TUYẾN GIÁP (DE: Schilddrüse | GB: Thyroid), mặc dù chỉ nhỏ bằng quả óc chó, lại giữ một vai trò sống còn trong việc điều hòa chuyển hóa, năng lượng cơ thể, nhịp tim, nhiệt độ, và trạng thái tinh thần. Suy tuyến giáp (Unterfunktion) không chỉ biểu hiện qua những triệu chứng vật lý mà còn có sự ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý và khả năng thực hiện tác-ý trong cuộc sống.
Biên khảo này không chỉ tổng hợp kiến thức khoa học về tuyến giáp, cơ chế bệnh lý, giới hạn của y học hiện đại, mà còn minh họa bằng một ca lâm sàng điển hình, từ đó trình bày cách tiếp cận P.E.R.G.® nach NGOs theo nguyên tắc 4-TRỤ, giúp người đọc nắm bắt toàn diện mối quan hệ Tâm – Ý – Năng – Thân.
*
MỤC LỤC
A. Tìm hiểu TUYẾN GIÁP
1.Khởi nguồn và lịch sử phát triển
2. Nguyên lý hoạt động và cơ chế gây bệnh
3. Ứng dụng y học hiện đại và giới hạn
4. Những rủi ro khả thi
5. Nguồn và tài liệu tham khảo chi tiết
B. Tìm hiểu bệnh “Tâm-Thể” (Psycho-somatic diseases)
C. Ca lâm sàng tiêu biểu
D. Đối chiếu TUYẾN TRẠNG theo y học vật chất và P.E.R.G.® nach NGOs
E. Cảm nhận
*
A. TÌM HIỂU CHỦ ĐỀ BIÊN KHẢO
1. Khởi nguồn và lịch sử phát triển
Nghiên cứu về tuyến giáp đã trải qua nhiều giai đoạn. Từ thế kỷ 19, các nhà khoa học bắt đầu xác định vai trò của hormone tuyến giáp trong điều hòa chuyển hóa và phát triển thể chất. Qua các thập kỷ, y học hiện đại phát hiện rằng tuyến giáp ảnh hưởng sâu sắc đến năng lượng tế bào, nhiệt độ cơ thể, nhịp tim, và trạng thái tinh thần. Các rối loạn tuyến giáp được phân loại thành suy giáp, cường giáp, và rối loạn tự miễn (như Hashimoto hoặc Basedow).
2. Nguyên lý hoạt động và cơ chế gây bệnh
Tuyến giáp tiết hormone T3 và T4, điều chỉnh hầu hết các quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Khi chức năng tuyến giáp giảm, cơ thể trải qua một loạt biến đổi: mệt mỏi, tăng cân, khó chịu tinh thần, trầm cảm, và rối loạn tuần hoàn. Nguyên nhân thường gặp gồm: thiếu iod, tự miễn dịch, căng thẳng kéo dài, hoặc tác động của môi trường và tâm lý. Sự liên kết giữa tâm lý và thể chất thể hiện rõ trong các triệu chứng psychosomatic, nơi trạng thái tinh thần kéo theo sự thay đổi sinh lý.
3. Ứng dụng y học hiện đại & giới hạn
Y học hiện đại điều trị suy tuyến giáp chủ yếu bằng hormone thay thế (levothyroxine), kết hợp theo dõi nồng độ TSH, T3, T4. Trong khi phương pháp này cải thiện triệu chứng thể chất, giới hạn là không trực tiếp tác động đến các nguyên nhân tâm lý hoặc tác-ý sâu bên trong, nên bệnh nhân vẫn gặp căng thẳng, mệt mỏi tinh thần hoặc khó duy trì trạng thái cân bằng.
4. Những rủi ro khả thi
Nếu không phát hiện sớm, suy tuyến giáp có thể dẫn đến: chậm phát triển, giảm khả năng nhận thức, rối loạn tim mạch, hoặc ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng sống. Việc chỉ dùng hormone thay thế mà không xem xét yếu tố tâm lý có thể làm chậm quá trình hồi phục toàn diện và dẫn đến tình trạng mệt mỏi dai dẳng.
5. Nguồn & tài liệu tham khảo chi tiết
.Jameson JL, et al. Harrison’s Endocrinology, 20xx.
. Brent GA. Clinical practice. Graves’ disease. N Engl J Med 2008;358:2594–2605.
. Smith TJ, Hegedüs L. Graves’ Disease. N Engl J Med 2016;375:1552–1565.
*
B. TÌM HIỂU BỆNH “TÂM-THỂ” (psycho-somatic diseases)
1. Khởi nguồn và lịch sử phát triển
Khái niệm psychosomatic diseases xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, khi các nhà tâm lý học và y học nhận thấy nhiều bệnh lý thể chất có nguồn gốc hoặc bị khuếch đại bởi yếu tố tâm lý. Các nghiên cứu về căng thẳng, lo âu, và áp lực gia đình đã chứng minh rằng cơ thể phản ánh tâm trí, và những căng thẳng tinh thần kéo dài có thể gây ra rối loạn tuyến giáp.
2. Nguyên lý hoạt động và cơ chế gây bệnh
Stress và áp lực tâm lý tạo ra mức cortisol cao, kích thích hệ thần kinh giao cảm, dẫn đến rối loạn nội tiết, trong đó tuyến giáp là một trong các cơ quan bị ảnh hưởng sớm. Đây là sự tương tác Tâm–Thể: tác-ý và cảm xúc dẫn đến biến đổi sinh lý.
3. Ứng dụng y học hiện đại & giới hạn
Y học hiện đại chủ yếu tập trung vào:
. Điều trị triệu chứng thể chất (hormone tuyến giáp)
. Liệu pháp tâm lý (CBT, counseling)
Tuy nhiên, giới hạn là các phương pháp này thường tách rời tâm lý và thể chất, không giải quyết toàn bộ vòng xoắn tâm-thể.
4. Những rủi ro khả thi
Nếu chỉ điều trị phần thể chất mà bỏ qua nguyên nhân tâm lý, bệnh nhân dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi kéo dài, lo âu, trầm cảm, hoặc các rối loạn tâm-thể psychosomatic khác.
5. Nguồn & tài liệu tham khảo chi tiết
. Engel GL. The need for a new medical model: a challenge for biomedicine. Science 1977;196:129–136.
. Kirmayer LJ. Psychosomatic Medicine. In: Sadock BJ, Sadock VA, Ruiz P, Kaplan & Sadock’s Comprehensive Textbook of Psychiatry. 10th edition.
*
C. CA LÂM SÀNG TIÊU BIỂU
Bệnh nhân là nữ học viên P.E.R.G.® nach NGOs tại Hamburg. Một năm trước, cô từng bị tuyến giáp “cao” (over) do lo sợ vô cớ liên quan đến việc mở phòng khám. Triệu chứng đã dứt ngay tại giảng đường trong buổi chẩn trị có nhiều học viên chứng kiến.
Gần một năm sau, cô trở lại vì tuyến giáp “suy” (under) với triệu chứng: thở nặng, hụt hơi, choáng, mệt lã, mất ngủ, biếng ăn… ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc.
Vì kiệt sức, cô phải nhờ con trai lái xe hơn 200 km đến phòng khám P.E.R.G.®.
CẤP ĐỘ triệu chứng ĐANG là trước khi chẩn trị 8/10
TÁC-Ý truy nguyên: Luôn có ý MUỐN thoát khỏi áp lực, ganh tỵ và thiếu tin tưởng từ chồng về nghề “massage dẫn lưu bạch huyết” và phòng khám của cô.
Sau khi nghe được TÁC-NHÂN dẫn đến triệu chứng „syu tuyến trạng“, cà hai Mẹ con nhìn nhau, mắt mở to, ngạc nhiên vô cùng… bởi kết quả CHẨN theo phương pháp „đặc biệt“ của TÂM-THỂ P.E.R.G.® nach NGOs tìm căn-nguyên TÁC-Ý vô cùng chính xác.
Khi nghe kết quả chẩn theo phương pháp TÂM–THỂ P.E.R.G.® nach NGOs, cả hai mẹ con đều hết sức ngạc nhiên vì độ chính xác của cách chẩn tìm căn-nguyên tác-ý.
Người con trai chia sẻ rất chân thật về việc Mẹ không muốn dùng thuốc, tin rằng “bệnh không do thân, nên thuốc không phải là biện pháp duy nhất – chỉ PERG mới giúp chạm được căn nguyên gây bệnh!”.
Trước khi hướng dẫn, nội dung lập trình “mPERG” phải soạn có đủ 4 yếu tố:
1. Nhận Biết
2. Gọi Tên
3. Không Đồng Hóa (tác-ý gây bệnh)
4. Tự Động Viên (tác-ý mới)
Và phải được bệnh nhân chấp thuận.
Nội dung lập trình „mPERG“ này cũng PHẢI được cơ-địa bệnh nhân hài lòng và chấp thuận, trước khi hướng dẫn bệnh nhân
1. Làm những động tác „kích hoạt não bộ“ xuyên sọ và xuyên mặt (PERG-BS/tCFS-tFFS)
2. Cùng lúc đọc nôi dung lập trình „mPERG“ để TẠO thần kinh MỚI thiết lập HỆ thần kinh MỚI bằng Tác-Ý MỚI để LÀM MỚI chức năng của tuyến trạng – bởi tuyến trạng KHÔNG bị bệnh, ma do TÁC-Ý sai lệch nên bị suy yếu.
3. Khi tác-ý mới được thiết lập – cường độ tâm lý (năng) quân bình -> chức năng hoạt động của tuyến trạng (thân) TỰ bình thường hóa!
Tình trạng sức khỏe sau khi điều trị:
. Cường độ triệu chứng thân thể giảm từ 8 (0-10) xuống còn 0–1
. Bệnh nhân cho biết thân thể nhẹ nhõm, hơi thở tự nhiên, tinh thần cân bằng, không còn bị căng thẳng, hụt hơi, năng lượng tràn đầy…
. Cậu con trai cho biết: … gần một năm qua, nay tôi mới thấy Mẹ tôi tươi vui, hân hoan, phấn chấn … như vậy Thầy ạ! Thật tuyệt vời Mẹ à! … thì Mẹ đã nói cho con biết vì sao Mẹ TIN TƯỞNG PERG một cách tuyệt đối rồi mà, phải không? … dạ dạ dạ, thưa Mẹ!
*
D. ĐỐI CHIẾU TUYẾN TRẠNG THEO Y HỌC VẬT CHẤT VÀ P.E.R.G.® NACH NGOs
| Tiêu chí | Y học vật chất | P.E.R.G.® nach NGOs |
| Chẩn đoán | Xét nghiệm TSH, T3, T4 | CĂN NGUYÊN tác ý |
| Điều trị | Hormone thay thế | LẬP TRÌNH „mPERG“; thao tác „PERG-BS/tCFS-tFFS“, đọc „mPERG“, |
| Mục tiêu | Ổn định sinh hóa | LÀM MỚI Tâm – Ý – Năng – Thân, áp lực TỰ giải tỏa |
| Khái niệm | Tái phát, khắc phục | KHÔNG „tái-phát – khắc phục“ | chỉ LÀM MỚI |
*
E. CẢM NHẬN
Ca lâm sàng này cho thấy sự kết hợp giữa nhận diện tâm lý, ý thức làm mới và y-thuật P.E.R.G.® nach NGOs giúp bệnh nhân:
• Làm mới Tâm – Ý – Năng – Thân
• Tự giải tỏa áp lực nội tại
• Làm mới sự cân bằng sinh lý – năng lượng
• Thiết lập một tâm thái nhẹ nhõm và tự tại ngay sau buổi trị liệu
Đây là minh chứng rõ ràng cho một phương pháp toàn diện, nhân văn, hiệu quả, nơi bệnh nhân tự làm chủ sức khỏe, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào y học vật chất.
*
Kính thưa các Bạn,
cực kỳ đơn giản dễ hiểu, bởi
“Ý dẫn đầu các pháp –
Ý làm chủ – Ý tạo tác.”
vì thế:
khi tác-ý NGHỊCH nhân-quả – tâm-thể TỰ sinh bệnh.
khi tác-ý TÙY nhân-quả – tâm-thể TƯ làm mới.Từ đó suy ra mà hiểu rằng:
Y học có thể tái tạo tế bào,
nhưng chỉ có TÂM học làm mới con người.
Bởi Như Lai dạy rằng:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA
Cho nên:
Tật bệnh khổ Tâm đau Thân cũng không ngoại lệ
bệnhkhổ ĐANG là – từ nhân Tác-Ý ĐÃ là;
bệnh khổ SẼ dứt – cũng từ nhân Tác-Ý ĐANG là…m!
Tất cả gọi là sự sống đều diễn ra nơi ĐANG là
không thể nào có mặt ở chỗ khác hay/và lúc khác!
Khi liễu ngộ được như vậy,
thì CHÂN LÝ CHỮA LÀNH nghĩa là:
„Không bị lệ thuộc váo cách chữa từ bên ngoài,
mà TỰ biết thuần hóa Tâm – Ý – Năng – Thân
ngay ĐANG là, vì nơi đó chính
là nguồn cội của Dược Sư Tâm.
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
“Khi Biết Không Thêm, thì Tâm – Thân không hai.”
„Wenn die Wahrnehmung ohne Weiteres aktiv ist
– werden Geist (nāma) und Körper (rūpa) nicht zwei.“
“When awareness acts without addition,
Mind (nāma) and Body (rūpa) are not two.”
Nghĩa là: khi nhận biết tất cả hiện tượng và sự kiện đang xảy ra một cách nguyên vẹn như vốn có – không thêm thắt gì, không đánh giá, không bám chấp vào cảm xúc hay suy nghĩ thừa thãi – thì Tâm và Thân không hai.
Trạng thái này vừa là thiền quán tối thượng, vừa là nguyên lý cốt lõi của TAM-Y gồm y lý, y học, y thuật và ĐẠO-Y tức y hành của TAM-ĐẠO-Y P.E.R.G.® nach NGOs – nơi sức khỏe, hạnh phúc và an lạc có mặt ngay “đang là”.
Cái “BIẾT như nó ĐANG LÀ – không thêm” chính là tự tánh Phật bảo – không nên nhầm lẫn với khái niệm “hiện tại và bây giờ” mà nhiều người vẫn hiểu sai, vì khái niệm đó không thật có – bởi bị vô thường, sanh tử chi phối!
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh “Năng Lượng TÂM–THỂ Liệu Pháp Phản Xạ trên Mặt P.E.R.G.® nach NGOs”. Sáng lập Trung Tâm PFBC – PERG-Forschung und Behandlung Center (Trung tâm Nghiên cứu & Chẩn trị bệnh Long-COVID và Rối loạn Tâm–Thể)
Thứ NĂM ngày 11.12.2025
Tel.: (+49) 176-4341 1238
E-Mail: thichon@arcor.de


Bình luận