„CÂM“ phải chăng là „TỊNH KHẨU“?

… trong Chùa, có một anh CÂM. Không ai nhớ anh ta đến Chùa từ bao giờ, vả lại cũng không mấy người để ý đến anh ta. Anh ta chăm chỉ lo mấy sào vườn ở sau Chùa… lúc thì trồng rau, lúc thì trồng đậu, làm việc rất là siêng năng. Lúc rảnh, anh ta vào bếp giã gạo và vào những ngày sóc vọng, chùa đông khách, anh ta giúp việc dưới bếp và rửa bát ở bờ ao cạnh bếp…

Vì mọi người thấy anh ta câm, nên chẳng ai nói với anh điều gì cả. Và nếu có việc cần nói thì phải ra hiệu! Hết việc, tối nào anh cũng quanh quẩn ở trên Chánh Điện, quét dọn, lau chùi và mỗi năm vào lúc nhập hạ hay nhập đông. Mỗi lúc có khóa thuyết giảng, anh ta cầm chổi đứng gần cửa phòng hội… ra vẻ đang quét nhà, nhưng thật ra là đang nghe giảng kinh…

Một ngày kia, không thấy anh, vị tri sự bước vào căn phòng nhỏ xíu của anh ở góc vườn, lúc đó mới biết rằng anh câm bị đau, sốt nặng… không ngồi dậy được.

Vị tri sự trình Tổ và mọi người thấy Tổ vào thăm anh câm. Ngài ngồi với anh rất lâu và khi Ngài trở về phòng, nét mặt trang nghiêm của Ngài thoáng vẻ hân hoan.

Từ hôm ấy, người ta thấy có một chú tiểu ngày hai ba lần mang cháo vào cho anh câm và Tổ mỗi khi xuống thăm thì ngồi cả giờ, mọi người cho rằng anh câm „có phúc“ được Tổ thương và nếu có mệnh hệ nào thì được Ngài độ cho.

Vào đúng giờ Ngọ hôm đó, người ta thấy Tổ chậm rãi bước ra khỏi phòng anh câm và khi Tổ nhận thấy mọi người chắp tay vây quanh thì Tổ nói rất ngắn: “ngài đã viên tịch rồi!”.

Ai ai cũng tỏ vẻ ngạc nhiên: Vì sao Tổ gọi anh câm cuốc vườn là NGÀI! Tổ là một thiền sư đạo hạnh nổi tiếng không những trong vùng, mà ngay cả ở chốn kinh kỳ xa xôi nữa. Nhưng không ai dám hỏi Tổ cả!

Cho đến khi làm lễ hoả thiêu xong, bài vị của anh câm đã được đặt trên Chùa, và sau khi thời khóa cầu siêu thường lệ chấm dứt, mọi người được nghe Tổ nói như sau:
“Thật ra, vị câm chấp tác làm vườn ở Chùa ta là một vị TĂNG, không những là một vị tăng ở kiếp này, mà là từ kiếp trước. Kiếp trước, Ngài tu hành tinh tấn, nhưng Ngài vẫn vãng sanh làm kiếp người, vì nghiệp của Ngài còn nặng. Kiếp này, Ngài lại TU nữa! Ngài biết rằng Ngài CHƯA CHUYỂN HOÁ được KHẨU NGHIỆP. Vì thế Ngài phát nguyện tu TỊNH KHẨU. Bởi Ngài phát hạnh nguyện tu tịnh khẩu để chuyển hoá nghiệp chướng, nên ai cũng tưởng là Ngài câm. Đến nay thân, khẩu, ý của Ngài đều thanh tịnh nên Ngài đã nhập niết bàn, vì thế ta mới nói rằng Ngài tịch diệt. Bàn thờ Ngài ở kia, có thể bỏ đi cũng được, nhưng thôi hãy cứ để đấy, không phải là để cúng Ngài, mà chính là để NÊU CÁI GƯƠNG TU HÀNH cho đại chúng.”

Người nghe chuyện, ai ai cũng yên lặng cúi đầu, nghiền ngẫm về sự tu hành. Từ ngày đó, trong Chùa, không ai bảo ai, người ta chỉ nói VỪA ĐỦ, nói điều LÀNH THIỆN, những mong đến lúc nào đó tịnh được khẩu nghiệp, thoát khỏi sinh tử luân hồi như vị tăng „chuyển vai“ thành anh câm công quả sau Chùa!
. . . . .

CẢM NHẬN
Thuật ngữ (terminus) „TỊNH KHẨU“ nếu hiểu như trên là CÂM – nghĩa là KHÔNG NÓI gì cả, là CÂM – thì theo giáo lý nhà Phật chỉ mang tính „tiêu cực“, chỉ được cái gọi là PHƯỚC của khẩu nghiệp, là lời nói – một trong ba cái gọi là NGHIỆP khiến chúng sinh loanh quanh (luân hồi) trong „chín (9) nẽo ba (3) cõi“ vẫn chưa thể „thoát khỏi“ cái gọi là „sinh tử luân hồi“

Xin tạm đặt câu hỏi ở đây là „thoát khỏi“ cái gọi là sinh tử luân hồi LÚC NÀO và KHI NÀO? Kính thưa đại chúng!

Khái niệm TỊNH KHẨU gồm có hai (2) từ: TỊNH và KHẨU.
TỊNH là thanh tịnh, trong sạch… nghĩa là GIỮ cho thanh tịnh, lành thiện, chứ chẳng phải không nói, là câm;
KHẨU (miệng), ở đây ám chỉ lời nói, ngôn ngữ!

Vậy TỊNH KHẨU là nói, phát ngôn, phát biểu, trình bày v.v… những điều, những gì THANH TỊNH. Theo gíao lý Phật Đà, có bốn (4) cách nói không thanh tịnh gồm:
1. Nói dối (vọng ngữ);
2. Lời lẽ thô thiển ác ý (ác ngữ)
3. Nói hai lời gây chia rẽ (lưỡng thiệt)
4. Nói lời thêu dệt; lời nói vô nghĩa không có ích (ỷ ngữ)

Tuy nhiên, lời nói tịnh (lành thiện – tịnh khẩu) hay bất tịnh (ác hay bất lành thiện – ác khẩu) đều phải có TÁC NHÂN của nó là ý nghĩ, tư duy, suy nghĩ…còn gọi là TÁC Ý. Nếu không có TÁC Ý thì không thể nào có LỜI NÓI hay HÀNH ĐỘNG hoặc HÀNH VI biểu hiện ra bên ngoài để có thể NHẬN BIẾT được (!)

Nghĩa là Ý làm CHỦ, Ý tạo tác!

vì thế cho nên, khi nghe một ai đó đang nói một điều gì hay thấy họ đang làm một việc gì hoặc tỏ thái độ ra sao và nếu thấu hiểu lý „nhân duyên sinh“ thì có thể biết họ có ý nghĩ gì, nghĩa là TÁC Ý điều gì!

bởi không một pháp hữu vi (vật thể) hay vô vi (phi vật thể) từ thô đến tế có thể tự nhiên, độc lập… mà sinh – thành – hoại – diệt được cả!

Lý NHÂN DUYÊN SINH nói gọn là NHÂN (duyên) QUẢ (sinh) VƯỢT TRÊN mọi quan niệm tôn giáo – tín ngưỡng, năng lượng – tâm linh, khoa học – văn minh, chính trị – chế độ, trình độ văn hoá – nhân văn, chủng tộc – màu da v.v…

Vì thế cho nên khẩu nghiệp hay hành nghiệp là do ý nghiệp „quản lý, vận hành, điều khiển“. Vì thế cho nên nói rằng: TU „cái MIỆNG“ chỉ có tính „tiêu cực“ mang đến PHƯỚC „hữu lậu“.

Ngược lại TU „cái Ý“ còn gọi là „tu TRÍ hay ĐỨC“ mới trang nghiêm được trạng thái „thoát ly sanh tử luân hồi“ – nghĩa là trạng thái NIẾT BÀN  „NGAY ĐANG LÀ“ gọi là „Hữu Dư Y Niết Bàn“, nói gọn cho dễ hiểu là trạng thái Niết Bàn lúc còn thân TỨ ĐẠI, ngũ uẩn – là trạng thái Niết Bàn của Thái Tử Siddhartha sau khi giác ngộ được xem là một bậc Giác Giả, Phật, Như Lai v.v… Ngài đã sống 49 năm hoằng pháp độ sanh đến sát-na cuối cùng khi hít vào không thở ra được gọi là Ngài NHẬP Niết Bàn SẼ LÀ gọi là „Vô Dư Y Niết Bàn“ – là trạng thái Niết Bàn KHÔNG còn thân TỨ ĐẠI, ngũ uẩn nữa (!)

Nhà Phật KHUYÊN hành giả nên TU cả hai „PHƯỚC TRÍ“ còn gọi là „PHƯỚC ĐỨC“!

Vậy thì „thoát ly sinh tử luân hồi“ là một „trạng thái“ chứ không phải và nhất định không thể là một nơi chốn, chỗ, địa danh v.v… nào cả để THOÁT (!) Ví như tâm thái của một người lúc ĐANG còn trong TÙ và khi họ mãn hạn tù… vừa bước chân ra khỏi NGƯỠNG tù ngục NGAY ĐANG LÀ… chứ không phải là được „chuyển“ đến một NƠI khác sung túc, ít khổ, sung sướng, thoải mái… hơn!

Nhưng làm thế nào có thể BIẾT „tác ý“ TỊNH (kusala) hay KHÔNG TỊNH (akusala) mà dẫn đến TỊNH Khẩu (lời nói) hay TỊNH Hành (động)? Nghĩa là không phải KHÔNG nói hay KHÔNG LÀM gì cả? Bởi giáo lý Phật Đà không chủ xướng hay khuyên (dạy) kiểu này – kiểu ba con khỉ „tiêu cực“ BỊT tai, BỊT mủi, BỊT miệng (hic)… Nếu quả như thế thì người CÂM trong câu chuyện kể trên chẳng khác gì hành vi của loại KHỈ kiểu này (!)

Người CÂM trong câu chuyện thật ra „Tác Ý“ không muốn nói … nhưng trong Chùa „xem“ anh là người „câm“ bởi vì anh „không nói“ một câu nào với ai mà CHỈ „ra dấu“ – nhưng không phải là người CÂM KHÔNG CÓ Ý NGHĨ (tác ý) đâu nhé…! Còn vi Tổ thì nói rằng „Ngài“ „tu TỊNH KHẨU“ để giải quyết NGHIỆP đời trước – vì anh câm ĐÃ NÓI ĐÚNG NGƯỜI „BIẾT CHUYỆN“

Thật ra VỊ „câm“ này „tác ý“ không muốn nói chỉ vì một lý do duy nhất là: KHÔNG MUỐN BỊ LỘ THÂN PHẬN là một vị TĂNG „kiếp trước“ hoặc là một vị Alahan ha Bồ Tát… nếu đại chúng BIẾT được sự „tái sinh“ này thì người câm sẽ „bị“ mời lên toà giảng pháp…, rồi thì cái khẩu nghiệp „đã là“ của một vị tăng „trước đây“ lúc GIẢNG PHÁP „không thể TỊNH (chuyển) HOÁ“ được NGAY ĐANG LÀ… thì như vậy không biết sát-na SAU vị này có còn được VÃNG SANH „làm người“ để có DUYÊN „được“ TỊNH KHẨU (câm) nữa hay không…!

Ở đời thường thấy: CÂM thường đi đôi với ĐIẾC! Nếu người câm mà NGHE được những điều BẤT NHƯ Ý… vì không nói hay giải thích được thì… họ phải „HÀNH ĐỘNG“ là thế!

Tâm trạng hay, lời nói, hành động của những người BỊ „tâm lý“, „tâm thần“ hay  bệnh „tâm thể“ cũng không khác!

Như chúng tôi vẫn thường chia sẻ đến các Bạn rằng, nếu muốn có TÁC Ý thanh tịnh hay có thể chuyển hoá sự tác ý dẫn đến lời nói hay hành động lành thiện thì việc trước tiên… rất đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ làm và dễ thành theo giáo lý Phật Đà là Ý THỨC BIẾT:

Mọi PHÁP (dharma) „KHÔNG THẬT CÓ“
Bởi do „NHÂN DUYÊN SINH“
NHÂN QUẢ
(karma) „LUÔN CÓ THẬT“
Vận hành „TỪNG SÁT-NA“


… đơn giản chỉ vì khi ý thức nhận biết mọi thì mọi lúc có sự hiện diện của  nhân quả ĐANG VẬN HÀNH „từng sát-na“ thì ĐỐ mà DÁM gây NHÂN „TÁC Ý bất thiện“ để dẫn đến lời nói hay hành động gây „QUẢ bất thiện“ khổ đau, bất hạnh v.v… cho mình  và người NGAY ĐANG LÀ và vô lượng ĐANG LÀ tiếp nối… cho nên mới có câu:

Bồ Tát SỢ „NHÂN“
Chúng Sanh SỢ „QUẢ“


Khái niệm SỢ ở đây không phải là sợ gì cả… mà là Bồ Tát NHẬN BIẾT sự vận hành của nhân duyên sinh. Trong khi đó, chúng sinh phải nói là „thật sự“ là vì SỢ cái „QUẢ đang là“ – bởi họ không biết cái nhân đã tạo tác (tác ý)! Và cũng bởi vì chúng sanh chưa biết hay không muốn biết,vì lẽ họ mặc kệ để thọ hưởng trước rồi tình sau (sic), rằng:

Họ ĐANG LÀ
CÁI họ ĐÃ LÀ
Họ SẼ LÀ
CÁI họ ĐANG LÀ…M


Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“
thứ Năm ngày 19.10.2023




Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc