu chứng bệnhTriệu chứng chínhTriệu chứng đi kèm thường gặpBiến chứng có thể gặp
Cao huyết ápHuyết áp tăngĐau đầu, chóng mặt, ù tai, hồi hộp…Đột quỵ, suy tim, bệnh thận…
Béo phìTăng cân, tích mỡMệt khi vận động, đau khớp, khó thở…Đái tiểu đường týp 2, tim mạch, gan nhiễm mỡ…
Đau lưng vùng thậnĐau vùng thắt lưngHạn chế vận động, đau lan…Mạn tính, giảm chức năng vận động…
Hai đầu gối không thể nâng caoGiảm vận động khớpĐau khi đi lại, cứng khớp…Giảm khả năng đi lại, thoái hóa…
Sợ bóng tối vì thị lực suy giảmNhìn kém khi thiếu sángChói sáng, giảm quan sát…Tăng nguy cơ tai nạn, giảm chất lượng sống…

IV. Chẩn đoán
Sau khi ghi nhận các bệnh và những triệu chứng đi kèm, bước tiếp theo của y học triệu chứng là xác định nguyên nhân của từng bệnh thông qua khám lâm sàng và các phương tiện cận lâm sàng phù hợp.

Đối với cao huyết áp, việc chẩn đoán được thực hiện bằng đo huyết áp nhiều lần theo quy trình chuẩn, kết hợp với khai thác bệnh sử, khám lâm sàng và các xét nghiệm nhằm đánh giá nguy cơ tim mạch cũng như tổn thương cơ quan đích.

Đối với béo phì, bác sĩ đánh giá chỉ số khối cơ thể (BMI), vòng bụng, phân bố mỡ cơ thể và các bệnh chuyển hóa đi kèm. Đồng thời tiến hành các xét nghiệm cần thiết để phát hiện những rối loạn liên quan.

Đối với đau lưng vùng thận, việc chẩn đoán cần phân biệt giữa nguyên nhân từ cột sống, cơ xương khớp, thần kinh và các bệnh của thận hoặc đường tiết niệu. Khám lâm sàng thường được kết hợp với các xét nghiệm máu, nước tiểu và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khi cần thiết.

Đối với hạn chế vận động hai khớp gối, bác sĩ đánh giá chức năng vận động, mức độ đau, biên độ cử động của khớp, đồng thời kết hợp chụp X-quang, siêu âm hoặc cộng hưởng từ trong những trường hợp cần xác định tổn thương cấu trúc.

Đối với suy giảm thị lực trong bóng tối, người bệnh được khám chuyên khoa mắt để đánh giá thị lực, giác mạc, thủy tinh thể, võng mạc, thần kinh thị giác và các cấu trúc liên quan. Tùy theo kết quả thăm khám, bác sĩ sẽ chỉ định thêm các xét nghiệm chuyên biệt nhằm xác định nguyên nhân.

Theo cách tiếp cận của y học triệu chứng, mỗi bệnh được chẩn đoán theo quy trình chuyên môn riêng và được xử lý như một bệnh độc lập trước khi chuyển sang bước lựa chọn phương pháp điều trị.

V. Các phương pháp điều trị hiện hành
Sau khi xác định chẩn đoán, mỗi bệnh sẽ được điều trị theo phác đồ tương ứng của từng chuyên khoa. Mục tiêu điều trị là kiểm soát triệu chứng, làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Đối với cao huyết áp, việc điều trị bao gồm điều chỉnh lối sống kết hợp với sử dụng thuốc hạ huyết áp khi cần thiết. Người bệnh được khuyến khích giảm lượng muối trong khẩu phần ăn, duy trì cân nặng hợp lý, tăng cường vận động thể lực, hạn chế rượu bia, ngừng hút thuốc lá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào mức độ tăng huyết áp, tuổi, các bệnh đi kèm và nguy cơ tim mạch của từng người.

Đối với béo phì, điều trị chủ yếu tập trung vào thay đổi chế độ dinh dưỡng, tăng cường hoạt động thể lực và điều chỉnh lối sống. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định thuốc hỗ trợ giảm cân hoặc phẫu thuật điều trị béo phì khi người bệnh không đáp ứng với các phương pháp điều trị bảo tồn và có chỉ định phù hợp.

Đối với đau lưng vùng thận, phương pháp điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân được xác định sau khi chẩn đoán. Nếu nguyên nhân thuộc cơ xương khớp, điều trị thường bao gồm nghỉ ngơi hợp lý, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và sử dụng thuốc giảm đau hoặc kháng viêm khi cần thiết. Nếu nguyên nhân thuộc bệnh thận hoặc đường tiết niệu thì việc điều trị sẽ được thực hiện theo chuyên khoa tương ứng.

Đối với hạn chế vận động hai khớp gối, điều trị có thể bao gồm giảm cân, tập phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, sử dụng thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm hoặc các phương pháp can thiệp khác tùy theo mức độ tổn thương của khớp. Những trường hợp tổn thương nặng có thể được chỉ định điều trị ngoại khoa.

Đối với suy giảm thị lực trong điều kiện ánh sáng yếu, việc điều trị được thực hiện sau khi xác định nguyên nhân gây giảm thị lực. Tùy từng bệnh cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định điều trị nội khoa, phẫu thuật hoặc các biện pháp hỗ trợ thị giác nhằm cải thiện chức năng nhìn và hạn chế tiến triển của bệnh.

Nhìn chung, theo y học triệu chứng, mỗi bệnh đều được điều trị theo phác đồ riêng của từng chuyên khoa với mục tiêu kiểm soát từng bệnh đang được xác định.

VI. Tiến trình theo dõi – tái phát

Sau khi điều trị, người bệnh tiếp tục được theo dõi định kỳ nhằm đánh giá hiệu quả điều trị, phát hiện sớm các biến chứng và điều chỉnh phương pháp điều trị khi cần thiết.

Đối với cao huyết áp, người bệnh cần theo dõi huyết áp thường xuyên và tái khám định kỳ để đánh giá hiệu quả của thuốc cũng như nguy cơ tổn thương các cơ quan đích. Việc điều trị thường kéo dài nhiều năm và ở nhiều trường hợp cần duy trì suốt đời.

Đối với béo phì, quá trình theo dõi tập trung vào sự thay đổi cân nặng, chỉ số khối cơ thể, vòng bụng và các bệnh chuyển hóa đi kèm. Nếu chế độ ăn uống và lối sống không được duy trì ổn định, cân nặng có thể tăng trở lại sau khi đã giảm.


Đối với đau lưng vùng thậnhạn chế vận động hai khớp gối, việc theo dõi nhằm đánh giá mức độ đau, khả năng vận động và hiệu quả của các biện pháp điều trị. Nhiều trường hợp có thể tái phát khi người bệnh vận động quá mức, tuổi tác tăng lên hoặc nguyên nhân nền chưa được kiểm soát.

Đối với suy giảm thị lực, người bệnh cần khám mắt định kỳ để theo dõi diễn tiến của bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị và phát hiện những thay đổi mới nếu có.

Theo cách tiếp cận của y học triệu chứng, mỗi bệnh đều được theo dõi riêng theo chuyên khoa tương ứng. Khi người bệnh đồng thời mắc nhiều bệnh, quá trình theo dõi cũng thường được thực hiện song song tại nhiều chuyên khoa khác nhau để đánh giá diễn tiến của từng bệnh và điều chỉnh phương pháp điều trị khi cần thiết.

VII. Hiện trạng và những số liệu liên quan

BệnhHiện trạng trên thế giớiXu hướngÝ nghĩa lâm sàng
Cao huyết áp1,4 tỷ người trưởng thành mắc tăng huyết áp (2024)Tiếp tục gia tăng theo tuổi và các bệnh không lây nhiễmLà yếu tố nguy cơ hàng đầu của đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh thận mạn.
Béo phìTỷ lệ béo phì đang tăng ở hầu hết các quốc gia, trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn nhất hiện nayGia tăng ở cả người lớn và trẻ emLà yếu tố nguy cơ của đái tháo đường, tim mạch và nhiều bệnh mạn tính.
Đau lưng619 triệu người bị đau thắt lưng (2020); dự báo ≈ 843 triệu người vào năm 2050Tiếp tục tăng do già hóa dân sốLà nguyên nhân hàng đầu gây mất khả năng lao động trên toàn thế giới.
Đau khớp gối (thoái hóa)528 triệu người mắc thoái hóa khớp (2019); khoảng 365 triệu trường hợp ở khớp gốiTiếp tục tăng theo tuổi và béo phìLà một trong những nguyên nhân chính gây giảm khả năng vận động.
Suy giảm thị lựcHàng tỷ người trên thế giới đang sống với một dạng suy giảm thị lực hoặc bệnh mắt; gánh nặng tăng theo tuổiGia tăng cùng với già hóa dân sốLàm giảm chất lượng cuộc sống và tăng nguy cơ tai nạn, đặc biệt trong điều kiện ánh sáng yếu.

VIII. Tài liệu tham khảo cho CHƯƠNG A
Toàn bộ định nghĩa, phân loại, triệu chứng, chẩn đoán, phương pháp điều trị và các số liệu thống kê trong Chương A được tổng hợp từ các hướng dẫn chuyên môn, tổ chức y tế quốc tế, các nghiên cứu dịch tễ học và các tạp chí y học có bình duyệt. Việc sử dụng các nguồn tài liệu này nhằm giúp người đọc có thể đối chiếu, kiểm chứng và tiếp tục nghiên cứu khi cần thiết.

1. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

  • Hypertension
  • Obesity
  • Low Back Pain
  • Osteoarthritis
  • Vision Impairment and Blindness

2. Các hướng dẫn chuyên môn quốc tế

  • ESC – European Society of Cardiology (Hypertension Guidelines)
  • ESH – European Society of Hypertension
  • AHA – American Heart Association
  • ACC – American College of Cardiology
  • EASO – European Association for the Study of Obesity
  • AAOS – American Academy of Orthopaedic Surgeons
  • OARSI – Osteoarthritis Research Society International
  • AAO – American Academy of Ophthalmology

3. Các nghiên cứu dịch tễ học

  • Global Burden of Disease (GBD)
  • The Lancet
  • JAMA
  • The New England Journal of Medicine (NEJM)
  • BMJ

4. Các hệ thống phân loại bệnh

  • ICD-11 – International Classification of Diseases
  • ICD-10-GM (Đức)
  • ICD-10-CM (Hoa Kỳ)

5. Tài liệu chuyên khảo

  • Giáo trình Nội khoa.
  • Giáo trình Tim mạch.
  • Giáo trình Nội tiết – Chuyển hóa.
  • Giáo trình Cơ xương khớp.
  • Giáo trình Nhãn khoa.
  • Các sách chuyên khảo và tổng quan hệ thống (Systematic Review) liên quan đến từng bệnh.

VIX. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG A

Nội dungTóm lược theo Y học triệu chứng
Đối tượng khảo sátNgười bệnh đang có đồng thời năm (05) loại triệu chứng bệnh.
Nhóm bệnhThuộc nhiều chuyên khoa khác nhau: Tim mạch, Chuyển hóa, Cơ xương khớp, Tiết niệu (chẩn đoán phân biệt), Nhãn khoa.
Định nghĩa – Phân loạiMỗi bệnh có định nghĩa, tiêu chuẩn phân loại và hướng dẫn chuyên môn riêng.
Triệu chứng đi kèmMỗi bệnh có các triệu chứng lâm sàng và nguy cơ biến chứng khác nhau.
Chẩn đoánThực hiện theo từng chuyên khoa bằng khám lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh khi cần.
Điều trị hiện hànhĐiều trị theo từng bệnh bằng thuốc, thay đổi lối sống, phục hồi chức năng hoặc can thiệp chuyên khoa tùy chỉ định.
Theo dõi – Tái phátTheo dõi định kỳ theo từng chuyên khoa; nguy cơ tái phát hoặc tiến triển tùy từng bệnh.
Hiện trạngCả năm (05) triệu chứng bệnh được khảo sát đều thuộc những nhóm bệnh phổ biến, có gánh nặng lớn và xu hướng gia tăng trên toàn thế giới
Nền tảng học thuậtDựa trên các hướng dẫn chuyên môn, nghiên cứu dịch tễ học và tài liệu tham khảo được trình bày tại Mục VIII.


CHƯƠNG B – BỆNH theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

I. Quy trình 4-TRỤ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
Sau khi tìm hiểu bệnh năm (05) bệnh là cao huyết áp, béo phì, đau lưng vùng thận, hai đầu gối không thể nâng cao và sợ bóng tối vì thị lực suy giảm của phụ nữ học viên theo Y Học Triệu Chứng, một câu hỏi nền tảng vô cùng quan trọng đối với TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs được nêu ra là:

TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) như thế nào để mang đến cường độ tâm-lý (psycho-energetic intensity) ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) dẫn đến nhiều triệu chứng bệnh ĐANG xảy ra (presently, continuously happening) nơi SOMA (thân) hay TÂM-lý (Psyche) của một con người?

Đây chính là câu hỏi bắt buộc phải được đặt ra trước khi điều trị viên Chẩn–Định–Trị (Diagnosis – Indication Assessment – Therapy) bất kỳ một trường hợp lâm sàng theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

Khác với Y Học Triệu Chứng thường bắt đầu từ triệu chứng bệnh đang xảy ra, TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs bắt đầu từ quy trình 4-TRỤ gồm TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN.

Theo quy trình này, năm (05) triệu chứng xảy ra cùng lúc không phải là điểm khởi đầu của sự khảo cứu, mà chúng CHỈ là những triệu chứng bệnh ĐANG được nhận biết nơi SOMA. Cũng như vậy, nhiều triệu chứng đi kèm v.v… hoặc những hành vi hay tâm lý khác cũng chỉ là những triệu chứng hay bệnh  ĐANG xảy ra nơi thân gồm Soma vật-lý kể cả Soma tâm-lý.

Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs (TÁC-Ý-Science)

• TÂM được hiểu: CHỈ là một Kho Dữ Liệu Sống (Life-Data-Bank) ĐANG hiện hữu (presently, continuously existing) nơi mỗi người. Chức năng của kho dữ liệu sống này lả ghi nhận, lưu giữ tất cả những dữ liệu về kiến thức, kinh nghiệm, cảm thọ v.v…  ĐÃ và ĐANG hiện hành (presently, continuously operating) đồng thời cung cấp chúng cho TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) chọn để định hướng cách ứng xử đối với mọi tình huống ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) là đối tượng của nó, từ đó mang đến một cường độ tâm lý ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) để cùng lúc dẫn đến những hiện trạng ĐANG xảy ra (presently, continuously happening) ở trên, bên trong là SOMA vật lý hoặc bên ngoài là SOMA tâm-lý ngay từng sát-na sống.

• TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) định hướng cường độ tâm-lý gọi là NĂNG.

• NĂNG là cường độ tâm-lý (psycho-energetic intensity) ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) tương ứng với TÁC-Ý ĐANG hiện hành.

Khi TÁC-Ý ĐANG hiện hành thì NĂNG ĐANG có mặt.

THÂN (soma)là nơi ghi nhận mọi biểu hiện do cường độ của NĂNG tương ứng với TÁC-Ý dẫn đến – có thể ở bên ngoài hay bên trong thân (soma). Biểu hiện này được ghi nhận có thể là đau, co thắt, viêm, mất ngủ, tăng huyết áp, trầm cảm, lo sợ v.v…

Theo nguyên lý „4 – Trụ“ trong TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs thì tất cả những triệu chứng hay bệnh thân, tâm-lý, tâm-thần kể cả tâm-thể đều được nhìn là những biểu hiện do NĂNG tương ứng với TÁC-Ý dẫn đến.

Ghi chú: Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, những gì Y Học Triệu Chứng gọi là triệu chứng bệnh THÂN, TÂM LÝ hay TÂM THẦN đều là OUTPUT của INPUT – TÁC-Ý ĐANG hiện hành.

II. Năm (05) triệu chứng bệnh này là nguyên nhân hay là bệnh
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, năm (05) bệnh này không phải là nguyên nhânCHỈ là những triệu chứng bệnh.

Tất cả bệnh thân hay tâm-lý hoặc tâm-thần CHỈ là một hiện trạng, một dấu hiệu ĐANG xảy ra (presently, continuously happening) tương ứng với một TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) trong một bối cảnh nhất định ĐANG có mặt (presently continuously appearing).

Do đó, việc Chẩn–Định–Trị (Diagnosis – Indication Assessment – Therapy) theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOskhông dừng lại ở hiện trạng hay dấu hiệu của năm (05) triệu chứng bệnh này, mà bắt buộc PHẢI truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến những bệnh đó.

III. CHẨN – ĐỊNH – TRỊ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOsTheo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, đối tượng của Chẩn–Định–Trị không phải là năm (05) bệnh, mà là TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến năm (05) bệnh ĐANG xảy ra.

Quy trình Chẩn–Định–Trị được thực hiện theo trình tự “3-CHẨN4-Y” của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs gồm:

1. CHẨN:
Loại trừ các bệnh THÂN (somatic diseases) gây năm (05)triệu chứng bệnh bằng SƠ-Chẩn (Initial Diagnosis).

2. ĐỊNH:
• Xác định năm (05)triệu chứng bệnh là bệnh TÂM-THỂ (psychosomatic diseases) bằng TIỀN-Chẩn (Preliminary Diagnosis).
• Xác định năm (05) triệu chứng bệnh do cùng một TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến

• Truy cứu TÁC-Ý „duy nhất“ ĐANG hiện hành dẫn đến năm (05) triệu chứng bệnh bằng CHÁNH-Chẩn (Main Diagnosis)

3. TRỊ:
Áp dụng quy trình 4-Y (Four Medicines) gồm Y-Lý (medical Theory), Y-Học (medical Science), Y-Thuật (medical Technique) và Y-Hành (medcal Practice) để LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành, gọi là „mPERG/New“.

Biên soạn lập trình (Programming) mPERG/New theo Y-Học (medical Science)
kết hợp với Y-Thuật (medical Technique).

Thao tác Kích Hoạt Não Bộ  „PERG-BS“ (Brain Stimulation), gồm:
  – Kích hoạt xuyên sọ “tCFS” (transCranial Finger-Stimulation).
  – Kích hoạt xuyên mặt “tFFS” (transFacial Finger-Stimulation).

Với TÁC-Ý MỚI ĐANG hiện hành, trạng thái cường độ tâm lý NĂNG ĐANG có mặtnhững bệnh ĐANG xảy ra trên, trong và ngoài SOMA đều MỚI tương ứng.

Kết quả Chẩn–Định–Trị theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs cho thấy:

TÁC-Ý duy nhất ĐANG hiện hành dẫn đến năm (05) triệu chứng bệnh  ĐANG xảy ra của bà là:

„THỤ ĐỘNG đối với những gì do MÔI TRƯỜNG mang đến“.

Sau khi nghe xong kết quả Chẩn – Định theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, bà tỏ ra đăm chiêu, mắt nhìn thẳng về phía trước buồn vời vợi… những giọt nước mắt ứa ra từ khóe mắt. Một bạn đồng học ngồi gần đưa khăn giấy cho bà lau nước mắt… Lau nước mắt xong, mọi người nhìn thấy nét mặt bà tươi tắn… bà đứng lên uốn éo thân người… co chân trái rồi chân phải lên cao… trước đó chỉ có thể nhích chút đỉnh (!)… bà mừng quá … cứ thế mà co duỗi hai chân lên xuống, nhún nhảy… rồi la to „PERG wunderbar!“ (PERG tuyệt vời) „alles weg… schon weg!“ (tất cả hết rồi… đã hết).

Có người hỏi: Mức độ từng triệu chứng của bà hiện giờ ra sao?
„… cảm giác đau nhức lưng và hai đầu gối cũng như nỗi sợ phải lái xe về tối nay KHÔNG còn nữa! Còn chuyện béo phì và huyết áp cao thì chưa biết, phải có máy đo các Bạn à!… nhưng tôi cảm thấy toàn thân nhẹ nhõm, thoải mái … với ngần này kí lô… hihihi!“ bà vui cười trả lời.

Quay về phía chúng tôi, bà tâm sự:

– „Thưa Meister (Thầy), phương pháp Chẩn – Định của TÂM-THỂ P.E.R.G.® nach NGOs do Thầy phát minh thật tuyệt vời, bất khả tư nghì (unglaublich)… Meister ạ! Thật sự chính xác là như vậy! TÁC-Ý luôn „thụ động, mặc kệ“ đối với mọi sự việc từ bên ngoài đưa đến nhất là trong sự chọn lựa giữa hai quyết định „ở nhà chăm con sau khi sanh“ hay „đi làm“, đã khiến tôi luôn đặt câu hỏi cho chính mình suốt hàng chục năm nay, bởi tôi quyết định „đi làm“ để có thể sống „tự lập“ nuôi thân mà không cầu cạnh hay bị lệ thuộc tài chánh vào một ai cả! Nhưng trong thâm tâm thì áy náy muốn ở nhà nuôi con! Tâm trạng thụ động „sao cũng được này khiến tôi luôn bị chao đảo, làm tôi thường xuyên bị căng thẳng (stress). Có lẽ trạng thái stress này khiến mọi chức năng của thân tâm bị rối loạn dẫn đến các triệu chứng như vậy, có phải thế không thưa Meister? Thưa Meister! Tôi là nhân viên giám định đánh giá tâm lý của bệnh nhân cho một công ty bảo hiểm sức khỏe thì tôi rất rành tình trạng này. Nhưng bản thân thì không có cách gì cũng như y học phương Tây cũng không giúp gì cho tình trạng sức khỏe của tôi với năm (05) triệu chứng bệnh kể trên cải thiện thêm, khoan nói đến chuyện chúng ngày càng tệ thêm theo thời gian vì thuốc chỉ định cho từng bệnh, thưa Meister!“

– „Dạ vâng, chính xác như thế! Chính TÁC-Ý „thụ động, mặc kệ, sao cũng được“ này dẫn đến tâm thái „lưỡng lự, thiếu lập trường“! Điều này làm cơ địa con người luôn bị đặt trong tình huống phân vân không biết chủ nhân mình có „Ý MUỐN làm gì (TÁC-Ý)“! Cho nên, tình trạng này gây căng thẳng cho thân và tâm-ý dẫn đến sự rối loạn, bế tắc cho mọi chức năng hoạt động của thân và tâm-ý.

Trường hợp bà mới chỉ xảy ra năm (05) triệu chứng bệnh tiêu biểu. Ở những người khác còn xảy ra nhiều triệu chứng bệnh khác nữa. Điều này cho thấy rằng: Để có thể can thiệp cho nhiều bệnh cùng lúc, cần phải có sự Chẩn – Định truy cứu nguyên nhân tác động dẫn đến bệnh, chứ không thể chỉ lên phác đồ chung chung cho từng triệu chứng bệnh hay nhóm bệnh.

Thưa Bà cùng toàn thể học viên!Cái gọi là „Nguyên nhân kích hoạt dẫn đến bệnh thân hay tâm- theo „Năng lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs“ có nền học thuật chuyên biệt độc lập là „TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs“ với nền tảng „4-TRỤ, 3-CHẨN, 4-Y“ cho biết năm (05) triệu chứng cụ thể của Bàlà do TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến.


Đối với trường hợp của Bà, tất cả năm (05) triệu chứng bệnh ĐANG xảy ra đã được Chẩn-Định với kết quả cho thấy:

tất cả CHỈ do một TÁC-Ý duy nhất ĐANG hiện hành,
• cho dùTÁC-Ý „thụ động, mặc kệ“ giữa hai lựa chọn „đi làm“ hay „ở nhà nuôi con“ đã có từ cách nay vài chục năm, nhưng TÁC-Ý đó KHÔNG PHẢI là cái gì thuộc về QUÁ KHỨ, mà nó thật sự ĐANG hiện hành dẫn đến năm (05) triệu chứng của Bà ĐANG xảy ra, chứ không phải ĐÃ hay SẼ xảy ra!
cái TÁC-Ý „thụ động, mặc kệ“ này ĐANG hiện hành làm cho trạng thái tâm-lý của Bà bị CĂNG THẲNG. Trạng thái STRESS này không phải chỉ thuộc về nhiều thập niên trước, mà nó ĐANG có mặt TƯƠNG ỨNG với TÁC-Ý „thụ động, mặc kệ“ ĐANG hiện hành,
cường độ trạng thái tâm-lý ĐANG có mặt này dẫn đến, trong trường hợp của Bà, CHỈ mới có năm (05) triệu chứng bệnh; còn ở nhiều trường hợp khác, theo kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi, có đến hàng chục bệnh.
. . .
Lúc đó phía dưới học viên có một cánh tay giơ lên xin phát biểu:
– „Thưa Meister! Trường hợp người có hàng chục bệnh như vậy thì việc Chẩn – Định truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs sẽ diễn tiến như thế nào ạ! Xin Meister chỉ dạy cho chúng Em ạ!“

– „Dạ vâng! Thắc mắc của Bạn thật hữu lý và đúng lúc. Kính cám ơn Bạn! Trường hợp một ca lâm sàng ví dụ có 12 triệu chứng bệnh, thì theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs“ không thể mặc nhiên xác định tất cả đều là bệnh TÂM-THỂ, mà trước hết phải thực hiện SƠ-Chẩn để phân loại.

Sau khi SƠ-Chẩn loại trừ những bệnh THUẦN thân, việc truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến những bệnh còn lại là điều tiên quyết cần được giải quyết.

Chúng ta vẫn áp dụng quy trình CHẨN – ĐỊNH – TRỊ theo quy tắc „3-CHẨN“ để xác định nhóm bệnhtruy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.

1. CHẨN với SƠ-Chẩn (Initial Diagnosis)
giúp biết rõ triệu chứng bệnh nào là bệnh THUẦN thân hay KHÔNG phải bệnh THUẦN thân để phân ba (03) nhóm bệnh:
1.1. Bệnh THUẦN hân (purely somatic diseases)
1.2. Bệnh TÂM-thể (psychological–somatic diseases)
1.3. Bệnh TÂM-lý (psychological diseases)

Loại trừ:
Bệnh THUẦN thân không thuộc phạm vi Chẩn – Định – Trị của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs,
tiếp tục Chẩn – Định đối với những bệnh TÂM-lý và TÂM-thể.

2. ĐỊNH
2.1. TIỀN-Chẩn
(Preliminary Diagnosis)
Xác định những bệnh TÂM-thể (psychological–somatic diseases) và bệnh TÂM-lý hay KHÔNG CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành?

Khi KHÔNG cùng một TÁC-Ý ĐANG hiện hành, thì TIỀN-Chẩn xác định bệnh hay nhóm bệnh nào được ưu tiên để tiếp tục CHÁNH-Chẩn truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
Khi CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành, tiếp tục thực hiện CHÁNH-Chẩn (Main Diagnosis).

2.2.
CHÁNH-Chẩn được sử dụng để truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.

3. TRỊ:
Áp dụng quy trình 4-Y (Four Medicines) gồm Y-Lý (Medical Theory), Y-Học (Medical Science), Y-Thuật (Medical Technique) và Y-Hành (Medical Practice) để LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành, gọi là lập trình „mPERG/New“ gồm:

3.1. Biên soạn lập trình (Programming) mPERG/New theo Y-Học,
kết hợp với Y-Thuật

3.2. Thao tác Kích Hoạt Não Bộ „PERG-BS“ (Brain Stimulation), gồm:
   • Kích hoạt xuyên sọ “tCFS” (transCranial Finger-Stimulation).
   • Kích hoạt xuyên mặt “tFFS” (transFacial Finger-Stimulation).

Với TÁC-Ý MỚI „mPERG/New“ ĐANG hiện hành, cường độ tâm lý NĂNG ĐANG có mặtnhững bệnh ĐANG xảy ra trên, trong và ngoài SOMA đều MỚI tương ứng.

IV. PHÒNG bệnh theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, phòng bệnh là thực tập TÁC-Ý MỚI (mPERG/New) theo quy trình 4-Y.

Muốn phòng bệnh cần thực hiện theo trình tự:
• CHẨN: Truy cứu TÁC-Ý đang hiện hành.
• ĐỊNH: Xác định TÁC-Ý đang hiện hành dẫn đến bệnh chứng.
• TRỊ: Thực tập TÁC-Ý được LÀM MỚI „mPERG/New“ theo quy trình 4-Y của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

V. KẾT QUẢ chứng minh
Sáng Chủ Nhật ngày hôm sau 23.02.2025, bà đến lớp sớm để gặp chúng tôi và báo một tin mừng: Thứ nhất ,huyết áp bà đo tối hôm qua và sáng nay còn 135/80 mmHg; thứ nhì là tối qua, bà đã chở gia đình đến tham dự lễ hội hóa trang „Karneval“ tổ chức ở vùng lân cận cách khu vực cư ngụ của bà 70km mà bà lái xe không còn sợ bóng đêm nữa.

VI. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG B

Nội dungTheo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOsĐúc kết
4-TRỤTÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂNTÂM là Kho Dữ Liệu Sống; TÁC-Ý ĐANG hiện hành chọn và định hướng; NĂNG ĐANG có mặt tương ứng TÁC-Ý; THÂN (SOMA) là nơi ghi nhận những biểu hiện ĐANG xảy ra.
INPUT – OUTPUTNhững gì Y Học Triệu Chứng gọi là bệnh THÂN, TÂM-lý hay TÂM-thần đều được nhìn là OUTPUT.INPUT = TÁC-Ý ĐANG hiện hành → NĂNG ĐANG có mặt → OUTPUT = bệnh ĐANG xảy ra.
05 triệu chứng bệnhCao huyết áp, béo phì, đau lưng vùng thận, hai đầu gối không thể nâng cao, sợ bóng tối vì thị lực suy giảm.Không phải nguyên nhân, mà CHỈ là những triệu chứng bệnh ĐANG xảy ra.
Đối tượng Chẩn–Định–TrịKhông dừng lại ở triệu chứng bệnh.Truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh.
SƠ-ChẩnLoại trừ bệnh THÂN trong ca 05 bệnh; đối với ĐA bệnh, phân loại bệnh THUẦN thân / bệnh TÂM-thể / bệnh TÂM-lý.Xác định phạm vi tiếp tục Chẩn–Định–Trị theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
TIỀN-ChẩnXác định các bệnh CÓ hay KHÔNG CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành.Nếu KHÔNG CÙNG → xác định bệnh hay nhóm bệnh ưu tiên; nếu CÙNG → tiếp tục CHÁNH-Chẩn.
CHÁNH-ChẩnTruy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.Tìm TÁC-Ý đang dẫn đến một hay nhiều bệnh ĐANG xảy ra.
Kết quả Chẩn–Định ca lâm sàng05 triệu chứng bệnh được xác định CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành„THỤ ĐỘNG đối với những gì do MÔI TRƯỜNG mang đến“.
ĐÃ – ĐANGTÁC-Ý „thụ động, mặc kệ“ đã có từ vài chục năm trước nhưng không được xem CHỈ thuộc về quá khứ.TÁC-Ý ĐANG hiện hành → NĂNG ĐANG có mặt → bệnh ĐANG xảy ra.
TRỊ – 4-YY-Lý – Y-Học – Y-Thuật – Y-Hành.LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành bằng „mPERG/New“, kết hợp PERG-BS gồm tCFS + tFFS.
TÁC-Ý MỚIKhi TÁC-Ý MỚI „mPERG/New“ ĐANG hiện hành.NĂNG ĐANG có mặt và những bệnh ĐANG xảy ra trên, trong và ngoài SOMA đều MỚI tương ứng.
Phương pháp ĐA bệnhKhông mặc nhiên quy nhiều bệnh về một TÁC-Ý.SƠ-Chẩn → TIỀN-Chẩn → CHÁNH-Chẩn kiểm tra và truy cứu trước khi xác định TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
PHÒNG bệnhThực tập TÁC-Ý MỚI „mPERG/New“ theo quy trình 4-Y.CHẨN TÁC-Ý → ĐỊNH TÁC-Ý → LÀM MỚI TÁC-Ý → thực tập TÁC-Ý MỚI.
Kết quả ghi nhậnNgay sau Chẩn–Định: đau lưng, đau hai đầu gối và nỗi sợ lái xe buổi tối được bà báo không còn; sáng hôm sau bà báo huyết áp 135/80 mmHg  và đã lái xe ban đêm 70 km không còn sợ bóng tối.Kết quả của ca được ghi nhận ngay sau buổi học và sáng ngày 23.02.2025.

CHƯƠNG C
GIÁM ĐỊNH ĐỐI CHIẾU
TỔNG HỢP giữa Y Học Triệu chứng và TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

Nội dung đối chiếuY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Nền tảng học thuậtKhảo sát triệu chứng, dấu hiệu, bệnh; tìm nguyên nhân, cơ chế bệnh và điều trị theo từng chẩn đoán.Khảo sát theo 4-TRỤ: TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN.
Điểm khởi đầuTriệu chứng bệnh ĐANG xảy ra.Truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh ĐANG xảy ra.
TÂMTâm lý, tâm thần được khảo sát như những lĩnh vực bệnh và triệu chứng riêng.TÂM CHỈ là Kho Dữ Liệu Sống: ghi nhận, lưu giữ và cung cấp dữ liệu cho TÁC-Ý chọn.
TÁC-ÝKhông phải đối tượng trung tâm của quy trình chẩn đoán bệnh thông thường.CHỦ THỂ chọn và định hướng từ dữ liệu được TÂM cung cấp.
NĂNGKhông có TRỤ tương ứng trong mô hình chẩn đoán thông thường.Cường độ tâm-lý ĐANG có mặt tương ứng với TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
THÂN – SOMANơi khảo sát các dấu hiệu và triệu chứng thân thể; tâm lý/tâm thần thường được phân loại riêng.THÂN (SOMA) là nơi ghi nhận những biểu hiện do NĂNG tương ứng TÁC-Ý dẫn đến; biểu hiện có thể trên, trong và ngoài SOMA.
INPUT – OUTPUTKhông sử dụng INPUT – OUTPUT theo mô hình 4-TRỤ của PERG.INPUT: TÁC-Ý ĐANG hiện hành → NĂNG ĐANG có mặt → OUTPUT: bệnh ĐANG xảy ra.
Bệnh THÂN / TÂM-lý / TÂM-thầnĐược phân loại và chẩn đoán theo các tiêu chuẩn chuyên khoa tương ứng.Đều được nhìn ở phía OUTPUT; chữ TÂM trong TÂM-lý/TÂM-thần không đồng nghĩa với TRỤ TÂM = Kho Dữ Liệu Sống.
Nguyên nhânTìm nguyên nhân và yếu tố nguy cơ tương ứng với từng bệnh; một người đa bệnh có thể có nhiều nguyên nhân/yếu tố liên quan.Không mặc nhiên xem từng triệu chứng bệnh là một nguyên nhân riêng; tiếp tục truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
ĐA bệnhCác bệnh được chẩn đoán, phân loại và điều trị theo từng bệnh hoặc nhóm bệnh, đồng thời xem xét tương tác giữa các bệnh.Không mặc nhiên cho rằng nhiều bệnh cùng một TÁC-Ý. 3-CHẨN được dùng để phân loại và kiểm tra CÙNG hay KHÔNG CÙNG TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
SƠ-ChẩnKhông có thuật ngữ tương ứng hoàn toàn với SƠ-Chẩn của PERG.Phân loại và loại trừ bệnh THUẦN thân khỏi phạm vi tiếp tục truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
TIỀN-ChẩnKhông có thuật ngữ tương ứng hoàn toàn với TIỀN-Chẩn của PERG.Xác định bệnh TÂM-thể và TÂM-lý CÓ hay KHÔNG CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
CHÁNH-ChẩnChẩn đoán xác định bệnh dựa trên triệu chứng, khám, xét nghiệm và tiêu chuẩn chẩn đoán tương ứng.Truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
Đối tượng TRỊBệnh, triệu chứng, nguyên nhân hoặc cơ chế có thể can thiệp tùy từng bệnh.TÁC-Ý ĐANG hiện hành đã được Chẩn–Định.
Phương pháp điều trịThuốc, thay đổi lối sống, vật lý trị liệu, tâm lý trị liệu, thủ thuật/phẫu thuật và các phương pháp khác tùy bệnh.4-Y: Y-Lý – Y-Học – Y-Thuật – Y-Hành; LÀM MỚI TÁC-Ý bằng mPERG/New, kết hợp PERG-BS: tCFS + tFFS.
Mục đích TRỊKiểm soát triệu chứng, điều trị nguyên nhân khi xác định được, giảm biến chứng và cải thiện chức năng/chất lượng sống.LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành → TÁC-Ý MỚI ĐANG hiện hành → NĂNG và OUTPUT MỚI tương ứng.
PHÒNG bệnhKiểm soát yếu tố nguy cơ, lối sống, tầm soát, dự phòng và theo dõi tùy bệnh.Thực tập TÁC-Ý MỚI „mPERG/New“ theo quy trình 4-Y.
Ca 05 triệu chứng05 triệu chứng/bệnh được khảo sát theo từng chẩn đoán và các nguyên nhân/yếu tố liên quan tương ứng.Chẩn–Định cho kết quả 05 triệu chứng CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành: „THỤ ĐỘNG đối với những gì do MÔI TRƯỜNG mang đến“.
Kết quả ngay sau Chẩn–ĐịnhHọc viên báo đau lưng, đau hai đầu gối và nỗi sợ lái xe buổi tối không còn; khả năng co nâng hai chân được quan sát cải thiện tại lớp.
Kết quả ngày 23.02.2025Học viên báo huyết áp 135/80 mmHg và đã lái xe ban đêm khoảng 70 km mà không còn sợ bóng tối.
Giới hạn chứng cứ của caMột ca riêng lẻ không đủ để xác lập quan hệ nhân quả hay hiệu quả điều trị nói chung.Kết quả hiện có là quan sát tại lớp và tự báo cáo của học viên trong một ca lâm sàng; chưa tự nó chứng minh hiệu quả phổ quát hay quan hệ nhân quả.


CHƯƠNG D – KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH
Qua việc khảo cứu năm (05) triệu chứng bệnh gồm cao huyết áp, béo phì, đau lưng vùng thận, hai đầu gối không thể nâng cao và sợ bóng tối vì thị lực suy giảm của trường hợp ATLAS-CASE theo Y Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, Giám Định này cho thấy hai nền học thuật không khác nhau vì cùng hay không cùng can thiệp triệu chứng bệnh, mà khác nhau trước hết ở đối tượng được truy cứu.

Y Học Triệu Chứng bắt đầu từ những triệu chứng bệnh ĐANG xảy ra, phân loại chúng thành từng bệnh hoặc nhóm bệnh, truy tìm nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, cơ chế và lựa chọn phương pháp điều trị tương ứng.

TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs không dừng lại ở những triệu chứng bệnh. Theo quy trình 4-TRỤ – TÂM, TÁC-Ý, NĂNG, THÂN, bệnh THÂN, TÂM-lý hay TÂM-thần đều được nhìn là những OUTPUT ĐANG xảy ra. Cho nên, đối tượng cần truy cứu là INPUT – TÁC-Ý ĐANG hiện hành, thông qua cường độ tâm-lý NĂNG ĐANG có mặt, dẫn đến những dấu hiệu bệnh tương ứng nơi SOMA.

Do đó, sự có mặt đồng thời của nhiều triệu chứng bệnh không tự nó chứng minh có nhiều nguyên nhân, nhưng cũng chưa thể kết luận rằng tất cả chỉ do một TÁC-Ý.

Đây chính là chức năng của 3-CHẨN theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

SƠ-Chẩn trước hết phân loại và loại trừ những triệu chứng bệnh THUẦN thân.
TIỀN-Chẩn xác định những bệnh còn lại CÓ hay KHÔNG CÙNG một TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
CHÁNH-Chẩn sau đó được sử dụng để truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.

Như vậy, một TÁC-Ý hay nhiều TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến một hay nhiều triệu chứng bệnh không phải là suy luận giả định, mà phải là kết quả của Chẩn–Định.

Trong ATLAS-CASE này, kết quả Chẩn–Định cho thấy năm (05) triệu chứng bệnh được quy về một TÁC-Ý duy nhất ĐANG hiện hành:

„THỤ ĐỘNG đối với những gì do MÔI TRƯỜNG mang đến“.

TÁC-Ý ĐANG hiện hành ấy tuy đã có từ vài chục năm trước nhưng, theo cách lý giải của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs trong ca này, không được xem là một cái gì chỉ thuộc về QUÁ KHỨ. Điều được truy cứu là cái ĐANG hiện hành; NĂNG tương ứng ĐANG có mặt; và những triệu chứng bệnh tương ứng ĐANG xảy ra.

Vì vậy, câu hỏi:

„ĐA TRIỆU CHỨNG BỆNH thật sự do NHIỀU NGUYÊN NHÂN dẫn đến?“

không thể được trả lời chỉ bằng số lượng bệnh.

Theo phương pháp được trình bày trong ATLAS-CASE này, điều bắt buộc theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs là phải Chẩn–Định từng trường hợp để xác định: bệnh nào là bệnh THUẦN thân; những bệnh nào thuộc phạm vi tiếp tục truy cứu; chúng CÙNG hay KHÔNG CÙNG TÁC-Ý; và cuối cùng TÁC-Ý nào ĐANG hiện hành.

Riêng ATLAS-CASE này, những thay đổi được ghi nhận ngay tại lớp và lời báo lại vào sáng ngày 23.02.2025 là dữ liệu kết quả lâm sàng của trường hợp cụ thể này.

KẾT LUẬN

ATLAS-CASE „BỆNH THỜI ĐẠI – ĐA TRIỆU CHỨNG BỆNH“ là một trường hợp lâm sàng được trình bày nhằm đối chiếu cách tiếp cận của Y Học Triệu Chứng với TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, đồng thời minh họa Tuyên ngôn Y học thuật của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs (Psychosomatisch-Energetische Reflexzonen-Therapie am Gesicht – P.E.R.G.® nach NGOs):

„TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh.“
„INPUT sao – OUTPUT vậy.“

CHƯƠNG EPhụ Lục

Glossar A–Z | VN: EN / DE
1. Thuật ngữ theo nội dung
Bệnh: Disease / Krankheit
Bệnh THÂN: Somatic disease / Somatische Erkrankung
Cao huyết áp: Hypertension / Hypertonie
Chẩn đoán: Diagnosis / Diagnose
Chỉ định: Indication / Indikation
Đa bệnh: Multimorbidity / Multimorbidität
Điều trị: Therapy / Therapie
Đau lưng: Back pain / Rückenschmerzen
Lo sợ: Fear / Angst
Nguyên nhân: Cause / Ursache
Phòng bệnh: Prevention / Prävention
Sợ bóng tối: Fear of darkness / Angst vor Dunkelheit
Stress – Căng thẳng: Stress / Stress
Tâm lý: Psychology / Psychologi
Tâm thần: Psychiatric / Psychiatrisch
Thân (Soma): Body (Soma) / Körper (Soma)
Triệu chứng bệnh: Symptom / Krankheitssymptom

2. Thuật ngữ chuyên biệt độc lập của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

4-TRỤ:
Four Pillars / Vier Säulen

1. TÂM: Life Data Bank / Lebens-Datenbank
Bản chất của TÂM là „ba KHÔNG“ gồm „không TRI“ – „không THỨC“ – „không GIÁC“: The essence of TÂM consists of the “Three NOTs”: “no Recognition” – “no Consciousness” – “no Awareness” / Das Wesen des TÂM besteht aus den „Drei NICHT“: „kein Erkennen“ – „kein Bewusstsein“ – „kein Gewahrsein“
TÂM-THỂ: Psyche–Soma (psychosomatic) / Psyche–Soma (psychosomatisch)

2. TÁC-Ý: Presently, continuously operating Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
ĐANG hiện hành: Presently, continuously operating / gegenwärtig fortlaufend wirkend
TÁC-Ý ĐANG hiện hành: Presently, continuously operating Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
TÁC-Ý ĐANG hiện hành gây bệnh: Presently, continuously operating disease-causing Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender krankheitsverursachender Wille
TÁC-Ý Học: TÁC-Ý Science / TÁC-Ý-Kunde

3. NĂNG: Psycho-energetic intensity (level of Psyche or Psychiatry) / psychisch-energetische Intensität (Ebene der Psyche oder Psychiatrie)
ĐANG có mặt: Presently, continuously appearing / gegenwärtig fortlaufend erscheinend

4. THÂN: Soma (level of Body or Psyche) / Soma (Ebene von Körper oder Psyche)
NƠI ĐANG xảy ra: Location of presently, continuously happening / Ort des gegenwärtig fortlaufenden Geschehens
Bệnh TÂM-THỂ: Psychosomatic diseases / Psyche–Soma-Erkrankung

3-CHẨN: Three Diagnoses / Drei Diagnosen
SƠ-Chẩn: Initial Diagnosis / ERST-Diagnose
TIỀN-Chẩn: Preliminary Diagnosis / VOR-Diagnose
CHÁNH-Chẩn: Main Diagnosis / HAUPT-Diagnose
Chẩn–Định–Trị: Diagnosis – Indication Assessment – Therapy / Diagnostik – Indikationsstellung – Therapie

4-Y: Four Medicines / Vier Medizinen
Y-LÝ: Medical Theory / medizinische Theorie
Y-HỌC: Medical Science / medizinische Lehre
Y-THUẬT: Medical Technique / medizinische Technik
Y-HÀNH: Medical Practice / medizinische Anwendung

WIRK-Ordnung – Trật tự thuần lý tự nhiên ĐANG hiện hành: Logical-natural presently, continuously operating order / Logisch-natürliche, gegenwärtig fortlaufend wirkende Ordnung

Ý an – NĂNG ổn – THÂN bình: TÁC-Ý corresponds to all things as they are · NĂNG stable · THÂN balanced / TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind · NĂNG stabil · THÂN ausgeglichen.
Ý Như Vạn Sự: TÁC-Ý corresponds to all things as they are (positive) / TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind (positiv)
Vạn Sự Như Ý: All things correspond to TÁC-Ý as it is (negative) / Alle Dinge entsprechen der TÁC-Ý so, wie sie ist (negativ)


Hoàn tất thứ BA, ngày 11.08.2026
© Ngoc-Diep NGO | All rights
reserved

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc