Tư Liệu . Bệnh THẦN KINH và STRESS (Neurologically diseases and STRESS)

Căng Thẳng (stress) – đặc biệt là căng thẳng mãn tính – có thể làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh thần kinh (neurologically diseases) như chứng lãng trí (demenz) và bệnh mất trí nhớ (alzheimer), cũng như làm trầm trọng thêm các triệu chứng của các bệnh thần kinh đang có như đa xơ cứng (multiple sklerose), bệnh Parkinson, chứng đau nửa đầu (migrant) và rối loạn chức năng hệ thần kinh (nervous system dysfunction).

Căng thẳng cũng có thể gây tổn thương nãosuy giảm nhận thức được giải thích bằng sự kích hoạt hệ thần kinh giao cảm (sympathetic nervous system) và việc giải phóng hormone căng thẳng.

BỆNH THẦN KINH
Gần 60% dân số châu Âu mắc bệnh thần kinh. Với sự lão hóa ngày càng tăng của xã hội nên tỷ lệ mắc bệnh có thể sẽ tăng lên đáng kể.

Bệnh thần kinh bao gồm các rối loạn hoặc bệnh lý về não, tủy sốngdây thần kinh ngoại biên. Chúng bao gồm các bệnh phổ biến như đau nửa đầu, nhưng cũng có các bệnh hiếm gặp như rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh (Neuromyelitis-optica spectrum disorders, NMOSD) và teo cơ tủy sống (Spinal muscular atrophy, SMA).

I. PHÂN LOẠI bệnh thần kinh
Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh (pathogenesis) của các bệnh thần kinh rất đa dạng và đôi khi vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các nguyên nhân đã biết bao gồm đột biến gen, chấn thương, bệnh mạch máu, bệnh tự miễn, nhiễm trùng hoặc khối u.

Các bệnh thoái hóa thần kinh (neurodegenerative diseases) ví dụ như bệnh Chorea HuntingtonSMA là do di truyền (genetically). Tuy nhiên, nguyên nhân chính xác gây chết tế bào thần kinh trong bệnh Alzheimer vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các triệu chứng của rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD) và bệnh đa xơ cứng (MS) phát sinh từ tình trạng viêm mãn tính của hệ thần kinh trung ương do tự miễn (autoimmun). Tuy nhiên, căn nguyên hay nguyên nhân “ban đầu“ gây ra các bệnh tự miễn (autoimmun diseases) vẫn chưa được biết đến đầy đủ.

Do các chức năng cơ thể khác nhau được kiểm soát bởi hệ thần kinh, các triệu chứng của các bệnh thần kinh có thể rất khác nhau. Do đó, việc phân loại các bệnh khác nhau dựa trên cơ chế sinh bệnh (pathogenesis) hoặc các triệu chứng đặc trưng (characteristic symptoms) của chúng.

II. 11 LOẠI bệnh thần kinh phổ biến
1. Rối loạn tuần hoàn não
như đột quỵ
2. Bệnh tự miễn như đa xơ cứng (Multiple Sklerose, MS), rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD)
3. Bệnh thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer, Parkinson, teo cơ tủy sống (SMA), Huntington
4. Rối loạn đau đầu như đau nửa bên đầu (migraine), đau đầu do căng thẳng (tension headache)
5. Rối loạn hoạt động điện não như động kinh (epilepsy)
6. Rối loạn thần kinh ngoại biên (peripheral nerves) như bệnh đa dây thần kinh (Polyneuropathy)
7. Rối loạn giấc ngủ như chứng ngủ rũ (narcolepsy)
8. Bệnh nhiễm như viêm màng não (meningitis)
9. Chấn thương như chấn thương sọ não (head injury)
10. Khối u như u não (brain tumor)
11. Rối loạn tâm thần có nguyên nhân thần kinh như trầm cảm (depression)

III. TRIỆU CHỨNG thần kinh
Các triệu chứng thần kinh bao gồm đau, rối loạn cảm giác, rối loạn chức năng cảm giác, rối loạn chức năng cơ, suy giảm ý thứcgiấc ngủ, suy giảm nhận thức và các triệu chứng tâm thần. Các triệu chứng thần kinh thường gặp:
1. Đau đầu, mặt hoặc lưng
2. Run, yếu hoặc liệt cơ
3. Rối loạn dáng đi
4. Rối loạn thị giác, bao gồm mù
5. Rối loạn khứu giác và vị giác
6. Tê hoặc tăng nhạy cảm
7. Chóng mặt hoặc mất thăng bằng
8. Rối loạn ngôn ngữ
9. Thay đổi trạng thái tinh thần
10. Co giật
11. Suy giảm nhận thức
12. Rối loạn chức năng các cơ quan, chẳng hạn như rối loạn chức năng bàng quang hoặc ruột
13. Rối loạn giấc ngủ
14. Thay đổi hành vi

IV. CHẨN ĐOÁN và ĐIỀU TRỊ
Các bệnh lý thần kinh có nhiều nguyên nhân khác nhau và biểu hiện qua nhiều triệu chứng khác nhau. Các phương pháp chẩn đoán và điều trị cũng đa dạng như chính bản thân bệnh lý.

Chẩn đoán và Điều trị các Bệnh Thần kinh. Không phải mọi bệnh thần kinh đã biết hiện nay đều có các lựa chọn chẩn đoán và điều trị thỏa đáng. Dưới đây là tổng quan về các lựa chọn chẩn đoán và điều trị cho một số bệnh thần kinh.

IV.1. CÁC CHẨN ĐOÁN khả thi.
Trong hầu hết các trường hợp, việc chẩn đoán rối loạn thần kinh bắt đầu bằng việc khai thác tiền sử bệnhkhám tổng quátthần kinh thật kỹ lưỡng. Tuy nhiên, vì các triệu chứng – đặc biệt là lúc ban đầu – không phải lúc nào cũng rõ ràng và có thể liên quan đến nhiều bệnh lý khác nhau, nên thường cần phải thực hiện các xét nghiệm bổ sung. Các xét nghiệm này như xét nghiệm máu, chẩn đoán dịch não tủy (CSF), hoặc các thủ thuật chẩn đoán hình ảnh chụp cắt lớp. Các thủ thuật chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt này giúp xác định bệnh chính xác hơn.

Dưới đây là tổng quan về các xét nghiệm chẩn đoán phổ biến cho một số rối loạn thần kinh:
• Teo cơ tủy sống: Tiêu chuẩn vàng là xét nghiệm di truyền phân tử, có thể phát hiện đột biến ở gen SMN1.2
• Bệnh đa xơ cứng: Ngoài khám thần kinh và xét nghiệm dịch não tủy (CSF), các kỹ thuật hình ảnh (MRI) và đo điện sinh lý cũng là một phần của quá trình chẩn đoán;
• Rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD): Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm sẽ xác định xem người bệnh có kháng thể AQP4 trong huyết thanh hay không. Ở những bệnh nhân huyết thanh dương tính với APQ4, chẩn đoán được xác nhận dựa trên một số đặc điểm lâm sàng và kết quả MRI; ở những bệnh nhân huyết thanh âm tính, cần thêm các kết quả lâm sàng và MRI cụ thể. Một công cụ hình ảnh tương đối mới cho tình trạng viêm thần kinh là chụp cắt lớp quang học (OCT), một kỹ thuật hình ảnh được sử dụng trong nhãn khoa;
• Bệnh Chorea Huntington: Vì đây là bệnh di truyền, nên tiền sử gia đình ban đầu được thu thập trong quá trình khai thác bệnh sử. Các xét nghiệm di truyền thần kinh và phân tử, cùng với các phương pháp chẩn đoán bổ sung (EEG, các kỹ thuật hình ảnh như FDG-PET, cCT/cMRI), cung cấp manh mối chính xác hơn.5
• Bệnh Alzheimer: Khả năng trí tuệ ban đầu được đánh giá bằng nhiều xét nghiệm khác nhau. Nếu có nghi ngờ, các kỹ thuật hình ảnh (CT/MRI/PET), xét nghiệm máu và xét nghiệm dịch não tủy có thể cung cấp thêm thông tin.6

IV.2. Các LIỆU PHÁP khả thi.
Đối với nhiều bệnh thần kinh, hiện tại không có liệu pháp chữa khỏi hoàn toàn
– chúng là những bệnh nan y. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc, chẳng hạn như vật lý trị liệu, liệu pháp cử động,các phương pháp dùng thuốc. Có sự phân biệt giữa liệu pháp nguyên nhân (causal) và liệu pháp triệu chứng (symptome). Liệu pháp nguyên nhân giải quyết nguyên nhân gây bệnh, trong khi liệu pháp triệu chứng chỉ điều trị các triệu chứng liên quan đến bệnh. Trong một số trường hợp, việc dự phòng cũng có thể được thực hiện, ví dụ như phòng ngừa tái phát ở NMOSD.

Dưới đây là tổng quan về các lựa chọn điều trị hiện tại cho các bệnh thần kinh:
• Teo cơ tủy sống (SMS): Điều trị theo phương pháp đa chuyên khoa, bao gồm dùng thuốc như liệu pháp gen, chất điều biến ghép nối (splice modifiers) và các biện pháp không dùng thuốc như vật lý trị liệu, cử động trị liệu, hô hấp trị liệu, thông khí trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, thiết bị hỗ trợ v.v…
• Bệnh đa xơ cứng (MS): Hiện tại chưa có liệu pháp điều trị khỏi hẳn; mục tiêu điều trị là giảm các phản ứng viêm. Nếu tái phát, liệu pháp tái phát cấp tính với cortisone liều cao sẽ được áp dụng. Liệu pháp điều trị thay đổi bệnh (liệu pháp cơ bản hoặc liệu pháp leo thang) nhằm mục đích giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của các đợt tái phát, đồng thời làm chậm tiến triển của chúng. Ngoài ra, các hậu quả liên quan đến tái phát của bệnh đa xơ cứng có thể được điều trị bằng các liệu pháp triệu chứng.
Các rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD): Chưa có liệu pháp điều trị khỏi hẳn, nhưng có các liệu pháp dự phòng có thể làm giảm nguy cơ tái phát. Các liệu pháp điều trị triệu chứng có sẵn để điều trị các triệu chứng. Trong trường hợp lên cơn, liệu pháp cấp tính được sử dụng. Các biện pháp phục hồi chức năng cũng có sẵn.
• Bệnh Chorea Huntington: Không có liệu pháp chữa khỏi cũng như liệu pháp điều trị nguyên nhân. Điều trị bao gồm thuốc để điều trị các triệu chứng và các biện pháp chung đi kèm như vật lý trị liệu, cử động trị liệu, tâm lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu
• Bệnh Alzheimer: Không có liệu pháp chữa khỏi; điều trị bằng thuốc chống sa sút trí tuệ. Các bất thường về hành vi cũng được điều trị, và có thể dùng thuốc cải thiện tâm trạng. Ngoài ra, các bệnh tiềm ẩn và các triệu chứng đi kèm cũng có thể được điều trị.10

Nguồn: neuRo Nurse Academy / 2025
. . . . .

12. SƯƠNG MÙ NÃO (brain fog)Kể từ cuối năm 2019, các sinh linh trên hành tinh này có thêm một loại bệnh thần kinh nữa do nhiễm Corona gây ra mang tên là SƯƠNG MÙ NÃO (brain fog). Dưới đây là toàn bộ nội dung một bài biên khảo của „Tạp chí Sức khỏe của bảo hiểm y tế AOK tại Đức“ đăng tải ngày 30.04.2025 khá chi tiết về căn bệnh „hiện đại“ này.

Sương mù não hiện giờ là một triệu chứng nghiêm trọng nhất trong hàng loạt bệnh chứng sau khi nhiễm các biến thể hay còn gọi là đột biến của Covid-19. Bệnh lý do nhiễm Covid này được gọi là „LONG-Covid“ (Covid dài lâu) hay „Post-Covid-Syntrom“ (Hội chứng Hậu Covid). Hai tên gọi này được phân loại tính theo thời gian triệu chứng mắc phải ngắn hay dài sau khi nhiễm. Tuy nhiên, nhiều nghiê ncu71u khoa học cho thấy, những triệu chứng của 2 loại này, nhất là sương mùa não (brain fog) vẫn tồn tại sau nhiều năm. Vì thế cho nên chúng tôi gọi 2 tên phân loại này chung là HẬU-Covid.
Hơn nữa, cho đến nay nền y khoa Tây phương vẫn chưa có một liệu pháp „nhất thống“ (uniform) để chữa lành „cùng lúc“ trên 200 triệu chứng vật lý, tâm lý và thần kinh của HẬU-Covid. Nghĩa là, liệu pháp áp dụng tương ứng từng triệu chứng

Các bệnh thần kinh như đa xơ cứng (MS), Parkinson, chứng mất trí nhớ (alzheimer) và đột quỵ có thể dẫn đến sương mù não do ảnh hưởng của chúng đến chức năng nhận thức. Mỗi bệnh lý này ảnh hưởng đến não theo những cách khác nhau, góp phần gây suy giảm nhận thức và gây ra sương mù não là triệu chứng chính.

Thuật ngữ „sương mù não“ không mô tả một chẩn đoán y khoa chính xác, mà là hàng loạt các triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, khiến những người bị ảnh hưởng khó suy nghĩ và làm việc một cách có hệ thống. Làn sóng COVID đã đưa chủ đề này trở nên rõ ràng hơn – bởi vì sương mù não hiện có thể là một trong những triệu chứng của HẬU-Covid

I. SƯƠNG MÙ NÃO là gì?
Sương mù não là một từ tiếng Đức có nghĩa là “sương mù trong não” (Nebel im Gehirn), tiếng Anh là „brain fog“. Nó chủ yếu gồm các triệu chứng sau:
1. Lú lẫn
2. Hay quên
3. Khó tập trung
4. Mệt mỏi
5. Thiếu động lực
6. Khó khăn trong việc tìm từ
7. Suy nghĩ chậm
8. Mất phương hướng
9. Thay đổi tâm trạng
10. Đau đầu

Nhìn chung, sương mù não khiến người bệnh khó khăn trong việc đối phó với công việc và cuộc sống hàng ngày. Thuật ngữ “sương mù não” thường được sử dụng khi các triệu chứng không chỉ xuất hiện thoáng qua và tạm thời, mà phát triển thành một tình trạng vĩnh viễn.

II. NGUYÊN NHÂN gây ra tình trạng sương mù não
Các triệu chứng được gọi chung là “sương mù não” có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Một số nguyên nhân tương đối dễ khắc phục, chẳng hạn như mất nước, ngủ không đủ giấc, thiếu tập thể dục hoặc dinh dưỡng kém.

Căng thẳng quá mức cũng có thể gây ra sương mù não. Những thay đổi do mang thai hoặc mãn kinh cũng có thể góp phần gây ra tình trạng này. Hơn nữa, sương mù não đã được ghi nhận là triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau và là tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị. Điều này áp dụng như bệnh tiểu đường, ADHD, HẬU-Covid và hội chứng nhịp tim nhanh tư thế, đặc trưng bởi nhịp tim nhanh và chóng mặt khi đứng. Các bệnh tâm lý như trầm cảm hoặc rối loạn lo âu cũng có thể đi kèm với sương mù não.

III. Sương mù não là một TÁC DỤNG PHỤ
Dường như cũng có mối liên hệ với chứng đau nửa đầu hoặc chấn động não trong quá khứ. Tình trạng này cũng xảy ra như một tác dụng phụ của hóa trị ung thưcác liệu pháp dùng thuốc khác. Sương mù não cũng đã được quan sát thấy liên quan đến việc nằm viện dài ngày.

Cần nghiên cứu thêm để xác định chính xác nguyên nhân gây ra những khó khăn này trong não. Có bằng chứng cho thấy sương mù não, trong một số trường hợp, có thể do viêm não. Các nghiên cứu khác cho thấy sự rối loạn trong việc điều hòa lưu lượng máu trong não ở những người bị ảnh hưởng. Sự thiếu hụt serotonin, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng ảnh hưởng đến vô số chức năng của não, cũng có thể đóng một vai trò.

III. CORONAVIRUS và sương mù não.
Ngoài ra, những người bị ảnh hưởng bởi nhiễm virus corona, dù là vĩnh viễn hay trong thời gian dài, thường phàn nàn về tình trạng “sương mù não”. Những người bị ảnh hưởng không chỉ thường nhanh chóng kiệt sức về thể chất mà còn khó tập trung.

Một giả thuyết khoa học cho rằng phản ứng viêm ở những người này vẫn tiếp diễn trong ruột ngay cả sau khi họ đã hồi phục sau COVID. Điều này có thể dẫn đến giảm sản xuất serotonin, gây ra hậu quả cho chức năng não. Một cơ chế tương tự cũng đã được quan sát thấy ở các bệnh nhiễm virus khác trong nghiên cứu. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu trong lĩnh vực này.

IV. CÓ THỂ LÀM GÌ với tình trạng sương mù não?
Việc điều trị có mục tiêu tình trạng sương mù não do bệnh tật hoặc các liệu pháp y tế gặp nhiều khó khăn trong nhiều trường hợp vì khoa học vẫn chưa hiểu rõ cơ chế chính xác gây ra các vấn đề về não. Ngoài HẬU-Covid, tình trạng này cũng xảy ra với sương mù não do hóa trị, có thể kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm sau khi điều trị ở một số người.

Theo nghiên cứu hiện tại, những thay đổi trong não có thể là nguyên nhân gây ra các triệu chứng trong thời kỳ mãn kinh, nhưng những thay đổi này được cho là phần lớn có thể hồi phục. Ngay trước và sau khi sinh con, nhiều phụ nữ cũng cảm thấy khó tập trung hoặc hay quên. Những thay đổi vĩnh viễn về não ở phụ nữ mang thai trong quá trình chuẩn bị làm mẹ thực sự đã được ghi nhận. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy những vấn đề tự nhận thức thường có thể liên quan đến hoàn cảnh sống của phụ nữ ngay trước hoặc sau khi sinh con – ví dụ, thiếu ngủ và nhiều công việc khác cần lưu ý… Não bộ không hề hoạt động kém hơn trước. Nó chỉ chịu áp lực lớn hơn đáng kể và căng thẳng hơn.

V. Có cách TỰ ĐIỀU TRỊ nào cho chứng sương mù não không?
Rất tiếc, không có phương pháp điều trị cụ thể nào cho chứng sương mù não trong những trường hợp như vậy, nhưng việc cải thiện giấc ngủ, tập thể dục nhiều hơn hoặc giảm căng thẳng có thể hữu ích.
Một chế độ ăn uống tốt cũng đảm bảo não được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng. Bạn nên tập trung vào carbohydrate từ ngũ cốc nguyên hạt, axit béo không bão hòa đa như từ các loại hạt, bơ hoặc cá hồi…, protein đặc biệt là từ các sản phẩm sữa ít béo, trứng, cá, các loại đậu và các loại hạt, rau củtrái cây, và ít nhất một lít rưỡi nước lọc hoặc trà không đường mỗi ngày.
Nguồn: Trích dịch từ „Tạp chí Sức khỏe“ (Gesundheits-Magazin) của bảo hiểm y tế AOK / 30.04.2025
. . . .

CẢM NHẬN

Kính thưa các Bạn,
theo Y lý và Y học của Y pháp Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®: CĂNG THẲNG (stress) trước sau và vĩnh viễn vẫn CHỈnguyên nhân phụ (secondary cause) – chứ chưa hề và chẳng phải là căn nguyên (originally) hay gốc bệnh (primary cause) – dẫn đến những bệnh lý khổ tâm gồm tâm lý (psychogy), tâm thần(psychiatry) hay thần kinh (neurology) cũng như đau thân sinh-vật lý (physiology).

Điều đơn giản dê hiểu bởi: Căng Thẳng chỉ là một biểu hiện tâm hay trạng thái của BẤT NHƯ Ý tức PHẢN TÁC-Ý hay còn gọi là NGHỊCH TÂM-HÀNH gây ra – tác-ý hay tâm-hành nghĩa là „ý muốn làm, thực hiện“ một điều gì đó!

Vì thế cho nên:
1. khoa học vẫn chưa hiểu rõ cơ chế chính xác gây ra các vấn đề về não.
2. Đối với nhiều bệnh thần kinh, hiện tại không có liệu pháp chữa khỏi hoàn toàn.
3. Điều trị theo phương pháp đa chuyên khoa.
4. Nhưng cũng vẫn là những liệu pháp dự phòng để làm giảm nguy cơ phát triển hay tái phát.

Hiện nay, các chuyên gia y khoa đã có sự phân biệt giữa liệu pháp nguyên nhân (causal) và liệu pháp triệu chứng (symptome):
1. liệu pháp nguyên nhân giải quyết nguyên nhân gây bệnh,
2. trong khi liệu pháp triệu chứng chỉ điều trị các triệu chứng liên quan đến bệnh.

Tuy nhiên, cái gọi là „nguyên nhân“ theo các chuyên gia nghĩa là „nguyên nhân“ gây bệnh do CĂNG THẲNG để chế tác liệu pháp, thì đối với Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® những liệu pháp này cũng luôn vẫn chỉ là cách „chữa“ ngọn hay triệu chứng! Vì STRESS trước sau cũng vẫn là triệu chứng, là cái QUẢ của NHÂN tác-ý!

Vậy thì, một phương pháp gọi là liệu pháp „căn nguyên“ – chứ không phải là liệu pháp „nguyên nhân“ – thì mới chữa được GỐC bệnh! Tuy nhiên, khi muốn chữa bệnh tận gốc thì PHẢI có phương pháp CHẨN phát hiện NHÂN tác-ý dẫn đến STRESS để có một liệu pháp có thể làm thuần hóa sự tác-ý này khiến stress không còn thì bệnh mới được xem là chữa lành – bởi những triệu chứng của STRESS có thể cân đong đo đếm thấy biết cảm nhận được còn sự hay cách tác-ý thì không thể!

Kính thưa các Bạn,
đối với 12 bệnh thần kinh (neurogically diseases) được liệt kê bên trên – hơn một chu kỳ 12 con giáp (2012-2025) Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® sau khi được Cơ quan Bảo vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức (Deutsches Paten- und Marken-Amt) công nhận bản quyền phát minh, thương hiệu và logo ngày 11.06.2012, cho đến nay chúng tôi có PHƯỚC DUYÊN lành đã từng chẩn trị chữa lành cho những bệnh nhân riêng mắc bệnh thần kinh MỘT trong CHÍN (9) loại trong tổng số 12 loại bệnh thần kinh; ngoại trừ 3 (ba) bệnh thần kinh là: 1. Bệnh nhiễm như viêm màng não (meningitis); 2. Chấn thương như chấn thương sọ não (head injury); 3. Khối u như u não (brain tumor)

Riêng đối với triệu chứng bệnh thần kinh lọai 12 „sương mù não“ (brain fog) thì bản thân chúng tôi là một „bệnh nhân“TỰ CHỮA LÀNH cùng nhiều triệu chứng HẬU-Covid khác bằng liệu pháp „5B-PERG“ do chúng tôi phát minh sau khi chúng tôi bị nhiễm nặng OMICRON vào đầu tháng Hai 2022 – đúng như TÂM-HẠNH nguyện của chúng tôi là:
1. Quyết định KHÔNG TIÊM vakzin Corona, vì hậu chứng của nó (!)
2. Bởi nguyện vọng MUỐN „ĐƯỢC“ NHIỄM Corona-Virus;
3. Để ÁP DỤNG y lý, y học, y thuật Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®
4. TỰ CHỮA LÀNH các triệu chứng bệnh do nhiễm Covid gây ra;
5. Chế tác LIỆU PHÁP „5B-PERG“ để phòng chốngTỰ chữa lành tật dịch bệnh khổ tâm đau thân
6. CÚNG DƯỜNG nhân loại trong giai đoạn nhân quả tam tai với dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh trong thiên niên kỷ này và nhiều thiên niên kỳ kế tiếp… khiến cho hành tinh này không còn năng lượng gì nữa để vận hành công nghệ sản suất thuốc men, vakzin… cũng như vận hành những thiết bị y tế tư nhân hay bệnh viện, kể cả những loại dược thảo cũng không còn tồn tại.

Đối với bệnh „sương mùa não“: Rất tiếc, không có phương pháp điều trị cụ thể nào cho chứng sương mù não – theo „Tạp chí Sức khỏe“ của công ty bảo hiểm y tế lớn nhất nước Đức, ngày 30.04.2025, nghĩa là hơn 5 năm sau khi Covid bùng phát cuối tháng 12.2019.

Ấy thế, mà chúng tôi đã thành công làm được điều BẤT KHẢ TƯ NGHÌ, đối với y khoa là một hiện tượng, một điều chưa từng xảy ra trong ngành y khoa cho đến nay!

Do đó, trong tháng 12.2023, chúng tôi đã „lành bệnh“ và tiếp tục lên bục giảng của Đại học Y học Dân tộc PARACELSUS – Viện Y khoa Đức để giảng dạy truyền đạt y lý, y học, y thuật của y pháp Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® cho sinh viên y, bác sĩ, lương y các khoa ngành sau vài năm „giãn cách“ vì Bồ Tát Corona và gần 2 năm TỰ chữa lành các triệu chứng gọi là HẬU-Covid, nhất là bệnh thần kinh BRAIN FOG (sương mù não) bằng các bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS/n“ do chúng tôi khai triển phát minh thêm.

Hiện giờ, do nhiễm Corona-Virus, nên tai trái của chúng tôi chỉ còn nghe được 50% . sau khi bị nhiễm chỉ còn 10%! Sự cải thiện thính giác nhờ bài „PERG-BS / Immune Therapy“ gọi là „LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH PERG“

Liên quan đền việc chẩn tìm căn nguyênđiều trị chữa lành 8 loại bệnh thần kinh còn lại, kính mời các bạn vào trang nhà „Viện Khoa học Nghiên cứu Ứng dụng Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tìm chủ đề muốn tham khảo trong khung „tìm kiếm“, ví dụ „teo cơ tủy sống“ sẽ hiện ra nhiều bài chia sẻ liên quan đến chủ đề như một bài sau: CẬU BÉ TEO CƠ TUỶ SỐNG

KẾT LUẬN
Cho dù có hay chưa có liệu pháp cụ thể chẩn gốc bệnh để điều trị tận gốc, nhưng trong bối cảnh hiện nay của dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh đang đe dọa sức khỏe của các sinh linh cũng như tình trạng thiếu hụt thuốc men, việc vận hành những thiết bị y tế bị giới hạn nên con người chúng ta PHẢI biết TỰ LO cho bản thân để không bị HỤT HẪNG khi bị lệ thuộc quá nhiều vào những điều kiện cung cấp y tế như vậy.

Chúng tôi kính CÚNG DƯỜNG các Bạn liệu pháp „5B-PERG“ để TỰ tập thuần hoá mọi chức năng của thân và tâm, nhất là hệ miễn dịch, bạch cầu „cổ điển“ và „não bộ“ để TỰ phòng chống và CHỮA LÀNH  tật bệnh khổ tâm đau thân. Bởi: PHÒNG bệnh hơn CHỮA bệnh

Liệu Pháp „5B-PERG“ gồm các biện pháp sau:
1. BIẾT sống chậm lại;
2. BIẾT đủ;
3. BIẾT không vật dưỡng;
4. BIẾT không dùng chất say như bia rượu, xì-ke ma-túy…;
5. BIẾT thuần hóa, ổn định, cân bằng, phục hồi mọi chức năng của Thân và Tâm với ba (03) bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“ quan trọng chính yếu của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® để Phòng Kháng Và Chữa Lành mọi tật bệnh khổ TÂM đau THÂN do nhiễm trùng, nhiễm khuẩn, nhiễm Virus kể cả do Ý Nghiệp tạo ra!

5.1. Bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS/basis“ Phòng Chống nhiễm trùng, nhiễm khuẩn hay nhiễm virus đồng thời Hỗ Trợ Chữa Lành các bệnh nhiễm và nhiều tật bệnh khác:


5.2. Bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS/Vagus Phế Vị“ có khả năng phòng cống và chữa lành các triệu chứng cảm cúm như sốt, ho, chảy nước mũi, mệt mõi… ở trẻ em cũng như người lớn!

5.3. Bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS / Immune Therapy“ gọi là „LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH PERG“ do chúng tôi phát minh nhằm khôi phục, cân bằng hệ Căng Thẳng (stress) gồm hệ Thần Kinh PHẾ VỊ (vagus nervus), Thần Kinh THỰC VẬT (unconscious nervous), hệ MIỄN DỊCH (immunsystem) và BẠCH CẦU (lympho) „bẩm sinh“ (innate) cùng „huân tập“ (accumulated) nơi hình hài và trong não bộ:

6. Lập trình „mPERG“ có 2 loại: dài „mPERG/long“ngắn „mPERG/short“ dùng đọc cho từng động tác của các bài Ý Công TÂM Pháp „PERG-BS“

I. Lập trình „mPERG/long“:
Cho dù những điều tôi mong ước không được như ý,
Cho dù những điều tôi kỳ vọng không được đáp ứng,
Cho dù thiên tai, hoạn họa, chiến tranh,
tật dịch dị bệnh, khổ tâm đau thân
 v.v… ập đến
cướp đi những gì tôi đã, đang và sẽ muốn nắm bắt.
Điều ấy làm cho tôi:
SỢ HÃI, BỰC TỨC, NÓNG GIẬN, THẤT VỌNG,
CAY ĐẮNG, TUYỆT VỌNG VÀ BẤT AN.
Nhưng tôi vẫn HÀI LÒNG, CHẤP NHẬN
và YÊU THƯƠNG bản thân mình NHƯ NÓ ĐANG LÀ
Nên quyết định BUÔNG BỎ HOÀN TOÀN
những TÁC NHÂN tiêu cực dẫn đến
Sợ Hãi, Bực Tức, Nóng Giận, Thất Vọng,
Cay Đắng, Tuyệt Vọng và Bất An ấy.
Và tôi TIẾP TỤC VƯƠN LÊN ĐỂ SỐNG.
Bởi vì tôi còn có:
SỨC KHOẺ, Ý CHÍ, SÁNG SUỐT, BÌNH TĨNH,
có CHÁNH NIỆM, biết TẬP TRUNG vàbiết BUÔNG XẢ

II. Lập trình „mPERG/short“:
Tôi HÀI LÒNG và CHẤP NHẬN
mọi sự việc NHƯ NÓ ĐANG LÀ nênluôn BÌNH TỈNH trước mọi tình huống.
NĂNG LƯỢNG SỐNG 
của tôi cao.Tôi TRÀN ĐẦY TÌNH THƯƠNG.
Tôi LUÔN THƯƠNG YÊU, CÁM ƠN,
SÁM HỐI, XIN LỖI 
muôn loài và vật,và xin HÃY THA THỨ cho tôi cùng tất cả mọi người.

7. CÔNG DỤNG của các bài tập Ý Công TÂM Pháp “PERG-BS” của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®:

1. PHÒNG CHỐNG Triệu Chứng
2. CHỮA LÀNH Bệnh Tật
3. ỔN ĐỊNH Thân Tâm
4. NÂNG CAO Sức Khoẻ
5. MỞ MANG Tâm Thức
6. CHUYỂN HÓA Nghiệp Mạng

Kính thưa các Bạn,
từ đâu sinh ra tật bệnh khổ đau hay sức khỏe hạnh phúc ? Điều này vô cùng đơn giản dễ hiểu, bởi Phật dạy rằng
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA

cho nên
Ta và chúng sanh ĐANG là
TÁC Ý của ta và họ ĐÃ là;
Ta và chúng sanh SẼ là
TÁC Ý của ta và họ ĐANG là…m!

cũng như thế:
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN ĐANG là
từ TÁC Ý chủ nhân của nó ĐÃ là;
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN SẼ là…nh
cũng do TÁC Ý chủ nhân của nó ĐANG là…m!

Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát

Chúng con thương kính chúc mười phương chúng sanh Thân Tâm Thường Lạc, luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối! Và nguyện cho những hương linh qua đời từ vô lượng kiếp trong quá khứ nhẫn đến hiện tại và tương lai được vãng sanh về cảnh giới AN LÀNH thuận theo nghiệp lực hay nguyện lực của mình!

Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya

Tâm chú DƯỢC SƯ:
“Om Bhaisajye Bhaisajye Mahabhasajye bhaisayaraje sammudgate svaha”
“Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Tóa Ha”

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Reseah and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ TƯ ngày 10.09.2025
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover.
https://hannover-wendepunkt.de/team/

Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng  phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:

1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc