ATLAS-CASE: ĐAU HÔNG (Hip Pain)

DẪN NHẬP

Có những trường hợp lâm sàng chỉ cần vài dòng bệnh sử là đủ để bắt đầu một hồ sơ. Nhưng cũng có những trường hợp mà chính bối cảnh vụ việc xảy ra lại trở thành một phần không thể tách rời từ giá trị lâm sàng. Trường hợp đau hông được trình bày trong ATLAS-CASE này thuộc về nhóm thứ hai.

Câu chuyện xảy ra trong một khóa đào tạo Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® nach NGOs tại Chi nhánh Viện Y Khoa Đức PARACELSUS ở Passau, miền Nam nước Đức. Trong số các học viên tham dự có một nữ chuyên gia tâm lý trị liệu đã được cấp giấy phép hành nghề tại Đức.

Bề ngoài, cô tỏ ra tự tin, ăn mặc lịch sự, luôn giữ nụ cười và phong thái của một người đang thành công trên con đường sự nghiệp hành y. Thế nhưng, khi quan sát cách cô bước vào lớp, mọi người đều dễ dàng nhận ra một điều khác hẳn. Cô đi khập khiễng, một tay luôn chống lên hông trái có lẽ để giảm bớt một cơn đau gì đó đã đeo d0a82ng đảng nhiều năm.

Điều đặc biệt của trường hợp này không chỉ nằm ở bệnh chứng đau hông hay ở quá trình điều trị trước đó, mà còn ở những dữ liệu lâm sàng thu thập được trong suốt quá trình khảo sát. Chính những dữ liệu ấy đã tạo nên cơ sở để chúng tôi lựa chọn trường hợp này để xây dựng thành ATLAS-CASE: ĐAU HÔNG, triển khai song song theo Y học Triệu chứng và TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

* * *

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

CHƯƠNG A – CĂN BỆNH theo Y Học Triệu Chứng
I. Nhóm bệnh, định nghĩa và phân loại
II. Các triệu chứng lâm sàng
III. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
IV. Chẩn đoán
V. Các phương pháp điều trị hiện hành
VI. Tiến trình theo dõi – tiên lượng – tái phát
VII. Hiện trạng và những số liệu liên quan
VIII. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG A

CHƯƠNG B – BỆNH CHỨNG Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
I. Quy trình 4-TRỤ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
II. Đau HÔNG là nguyên nhân hay bệnh chứng
III. CHẨN – ĐỊNH – TRỊtheo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
IV. PHÒNG bệnh theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
V. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG B

CHƯƠNG C – ĐỐI CHIẾU GIÁM ĐỊNH giữa Y Học Triệu Chứng và TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
I. Đối chiếu nền tảng học thuật
II. Đối chiếu đối tượng khảo sát
III. Đối chiếu nguyên nhân
IV. Đối chiếu quy trình CHẨN – ĐỊNH
V. Đối chiếu phương pháp TRỊ liệu
VI. Đối chiếu kết quả lâm sàng
VII. Bảng Đối Chiếu Tổng Hợp

CHƯƠNG E – KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH

CHƯƠNG F – PHỤ LỤC
I. Tài liệu tham khảo cho CHƯƠNG A
II. Glossar: A–Z | VN: EN / DE
1. Thuật ngữ theo nộị dung
2. Thuật ngữ chuyên biệt độc lập của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

* * *

CHƯƠNG A – BỆNH CHỨNG theo Y Học Triệu Chứng

I. Nhóm bệnh, định nghĩa và phân loại
Đau HÔNG
(Hip Pain) là một triệu chứng lâm sàng thường gặp ở hệ vận động, có thể xuất phát từ chính khớp hông hoặc từ các cấu trúc giải phẫu lân cận như cơ, gân, dây chằng, bao hoạt dịch, cột sống thắt lưng, khớp cùng – chậu hoặc các bệnh lý toàn thân. Đây không phải là một bệnh riêng biệt mà là biểu hiện của nhiều nhóm bệnh khác nhau với nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và hướng điều trị không giống nhau.

Trong Y học Triệu chứng, đau HÔNG thường được phân loại theo vị trí đau, nguyên nhân gây bệnh và diễn tiến lâm sàng. Theo vị trí, đau có thể xuất hiện ở vùng bẹn, mặt ngoài hông, vùng mông hoặc lan xuống đùi.

Theo nguyên nhân, đau HÔNG được chia thành nhóm bệnh lý nội khớp, bệnh lý ngoài khớp, đau từ cột sống hoặc các cơ quan khác và các bệnh lý toàn thân.

Theo diễn tiến, bệnh được phân thành đau cấp tính, bán cấp và mạn tính.

Việc phân loại đúng nhóm bệnh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chẩn đoán, lựa chọn phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh.

II. Các triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của đau HÔNG rất đa dạng, tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và mức độ tổn thương. Người bệnh có thể đau âm ỉ hoặc đau dữ dội, đau liên tục hoặc chỉ xuất hiện khi đứng, đi, lên xuống cầu thang, ngồi lâu hay thay đổi tư thế. Một số trường hợp đau nhiều về đêm hoặc đau khi nằm nghiêng về bên đau.

Cơn đau có thể ở vùng bẹn, mặt ngoài hông, vùng mông hoặc lan xuống đùi và đôi khi xuống đến gối. Nhiều bệnh nhân có tình trạng đi khập khiễng, hạn chế vận động khớp hông, giảm khả năng xoay, dạng hoặc gấp khớp hông, ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt hằng ngày và chất lượng cuộc sống. Trong những trường hợp lâu dài, người bệnh có xu hướng giảm vận động, giảm khả năng lao động và lệ thuộc nhiều hơn vào các biện pháp giảm đau.

III. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
Đau HÔNG
không phải là một bệnh riêng biệt mà là hậu quả của nhiều bệnh lý khác nhau liên quan đến khớp hông và các cấu trúc giải phẫu lân cận.

Các nguyên nhân thường gặp bao gồm thoái hóa khớp hông, viêm khớp, hoại tử chỏm xương đùi, gãy xương hoặc chấn thương vùng hông, viêm bao hoạt dịch, viêm điểm bám gân, tổn thương cơ và dây chằng, bệnh lý cột sống thắt lưng, khớp cùng – chậu, cũng như một số bệnh lý chuyển hóa, nhiễm trùng hoặc u xương.

Nhiều yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc bệnh hoặc kéo dài tình trạng đau hông như tuổi cao, béo phì, lao động nặng, vận động quá mức hoặc lặp đi lặp lại, chấn thương, dị dạng bẩm sinh của khớp hông, loãng xương, bệnh lý viêm mạn tính, tiền sử phẫu thuật vùng hông hoặc các bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến hệ cơ – xương – khớp.

IV. Chẩn đoán
Việc chẩn đoán đau HÔNG được thực hiện theo một quy trình lâm sàng nhằm xác định nguyên nhân gây bệnh và mức độ tổn thương của từng người bệnh.

Quá trình chẩn đoán thường bắt đầu bằng khai thác bệnh sử, bao gồm thời điểm xuất hiện cơn đau, vị trí đau, tính chất đau, các yếu tố làm tăng hoặc giảm triệu chứng, tiền sử chấn thương, bệnh lý kèm theo và những phương pháp điều trị đã thực hiện trước đó.

Tiếp theo là khám lâm sàng nhằm đánh giá dáng đi, tư thế, biên độ vận động của khớp hông, mức độ đau khi vận động hoặc khi ấn khám, đồng thời thực hiện các nghiệm pháp chuyên biệt để phân biệt tổn thương của khớp hông với bệnh lý cột sống thắt lưng hoặc các cấu trúc giải phẫu lân cận.

Để hỗ trợ chẩn đoán, bác sĩ có thể chỉ định các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như X-quang, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc cộng hưởng từ (MRI). Trong một số trường hợp, xét nghiệm máu hoặc các xét nghiệm chuyên sâu khác được thực hiện nhằm phát hiện các bệnh viêm, nhiễm trùng, chuyển hóa hoặc các bệnh toàn thân có liên quan.

V. Các phương pháp điều trị hiện hành
Việc điều trị đau HÔNG phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, mức độ tổn thương, tuổi tác, tình trạng sức khỏe chung và nhu cầu vận động của từng người bệnh.

Điều trị bảo tồn thường được lựa chọn trước tiên, bao gồm nghỉ ngơi hợp lý, điều chỉnh hoạt động, sử dụng thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm, thuốc giãn cơ khi cần thiết, kết hợp với vật lý trị liệu và phục hồi chức năng nhằm cải thiện khả năng vận động, tăng sức mạnh cơ và giảm đau.

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định tiêm thuốc vào khớp hoặc quanh khớp để giảm triệu chứng. Khi điều trị bảo tồn không đạt kết quả hoặc tổn thương khớp đã tiến triển nặng, các phương pháp can thiệp ngoại khoa như nội soi khớp, chỉnh hình hoặc thay khớp hông nhân tạo có thể được xem xét tùy theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

VI. Tiến trình theo dõi – tiên lượng – tái phát
Sau khi xác định được nguyên nhân gây đau hông và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh cần được theo dõi định kỳ nhằm đánh giá mức độ cải thiện triệu chứng, khả năng vận động, hiệu quả điều trị và sự xuất hiện của các biến chứng nếu có. Thời gian theo dõi phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, mức độ tổn thương cũng như phương pháp điều trị đã được áp dụng.

Tiên lượng của đau HÔNG rất khác nhau giữa các nhóm bệnh. Những trường hợp do tổn thương phần mềm hoặc viêm cấp tính thường có khả năng hồi phục tốt nếu được điều trị đúng và tuân thủ chương trình phục hồi chức năng. Ngược lại, các bệnh lý thoái hóa, hoại tử chỏm xương đùi hoặc những tổn thương cấu trúc của khớp hông có thể tiến triển kéo dài, làm giảm chức năng vận động và ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng cuộc sống nếu không được điều trị thích hợp.

Đau HÔNG cũng là một triệu chứng có khả năng tái phát. Nguy cơ tái phát thường tăng lên khi nguyên nhân nền chưa được xác định người bệnh trở lại các hoạt động gây quá tải khớp hông quá sớm, không duy trì chương trình phục hồi chức năng hoặc tiếp tục tồn tại các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh lý ban đầu.

VII. Hiện trạng và những số liệu liên quan
Đau HÔNG
là một trong những nguyên nhân phổ biến gây hạn chế vận động ở người trưởng thành và người cao tuổi trên toàn thế giới. Cùng với quá trình già hóa dân số, tuổi thọ ngày càng tăng và tỷ lệ các bệnh lý thoái hóa cơ – xương – khớp ngày càng cao, số người mắc các bệnh chứng liên quan đến khớp hông cũng không ngừng gia tăng.

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy đau HÔNG làm giảm đáng kể khả năng lao động, sinh hoạt hằng ngày và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhiều trường hợp phải điều trị kéo dài, sử dụng thuốc giảm đau trong thời gian dài, phục hồi chức năng nhiều đợt hoặc can thiệp ngoại khoa, tạo nên gánh nặng đáng kể cho cá nhân, gia đình, xã hội và kể cả hệ thống y tế.

Trong những trường hợp tổn thương khớp hông tiến triển nặng, phẫu thuật thay khớp hông nhân tạo hiện vẫn là một trong những phương pháp điều trị được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhằm giảm đau, cải thiện chức năng vận động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Tuy nhiên, đây là một phương pháp điều trị có chỉ định nghiêm ngặt, đòi hỏi đánh giá toàn diện trước khi thực hiện và vẫn cần được theo dõi lâu dài sau phẫu thuật.

VIII. Bảng Đúc Kết CHƯƠNG A

Nội dungĐúc kết
Đối tượng khảo sátCăn bê đau HÔNG theo quan điểm Y học Triệu chứng.
Nền tảng tiếp cậnKhảo sát triệu chứng, xác định nguyên nhân bệnh lý và mức độ tổn thương.
Mục tiêu chẩn đoánXác định nguyên nhân gây đau để lựa chọn hướng điều trị thích hợp.
Mục tiêu điều trịGiảm đau, phục hồi chức năng vận động, hạn chế biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Theo dõiĐánh giá đáp ứng điều trị, diễn tiến bệnh và nguy cơ tái phát.
Tiên lượngPhụ thuộc vào nguyên nhân, mức độ tổn thương và hiệu quả điều trị.
Giá trị học thuậtCung cấp cơ sở học thuật của Y học Triệu chứng làm nền cho phần giám định đối chiếu ở các CHƯƠNG tiếp theo.

CHƯƠNG B – CĂN BỆNH theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

I. Quy trình 4-TRỤ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.
Sau khi tìm hiểu bệnh đau HÔNG (Hip Pain) theo Y Học Triệu Chứng, một câu hỏi vô cùng quan trọng đối với TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs (TÁC-Ý-Science P.E.R.G.® nach NGOs) được nêu ra là:

TÁC-Ýgì“ ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) mang đến cường độ tâm-lý (psycho-energetic intensity) ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) dẫn đến bệnh chứng ĐANG xảy ra (presently, continuously happening) nơi SOMA (thân) hay TÂM-lý (Psyche) của một con người?

Đây chính là câu hỏi bắt buộc phải được đặt ra trước khi Chẩn–Định–Trị (Diagnosis – Indication Assessment – Therapy) bất kỳ một trường hợp lâm sàng theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

Khác với Y Học Triệu Chứng thường bắt đầu từ căn bệnh đang xảy ra, TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs bắt đầu từ quy trình 4-TRỤ gồm TÂM – TÁC-Ý – NĂNG – THÂN.

Theo quy trình này, đau HÔNG không phải là điểm khởi đầu của sự khảo sát mà chỉ là một bệnh chứng đang được nhận biết nơi SOMA. Cũng như vậy, nhiều triệu chứng đi kèm v.v… hoặc những hành vi hay tâm lý khác cũng chỉ là những triệu chứng hay bệnh ĐANG XẢY RA nơi thân gồm thân vật-lý kể cả thân tâm-lý.

Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs:

• TÂM được hiểu CHỈ là một Kho Dữ Liệu Sống (Life-Data-Bank) ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) nơi mỗi con người. Kho dữ liệu sống này cung cấp dữ liệu cho TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) chọn để định hướng cách ứng xử mọi tác động ĐANG có mặt dẫn đến những hiện trạng ĐANG xảy ra (presently, continuously happening) trong từng sát-na sống ở trên, bên trong hoặc bên ngoài SOMA.

• TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will) định hướng cường độ tâm-lý gọi là NĂNG.

• NĂNG là cường độ tâm-lý (psycho-energetic intensity) ĐANG có mặt (presently, continuously appearing) tương ứng với TÁC-Ý ĐANG hiện hành.

Khi TÁC-Ý ĐANG hiện hành thì NĂNG ĐANG có mặt.

II. Đau HÔNG là nguyên nhân hay bệnh chứng
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, đau HÔNG (Hip Pain) không phải là nguyên nhân mà là một căn bệnh.

Tất cả mọi căn bệnh thân hay tâm-lý hoặc tâm-thần CHỈ một hiện trạng ĐANG xảy ra từ một TÁC-Ý đang hiện hành trong một bối cảnh nhất định.

Vì vậy, đau HÔNG không phải là nguyên nhân gây bệnh, mà chỉ là dấu hiệu của một bệnh chứng ĐANG xảy ra (presently, continuously happening)từ một TÁC-Ý ĐANG hiện hành (presently, continuously operating Will).

Do đó, việc Chẩn–Định–Trị (Diagnosis – Indication Assessment – Therapy) theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOskhông dừng lại ở hiện trạng bệnh chứng đau HÔNG, mà bắt buộc PHẢI truy cứu TÁC-Ý đang hiện hành dẫn đến bệnh chứng đó.

III. CHẨN – ĐỊNH – TRỊ theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOsTheo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, đối tượng của Chẩn–Định–Trị không phải là bệnh chứng đau HÔNG, mà là TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh chứng này.

Cách đây ba năm, cô B. tốt nghiệp khoa Tâm Lý Trị Liệu theo chương trình khảo hạch cấp quốc gia. Nghĩa là cô không tốt nghiệp đại học y, mà được Bộ Y tế Đức cấp giấy phép hành nghề sau khi tốt nghiệp kỳ khảo hạch viết và vấn đáp.

Năm 2013, cô B. mở phòng mạch. Cô vận dụng mọi kiến thức và khả năng của mình để phát triển nghề nghiệp như quảng cáo phòng mạch, áp dụng các phương pháp trị liệu tâm lý đã học, nhận bệnh nhân và đi thuyết trình.

Sang năm 2014, hông bên trái của cô bắt đầu đau nhức. Việc đi đứng ngày càng khó khăn hơn.

Cô B. đã được điều trị bằng Tây y và nhiều liệu pháp y học bổ sung. Tuy nhiên cơn đau không giảm mà ngày càng tăng. Cô phải cắn răng chịu đựng trong lúc hành nghề hoặc đi thuyết trình. Song song đó, cô còn viết một quyển sách về sáng kiến trị liệu của mình. Nói chung, cô luôn có Ý MUỐN tức TÁC-Ý ĐANG hiện hành làm tất cả những gì có thể để tạo dựng sự nghiệp và tên tuổi.

Đến giờ hướng dẫn thực tập, chúng tôi mời cô B. làm bệnh nhân tiêu biểu để Chẩn–Định–Trị bệnh chứng đau HÔNG trái của cô theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

Quy trình Chẩn–Định–Trị được thực hiện theo trình tự “3-CHẨN4-Y” của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs gồm:

1. CHẨN:
Loại trừ các bệnh THÂN-THỂ (somatic diseases) gây đau HÔNG bằng SƠ-Chẩn (Initial Diagnosis).

2. ĐỊNH:
• Xác định bệnh chứng đau HÔNGbệnh TÂM-TH (psychological–somatic diseases) bằng TIỀN-Chẩn (Preliminary Diagnosis).

• Truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh chứng đau HÔNG ĐANG xảy ra bằng CHÁNH-Chẩn (Main Diagnosis)

3. TRỊ:
Áp dụng quy trình 4-Y (Four Medizines) gồm Y-Lý (Medical Theory), Y-Học (Medical Science), Y-Thuật (Medical Technique) và Y-Hành (Medical Practice) để LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành gọi là „mPERG/New“

Biên soạn lập trình (Programming) mPERG/New theo Y-Học,
kết hợp với Y-Thuật
Thao tác Kích Hoạt Não Bộ  „PERG-BS“ (Brain Stimulation), gồm:
   • Kích hoạt xuyên sọ “tCFS” (transCranial Finger-Stimulation).
   • Kích hoạt xuyên mặt “tFFS” (transFacial Finger-Stimulation).

Với TÁC-Ý MỚI ĐANG hiện hành, trạng thái cường độ tâm lý NĂNG ĐANG có mặtbệnh chứng ĐANG xảy ra trên, trong và ngoài SOMA đều MỚI tương ứng.

Kết quả Chẩn–Định–Trị theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs cho thấy:

TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh chứng đau HÔNG bên trái ĐANG xảy ra của cô B. là:

„vô vị, rỗng tuếch trong hành vi“

tiếng Đức: „leer im Verhalten“ / tiếng Anh: „empty in behavior“

Sau khi nghe nguyên nhân của chứng đau hông mà nhiều năm qua được xem là „vô phương cứu chữa“, cô B. vội kéo hai cánh tay áo lên cho mọi người xem. Hai cánh tay cô „nổi da gà“, những sợi lông măng trên tay đều „dựng đứng“!

Gương mặt cô „tái mét“, „sững sờ“, ngạc nhiên và trợn mắt nhìn chúng tôi.

– „Chuyện gì vậy?“, mọi người hỏi.
– „Thưa Thầy và mọi người không thấy hai cánh tay tôi nổi da gà và lông cánh tay tôi dựng đứng lên cả sao?“, cô B. nói với giọng khiếp đảm và lo lắng.
– “Thưa Thầy! Thầy nói trúng ‘tim đen’ của TÔI! Điều mà TÔI trong mấy năm qua đã che giấu, không cho ai biết cả! Đối với bên ngoài, TÔI luôn tỏ ra là người có bản lãnh, làm đủ thứ để cầu tiến, cầu toàn cho sự nghiệp. Nhưng bên trong, sự thật là những gì TÔI đã và đang có Ý MUỐN làm luôn gặp nhiều khó khăn và thất bại. Đúng là mọi cố gắng, nỗ lực của TÔI đều vô vị, rỗng tuếch và không có ý nghĩa gì cả. Nhưng mấy năm qua, TÔI vẫn mãi đeo đuổi và bám chặt lấy nó. Cũng chỉ vì TÔI KHÔNG MUỐN CHẤP NHẬN mình thất bại. Bởi TÔI là một nhà tâm lý trị liệu… TÔI có phòng mạch… TÔI đang viết sách… TÔI tìm mọi cách quảng cáo để có bệnh nhân… TÔI luôn đi tìm nơi thuyết trình để giới thiệu phòng mạch và các phương pháp trị liệu TÔI đã học qua… Nói chung là TÔI bất chấp tất cả để tìm mọi cách tiến thân, gây dựng sự nghiệp cho… TÔITÔITÔI… Mà càng cố gắng bao nhiêu thì cái HÔNG của TÔI càng ĐAU NHỨC THÊM bấy nhiêu và kết quả chữa trị thì không khả quan. Nhưng TÔI quyết tâm KHÔNG BỎ CUỘC, thưa Thầy và các Bạn!“
– Vậy Cô còn bao nhiêu cái TÔI nữa thì hãy ‘lôi cổ’ nó ra hết nhé!…“, chúng tôi nửa đùa nửa thật.
– „Dạ thưa Thầy, bấy nhiêu đó đủ rồi! Bây giờ thì CÁI HÔNG của TÔI ĐANG ĐAU NHỨC quá chừng, chịu hết nổi rồi! Thầy ơi!“

Trong lúc thổ lộ tâm tình, hai bàn tay cô ôm lấy hông bên trái, đúng chỗ đau.
– „Đau quá! Bây giờ làm sao, thưa Thầy?“, cô B. thỉnh cầu.
– „Được rồi! Thân của Cô đã LÔI GỐC BỆNH ra rồi! Bây giờ chúng ta thao tác bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“, gồm Kích Hoạt Não Bộ (Brain Stimulation) kết hợp với Cài Đặt Lập Trình „mPERG/New“ với TÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI nhé!“

Chúng tôi hướng dẫn và đồng hành cùng cô B. thao tác phác đồ LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh chứng đau hông.

Sau khi thực hiện xong Y-Thuật, cô B. trở về chỗ ngồi rồi càm ràm:
„Trong 11 ngày tới, TÔI có rất nhiều cái hẹn với bệnh nhân, không thể hủy được! Nếu hủy thì TÔI sẽ thiệt hại tài chính rất nhiều, thưa Thầy!“

Vừa dứt lời, cô B. liền rên lên:
„Thầy ơi! Sao cái HÔNG của TÔI đau dữ vậy! Thầy mới trị xong mà sao không những không hết, lại còn đau dữ dội hơn trước nữa?“

Chúng tôi bật cười rồi nói:
Cái HÔNG của Cô đang biểu tình đấy! Vì Cô vẫn chưa HÀI LÒNG và CHẤP NHẬN nghỉ ngơi, tạm ngưng những hành vi mà chính THÂN của Cô ĐANG cho thấyvô vị và rỗng tuếch. Trong khi đó, Cô vẫn còn giữ TÁC-Ý ĐANG hiện hành muốn tiếp tục theo đuổi chúng!“

Đau HÔNG trong trường hợp cô B. chính là bệnh chứng ĐANG xảy ra KHI kết quả ĐANG xảy ra KHÔNG TƯƠNG ỨNG với TÁC-Ý ĐANG hiện hành, nên trạng thái NĂNG ĐANG có mặtSTRESS, nghĩa là BẤT NHƯ Ý dẫn đến bệnh chứng đau HÔNG

Ở những người khác, TÙY theo TÁC-Ý ĐANG hiện hành mà bệnh chứng ĐANG xảy ra ở những vị trí khác nhau: trên THÂN như đau nhức, dị ứng; trong THÂN như cơ quan, nội tạng, tâm-lý hoặc tâm-thần hoặc ngoài THÂN như môi trường, hoàn cảnh v.v…“

– „Đau quá Thầy ơi! Bây giờ làm sao đây, thưa Thầy?“
– „Muốn không còn đau nữa thì Cô có HÀI LÒNG và CHẤP NHẬN (HIN-Nehmen) tạm ngưng tất cả, gọi điện hủy mọi cuộc hẹn và ngưng mọi dự tính trong 11 ngày tới hay không?“
– „Dạ vâng! TÔI đồng ý! Không còn cách nào khác! TÔI hủy NGAY LẬP TỨC tất cả các cuộc hẹn trong 11 ngày tới, để nghỉ ngơi và thực hiện điều trị cái HÔNG theo đúng qua trình và liệu trình hướng dẫn của Thầy.“

Nói xong, cô mở điện thoại và lần lượt xóa tất cả các cuộc hẹn trong 11 ngày tới.

Bỗng dưng cô B. đứng bật dậy, bước ra giữa phòng, đi từng bước với hai chân giơ thật cao, rồi bất ngờ nhảy chồm lên như một con nai. Cô nhảy tới, nhảy lui ngay trên đôi giày cao gót của mình. Cả lớp học viên đồng loạt vỗ tay tán thưởng.

Trong niềm vui vỡ òa, cô vừa nhảy vừa tiến đến bục giảng, ôm chầm lấy chúng tôi để cảm ơn.
– „Oh! Mein Gott! Lạy Chúa! TÔI hết đau rồi… hết đau rồi…! TÔI cảm ơn Thầy!“

Chúng tôi mỉm cười rồi nói:
– „Điều này cho thấy: Chính THÂN của Cô ĐANG LÀM MỚI khi TÁC-Ý ĐANG hiện hành của Cô ĐANG được LÀM MỚI.

IV. PHÒNG bệnh theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs, phòng bệnh là thực tập TÁC-Ý MỚI (mPERG/New) theo quy trình 4-Y.

Muốn phòng bệnh cần thực hiện theo trình tự:
• CHẨN: Truy cứu TÁC-Ý đang hiện hành.
• ĐỊNH: Xác định TÁC-Ý đang hiện hành dẫn đến bệnh chứng.
• TRỊ: Thực tập TÁC-Ý được LÀM MỚI theo quy trình 4-Y của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs.

V. BẢNG ĐÚC KẾT CHƯƠNG B

Nội dungTheo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Đối tượng Chẩn–Định–TrịKhông phải bệnh chứng đau HÔNG, mà là TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến bệnh chứng này.
SƠ-ChẩnLoại trừ bệnh THÂN-THỂ của bệnh chứng đau HÔNG.
TIỀN-ChẩnXác định đây là bệnh TÂM-THỂ và truy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
CHÁNH-ChẩnXác định TÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến trạng thái NĂNG ĐANG có mặt cùng hiện trạng bệnh chứng ĐANG xảy ra.
Nguyên nhânTÁC-Ý ĐANG hiện hành: „vô vị, rỗng tuếch trong hành vi“
Hiện trạng của THÂNĐau HÔNG bên trái kéo dài nhiều năm,
Trạng thái NĂNGStress do BẤT NHƯ Ý
Y-LýKhảo cứu bệnh chứng theo trình tự 4-TRỤ.
Y-HọcCHẨN–ĐỊNH: ứng dụng phương pháp 3-CHẨN. Soạn lập trình „mPERG/New“ LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành.
Y-ThuậtTRỊ: Kết hợp lập trình mPERG/New cùng thao tác kích hoạt não bộPERG-BS gồm „tCFS và „tFFS.
Y-HànhNgười bệnh TỰ thực tập Y-Thuật để Tự chữa lành bệnh chứng.
Kết quả trực tiếpCơn đau HÔNG chấm dứt, sau khi bệnh nhân TỰ thực tập TÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI „mPERG/New“

CHƯƠNG C – ĐỐI CHIẾU GIÁM ĐỊNH giữa Y Học Triệu Chứng và TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs

I. Đối chiếu nền tảng học thuật

Tiêu chíY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Nền tảngY học thực chứngNền tảng 4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y
Chủ thể khảo sátSOMATÁC-Ý ĐANG hiện hành
Cơ sở lý luậnBệnh học, giải phẫu, sinh lý,
bệnh sinh
Tính tương tác của TÁC-Ý – NĂNG – THÂN
Hướng tiếp cậnTừ bệnh chứngTừ TÁC-Ý ĐANG hiện hành

II. Đối chiếu đối tượng khảo sát

Tiêu chíY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Đối tượng khảo sátĐau HÔNGTÁC-Ý ĐANG hiện hành dẫn đến đau HÔNG
Mục tiêuXác định tổn thươngXác định TÁC-Ý ĐANG hiện hành
Trọng tâmSOMATÁC-Ý

III. Đối chiếu nguyên nhân

Tiêu chíY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Nguyên nhânTổn thương mô, khớp, thần kinh, cơ, viêm, thoái hóa… hoặc chưa xác địnhTÁC-Ý ĐANG hiện hành
Quan hệ nguyên nhân – bệnh chứngChủ yếu theo cơ chế sinh họcCăn bệnh là hiện trạng ĐANG xảy ra nơi SOMA từ trạng thái tâm-lý ĐANG có mặt tương ứng TÁC-Ý ĐANG hiện hành
Vai trò của StressMột yếu tố nguy cơTrạng thái tâm-lý ĐANG có mặt khi KẾT QUẢ thực tại ĐANG xảy ra không tương ứng với TÁC-Ý ĐANG hiện hành – trạng thái BẤT NHƯ Ý

IV. Đối chiếu quy trình CHẨN – ĐỊNH

Tiêu chíY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Bước 1Khai bệnh sửSƠ-Chẩn
Bước 2Khám lâm sàngTIỀN-Chẩn
Bước 3Xét nghiệm, hình ảnhCHÁNH-Chẩn
Mục tiêuTìm bệnhTruy cứu TÁC-Ý ĐANG hiện hành

V. Đối chiếu phương pháp TRỊ liệu

Tiêu chíY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Đối tượng điều trịBệnh chứngTÁC-Ý ĐANG hiện hành.
Phương phápThuốc, vật lý trị liệu, phẫu thuật…Y-Học, Y-Thuật, Y-Hành: Lập trình LÀM MỚI TÁC-Ý ĐANG hiện hành mPERG/New kết hợp thao tác Kích hoạt Não bộ „PERG-BS“ do bệnh nhân TỰ thực tập.
Mục tiêuGiảm đauTÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI.
Vai trò người bệnhTuân thủ điều trịTỰ thực hiện Y-Hành „PERG-BS“ + „mPERG/New“.

VI. Đối chiếu kết quả lâm sàng

Tiêu chíY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Kết quả trong ca bệnhĐau kéo dài nhiều nămHết đau ngay sau khi TÁC-Ý được LÀM MỚI và thực hiện Y-Hành.
Đánh giáKhông đạt kết quả mong muốnĐạt mục tiêu điều trị trong ca bệnh này.
Theo dõiTiếp tục điều trị nếu tái phátBệnh nhân TỰ tiếp tục duy trì thực hiện Y-Thuật và Y-Hành.

VII. BẢNG ĐỐI CHIẾU TỔNG HỢP

Nội dungY Học Triệu ChứngTÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
Nền tảng học thuậtSinh học – bệnh học4-TRỤ, 3-CHẨN và 4-Y
Đối tượng khảo sátBệnh chứngTÁC-Ý ĐANG hiện hành
Đối tượng Chẩn–Định–TrịSOMATÁC-Ý ĐANG hiện hành
Nguyên nhânTổn thương hoặc rối loạn sinh họcTÁC-Ý ĐANG hiện hành
Vai trò của StressYếu tố ảnh hưởngTrạng thái NĂNG ĐANG có mặt
Quy trình Chẩn–ĐịnhKhám, cận lâm sàngSƠ-Chẩn – TIỀN-Chẩn – CHÁNH-Chẩn
Phương pháp điều trịĐiều trị bệnh chứngTÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI
Kỹ thuật điều trịThuốc, vật lý trị liệu, phẫu thuật…Y-Thuật: Lập trình TÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI mPERG/New + Kích hoạt Não bộ PERG-BS
Vai trò người bệnhTuân thủ điều trịTỰ thực hiện Y-Thuật và Y-Hành
Mục tiêu cuối cùngKiểm soát hoặc loại bỏ bệnh chứngTÁC-Ý ĐANG hiện hành được LÀM MỚI, nên trạng thái tâm-lý NĂNG ĐANG có mặt và hiện trạng bệnh chứng ĐANG xảy ra đều MỚI tương ứng
Tiêu chí đánh giáMức độ cải thiện triệu chứngHiện trạng MỚI cùng lúc của TÁC-Ý, NĂNG và SOMA


CHƯƠNG E – KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH
Toàn bộ quá trình Chẩn–Định–Trị bệnh chứng đau Hông theo TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs cho thấy rõ rằng:

Bệnh chứng này, cũng như tất cả những bệnh khác đang xảy ra trên, trong hay ngoài SOMA, không phải là trọng tâm khảo cứu của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs;
bởi những gì ĐANG xảy ra chỉ là OUTPUT của một tiến trình bệnh lý; trong ATLAS-CASE này, OUTPUT đó là chứng đau HÔNG;
OUTPUT này phải bắt nguồn từ một INPUT là trạng thái tâm–lý ĐANG có mặt, với cường độ căng thẳng (STRESS) của nó, ở đây STRESS nghĩa là BẤT NHƯ Ý;
và chính trạng thái tâm–lý ĐANG có mặt ấy lại là OUTPUT của một INPUT TÁC-Ý ĐANG hiện hành, nghĩa là TÁC-Ý ĐANG hiện hành MUỐN tiến thân trong sự nghiệp hành y sau khi tốt nghiệp ngành Tâm lý trị liệu hệ quốc gia.

Tuy nhiên, tất cả những điều cô B. có Ý MUỐN, tức TÁC-Ý ĐANG hiện hành, đều không được thỏa đáng như Ý MUỐN, nên dẫn đến bệnh chứng ĐANG xảy ra trên THÂN của cô B. là chứng đau HÔNG.

Điều này có nghĩa là kết quả ĐANG xảy ra và TÁC-Ý ĐANG hiện hành KHÔNG TƯƠNG ỨNG với nhau.

Đây là một trường hợp điển hình mà Y Học Triệu Chứng xếp vào nhóm bệnh “Tâm–Thể”, nghĩa là bệnh ở THÂN nhưng không tìm được nguyên nhân tương ứng ngay tại THÂN, nên được quy chiếu sang TÂM-LÝ (Psyche) – chứ không phải là cái gọi là TÂM theo cách hiểu thông thường trong tín ngưỡng, các hệ tư tưởng tâm linh hay quan niệm nhân sinh.

Dù đã xác định như vậy, nhưng cho đến nay Y Học Triệu Chứng vẫn chỉ:
phân chia bệnh “Tâm–Thể” thành hai lĩnh vực can thiệp là vật lý trị liệutâm lý trị liệu;
chứ chưa xây dựng được một hệ thống học thuật nhất quán để chẩn và trị bệnh chứng mang tính thời đại này, đặc biệt trong và sau giai đoạn đại dịch Covid-19 cho đến nay.

ATLAS-CASE “Đau HÔNG” chỉ là một trong vô số trường hợp cho thấy Tuyên ngôn Y học thuật của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp Phản Xạ Trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs (Psychosomatisch-Energetische Reflexzonen-Therapie am Gesicht – P.E.R.G.® nach NGOs) với TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lâm sàng:

“TÂM-THỂ bệnh là tất cả bệnh.”

“INPUT sao – OUTPUT vậy.”


CHƯƠNG F – PHỤ LỤC

I. Tài liệu tham khảo cho CHƯƠNG A
1. Phân loại bệnh
WHOInternational Classification of Diseases 11th Revision (ICD-11).
WHOInternational Classification of Diseases 10th Revision (ICD-10).
2. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
AWMFLeitlinie Coxarthrose (Hüftarthrose).
•AWMFLeitlinie Kreuzschmerz.
•NICE GuidelineOsteoarthritis in over 16s: diagnosis and management.
•AAOSClinical Practice Guideline on Management of Osteoarthritis of the Hip.
3. Giải phẫu – Chỉnh hình – Cơ xương khớp
Gray’s Anatomy.
Campbell’s Operative Orthopaedics.
Netter Atlas of Human Anatomy.
4. Cơ sở dữ liệu khoa học
PubMed.
Cochrane Library.
Springer Nature.
Elsevier – ScienceDirect.

II. Glossar: A–Z | VN: EN / DE
1. Thuật ngữ theo nội dung (A–Z) | VN : EN / DE
Bất như ý: Dissatisfaction / Unzufriedenheit
Bệnh chứng: Disorder / Krankheitserscheinung
Chẩn đoán: Diagnosis / Diagnose
Điều trị: Treatment / Behandlung
Đau hông: Hip pain / Hüftschmerzen
Hông: Hip / Hüfte
Khớp háng: Hip joint / Hüftgelenk
MRI: Magnetic Resonance Imaging / Magnetresonanztomographie (MRT)
Stress: Stress / Stress
Thoái hóa khớp háng: Hip osteoarthritis / Hüftarthrose
Tiên lượng: Prognosis / Prognose
Triệu chứng: Symptom / Symptom
Viêm: Inflammation / Entzündung
Viêm bao hoạt dịch: Bursitis / Schleimbeutelentzündung
X-quang: X-ray / Röntgen

2. Thuật ngữ chuyên biệt độc lập của TÁC-Ý Học P.E.R.G.® nach NGOs
4-TRỤ: Four Pillars / Vier Säulen
1. TÂM: Life Data Bank / Lebens-Daten-Bank
Bản chất của TÂM là „ba KHÔNG“ gồm „không TRI“ – „không THỨC“ – „không GIÁC“: The essence of TÂM consists of the “Three NOTs”: “no Recognition” – “no Consciousness” – “no Awareness”./ Das Wesen des TÂM besteht aus den „Drei NICHT“: „kein Erkennen“ – „kein Bewusstsein“ – „kein Gewahrsein“ TÂM-THỂ: Psyche–Soma (psychosomatic) / Psyche–Soma (psychosomatisch)

2. TÁC-Ý: Presently, continuously operating Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
Đang hiện hành: Presently, continuously operating / gegenwärtig fortlaufend wirkend
TÁC-Ý đang hiện hành: Presently, continuously operating Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender Wille
TÁC-Ý đang hiện hành gây bệnh: Presently continuously operating disease-causing Will / Gegenwärtig fortlaufend wirkender krankheitsverursachender Wille
TÁC-Ý Học: TÁC-Ý Science / TÁC-Ý-Kunde

3. NĂNG: psycho-energetic intensity (level of Psyche or Psychiatry) / psychisch-energetische Intensität (Ebene der Psyche oder Psychiatrie)
Đang có mặt: Presently, continuously appearing / gegenwärtig fortlaufend erscheinend

4. THÂN: Soma (level of Body or Psyche) / Soma (Ebene von Körper oder Psyche)
NƠI đang xảy ra: Location of presently, continuously happening / Ort des gegenwärtig fortlaufend Geschehens

3-CHẨN: Three Diagnoses / Drei Diagnosen
SƠ Chẩn: Initial Diagnosis / ERST-Diagnose
TIỀN Chẩn: Preliminary Diagnosis / VOR-Diagnose
CHÁNH Chẩn: Main Diagnosis / HAUPT-Diagnose

• Chẩn–Định–Trị: Diagnosis – Indication Assessment – Therapy / Diagnostik–Indikationsstellung–Therapie

4-Y: Four Medicines / Vier Medizinen
Y-LÝ: Medical Theory / medizinische Theorie
Y-HỌC: Medical Science / medizinische Lehre
Y-THUẬT: Medical Technique / medizinische Technik Y-HÀN: Medical Practice / medizinische Anwendungen

WIRK-Ordnung
Trật tự thuần lý tự nhiên đang hiện hành: Logical-natural presently continuously operating order / Logisch-natürliche gegenwärtig fortlaufend wirkende Ordnung

• Bệnh TÂM–THÂN: Psyche–Soma / Psyche–Soma
TÁC-Ý an – NĂNG ổn – THÂN bình: TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind · NĂNG stabil · THÂN ausgeglichen
Ý Như Vạn Sự: TÁC-Ý entspricht allen Dingen so, wie sie sind (positiv).
Vạn Sự Như Ý: Alle Dinge entsprechen der TÁC-Ý so, wie sie ist (negativ).

Hoàn tất thứ Hai, ngày 03.08.2026
© Ngoc-Diep NGO | All rights
reserved

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc