Cặp vợ chồng đến phòng khám tổ hợp của chúng tôi trước giờ hẹn hơn nửa tiếng đồng hồ. Họ xin lỗi, vì đã đến quá sớm. Người vợ trông rất thê thảm, khòm người đi vào phòng, ngồi phịch xuống ghế, đôi mắt lờ đờ, nét mặt buồn rầu ủ rũ…; dường như không còn sức sống hoặc vì ngủ chưa đủ giấc!
Thoáng nhìn hai cánh tay bà, chúng tôi phát hiện có rất nhiều đường rạch dọc xéo hay ngang đã thành thẹo. Có lẽ bà đoán được ý nghĩ của chúng tôi, nên vội kéo hai cánh tay áo xuống che lại. Người chồng định lên tiếng. Nhưng chúng tôi yêu cầu ông đừng nói gì cả.
Tôi hỏi người đàn bà có phiền hà hay khó chịu gì không, khi có sự hiện diện của người chồng trong lúc chúng tôi chẩn, tư vấn và trị liệu cho bà. Bà nói: Không sao đâu! Ông ấy đã biết căn bệnh của tôi từ hơn 10 năm qua rồi! Cứ để ông ấy ngồi đó!
Lưu Ý: Trong mọi ca tư vấn hay chẩn trị tâm lý, chỉ có bác sĩ hay điều trị viên và bệnh nhân mà thôi. Không được có thêm người thứ ba, nếu bệnh nhân không đồng ý! Bởi tư vấn hay trị liệu tâm lý là vấn đề nhạy cảm và cấm kỵ (tabu) không một người thứ ba nào được biết hay nghe đến. Nếu bệnh nhân không đồng ý có người thứ ba hiện diện, thì thân nhân họ, bất kể là vợ chồng hay cha mẹ, con cái, người thân hay bạn bè… cũng bắt buộc phải rời khỏi phòng. Bằng không, bệnh nhân sẽ e ngại, dấu diếm không chịu nói hết và thật những ẩn chứa trong lòng. Nnhững điều cho dù rất nhỏ nhưng có thể là yếu tố rất quan trọng cho việc tìm TÁC NHÂN GÂY BỆNH.
Trước khi đến gặp chúng tôi, chồng bà có hỏi chúng tôi rằng: Vợ tôi có phải tường thuật hàng giờ về những chuyện quá khứ hay không? Vì vợ tôi rất sợ khi phải đến bác sĩ tâm lý trị liệu từ 10 năm qua rồi! Cứ mỗi lần được bác sĩ nhà chỉ định đến bác sĩ tâm lý trị liệu thì vợ tôi phải kể lại từ đầu cho họ biết để chẩn định bệnh rồi cho thuốc uống. Bởi các phương pháp can thiệp bệnh tâm thần của vợ tôi trong 10 năm qua đã không mang lại một sự cải thiện nào. Nên bác sĩ tâm thần kết luận rằng vợ tôi mắc „CHỨNG TÂM THẦN CÓ TÍNH DI TRUYỀN!“ và chỉ định uống thuốc „chống động kinh“ hay còn gọi là „thuốc an thần“ (Neuroleptika)
A.
Trước khi đưa vợ đến điều trị bằng „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“, ông đã đến gặp chúng tôi nhiều lần muốn tìm hiểu về „thế nào là DI TRUYỀN và BỆNH di truyền?“
Ông đã hỏi: Thầy có tin về các chứng bệnh di truyền (genetisch) hay không?
„Ông nghĩ thế nào mà hỏi chúng tôi như vậy!“, tôi đáp.
„Thưa Thầy! Bác sĩ nói, vợ tôi bị bệnh „tâm thần“ (Psychose) với chứng „hoang tưởng“ (Halluzination)… thường rạch tay, luôn có ý định tự tử… trầm cảm nặng và nhiều thứ nữa từ 10 năm qua là do DI TRUYỀN từ cha mẹ, ông bà!
Mà quả đúng thật, Thầy ạ! Mẹ vợ tôi, ông nội vợ tôi, trong họ hàng vợ tôi và kể các các cậu dì của con cái tôi cũng mắc chứng này. Y khoa nói thế! Vậy theo Thầy, các chứng bệnh di truyền có thể chữa lành không ạ!“, ông nói.
„Như vậy ông có tin rằng, thật sự có bệnh DI TRUYỀN hay không (1). „LỠ“ bị di truyền thì có thể chữa lành được không (2). Và tại sao trong dòng họ có bệnh DI TRUYỀN mà có người bị người không (3). Thân nhân trong những gia đình gọi là có bệnh di truyền cũng có người được chữa lành (4)?“, tôi đặt vấn đề.
„Xin Thầy giải thích giùm, tôi chịu!“, ông yêu cầu.
B.
Theo tài liệugiáo khoa y học: „DI TRUYỀN (genetisch) là hiện tượng chuyển những tính trạng của cha mẹ sang cho con cái thông qua GEN (a) của cha mẹ. Trong sinh học và di truyền học, di truyền chuyển những đặc trưng sinh học từ một sinh vật cha mẹ đến con cái và nó đồng nghĩa với chuyển GEN (a) – GEN mang thông tin sinh học hay thông tin di truyền!
Ngoài ra, những đặc điểm về tính cách, nhận thức và tư duy của con cái có thể được tiếp nhận từ cha mẹ thông qua môi trường sinh hoạt gia đình (b) như các thói quen, gia phong, nề nếp v.v…
Ở con người, xác định đặc trưng nào phụ thuộc vào di truyền và đặc trưng nào phụ thuộc vào môi trường – cho đến nay vẫn là đề tài – thường gây tranh cãi. Đặc biệt là đối với những đặc tính phức tạp như trí thông minh và màu da, giữa tự nhiên và nuôi dưỡng“.
Xét điểm (b) theo Y lý và Y học TÂM-THỂ P.E.R.G.®: Đây chỉ là sự huân tập (tích thu, tích tập, tích trữ…) thông tin (input, chủng tử, hạt giống, mầm…) qua sáu năng quan là „Mắt – Tai – Mũi – Lưỡi – Thân – Ý“ và đối tượng của nó là các CẢNH (trần) như „hình sắc – âm thanh – mùi – vị – cảm xúc – ý nghĩ“ của 6 giác căn rồi tạo thành NHẬN THỨC (ý thức, nhận biết) có thể đúng hay lệch lạc làm CƠ SỞ SUY LUẬN và ĐÁNH GIÁ dẫn đến PHẢN ỨNG sau này (!)
Những điều nhận biết này (input) được đưa vào „bộ lưu trữ“ (memory, bộ nhớ!) để sau này có thể „nhận biết, đánh giá, phân biệt bất kỳ một thông tin nào do 6 giác căn tiếp thu để quyết định xử lý“ bằng những cảm thọ THÍCH (lạc), GHÉT (khổ), hay KHÔNG THÍCH CŨNG CHẲNG GHÉT (vô ký = không lạc chẳng khổ).
Những thông tin từ gia đình, học đường, xã hội, tôn giáo, bạn bè v.v…có thể được tiếp thu, ghi nhận, đánh giá, xử lý rồi đưa vào tích trữ…để hình thành một cái gọi là NGÃ (ego, selbst).
Ở giai đoạn này, chỉ là sự HUÂN TẬP và chưa hẳn là DI TRUYỀN.
Những thông tin được tích tập (GEN) này đã tạo thành một nhân cách (con người) ví dụ A. Khi người A kết hôn với người B và sanh một có đứa con C, thì những gen của A và B có thể – nhưng không nhất thiết – di chuyển truyền sang người con C!
Giai đoạn này gọi là di truyền (a). Theo đó, C „được hay bị“ A hoặc B, cha hay mẹ, truyền bệnh sang! Hoặc „không nhận“ gì cả từ A hay B.
C.
Theo luận cứ trên, chẳng có gì phức tạp để có thể giải minh rằng: Vì sao cha mẹ mạnh khoẻ – con lại yếu đuối bệnh hoạn, nhưng không phải „di truyền“; hoặc cha mẹ không có trình độ học vấn, buôn gánh bán bưng cho con đi học, mà con lại thành những nhà bác học, danh nhân, vĩ nhân v.v…
Ngược lại, có những bậc phụ huynh rất thông minh, có học vấn và học hàm cao, kiến thức sâu rộng v.v…nhưng con cái chẳng có đứa nào nên trò trống gì cả (!).
Như vậy, có rất nhiều cái tưởng chừng nghịch lý, nhưng không có hiện tượng nào dưới vòm trời này mà không thể giải thích được cả! Chỉ vì con người không nhận biết ra cái bản chất của vạn vật đó là:
Tính TƯƠNG TỨC TƯƠNG TÁC của lý „NHÂN DUYÊN SANH“ trong mọi hiện tượng về SẮC (thân, rupa, material) là những thứ cân đong đo đếm, sờ mó, thấy được – và DANH (tâm, nama, im-material) là những loại phải nhờ đến từ ngữ mới có thể diễn tả (danh) hay nhờ sắc (hình tướng) mới có thể thấy biết và hiểu được (!)
TƯƠNG TỨC có nghĩa là cái NÀY „TỨC“ là cái KIA và
TƯƠNG TÁC là „cái NÀY CÓ (sanh)“ thì „CÓ (sanh ra) cái KIA“;
cái NÀY DIỆT (chấm dứt) thì cái KIA cũng KHÔNG CÒN theo lý NHÂN DUYÊN SANH.
Cho nên có một nhà Sư Phật Giáo đã từng nói rằng: Bạn hãy mở bàn tay ra rồi nhìn vào đó, Bạn sẽ thấy (kiến) được cả thiên hà vũ trụ và tổ tiên huyết thống của Bạn trong đó!
Câu nói này đâu có gì là bí ẩn hay khó hiểu!
Vâng! Khi Bạn thấu triệt hai vế (1) và (2) Y Lý sau đây của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® thì bạn sẽ liễu tri lập tức về câu nói trên, đó là:
Ta ĐANG là
TÁC Ý của ta ĐÃ là (1)
Ta SẼ là
TÁC Ý của ta ĐANG là…m (2)
Bởi „TÁC Ý của ta ĐANG là…m“ chỉ là những cái ĐÃ được ta huân tập và „ĐƯỢC hay BỊ“ NỐI TIẾP LIÊN TỤC từ muôn thưở đã là theo nguyên tắc TƯƠNG TỨC TƯƠNG TÁC – theo nội hàm vế thứ (1) của Y Lý của TÂM-THỂ P.E.R.G.® mà thôi!
D.
Trở lại câu hỏi chúng tôi nêu ra là: „Như vậy ông có tin rằng thật sự có bệnh DI TRUYỀN hay không (1), và „LỠ“ bị di truyền thì có thể chữa lành được không (2), và tại sao trong dòng họ có bệnh DI TRUYỀN, mà có người bị người không (3); và thân nhân trong những gia đình gọi là có bệnh di truyền cũng có người được chữa lành (4)?“
Theo Y Lý TÂM-THỂ P.E.R.G.®: tính di truyền CÓ (1) và những ai mắc những chứng gọi là di truyền, rối loạn phát triển, rối loạn tâm thức hay tâm thần v.v… vẫn có thể ĐƯỢC CHỮA LÀNH (2, 3 và 4). Vì sao?
CHỮA LÀNH là một trạng thái của „cái SẼ là“ (!)
Và khi Bạn „muốn SẼ là“ thì Bạn chỉ cần „Ý THỨC NHẬN BIẾT“ sự TÁC Ý của Bạn ĐANG LÀM NGAY ĐANG LÀ (đang là…m), thì mọi hiện tượng di truyền, rối loạn tâm thức hay tâm thần, kể cả những chứng bệnh thời đại như „lãng trí“ (Demenz) hay lão hoá lú lẫn (Alzheimer) hoặc rối loạn phát triển ở trẻ tự kỷ v.v… đều có thể được chuyển hoá, hoá giải hay bình thường hoá ngay trong lúc đang làm với ý thức nhận biết (đang là). Theo ý nghĩa của vế thứ (2) Y Lý của Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®
E.
Trong nhà Phật, người ta thường nghe câu nói: „Đồ tể buông đao thành Phật!“
Có không ít người đã đặt nghi vấn về câu nói này, hay chấp nhận nó một cách thiếu nhân quả! Một người đồ tể, suốt đời mổ trâu bò v.v… mà chỉ cần „BUÔNG“ đao thì thành „PHẬT“ được ngay à! Sao mà quá dễ dàng thế nhỉ!
Theo thuật ngữ nhà Phật: Từ PHẬT chỉ là một khái niệm ám chỉ cho những ai giác ngộ, tỉnh thức. Nghĩa là người này luôn sống trong từng sát-na „Ý THỨC NHẬN BIẾT CÁI HỌ ĐANG LÀM“, chỉ có thế thôi!
Thái Tử Tất Đạt Đa sau sát-na thành PHẬT (giác ngộ, nirvana), suốt 45 năm tu – hành và truyền đạt giáo lý nhân duyên sanh trên cõi trần này, cho đến sát-na Ngài nhập Vô Dư Y Niết Bàn (pari-nirvana), Ngài đã vẫn luôn an trụ trong từng sát-na „ý thức nhận biết những gì (thân, khẩu và ý) ngài đang là…m“.
Và khi cái „Ý THỨC NHẬN BIẾT“ này – cho dù có còn hay không còn có mặt trong hình hài này gọi là thân của tứ đại – ngũ uẩn thì nó vẫn LUÔN HIỆN HỮU NGAY vô lượng ĐANG LÀ (just moment) NỐI TIẾP
Vì vậy cho nên, khi người Phật Tử nói „Phật Nhập Niết Bàn“ là điều không thể!
Nếu như vậy, thì lúc Ngài còn tại thế, Ngài chưa đạt trạng thái Niết Bàn (nirvana) hay sao! Mà để đến lúc lìa trần mới nhập Niết Bàn (pari-nirvana)?
Vì thế cho nên, khi đồ tể „buông dao“, nghĩa là họ đã có ý thức về hành vi tạo tác „bất nhân quả“ như mổ trâu, bò … của họ; và „thành Phật“ nghĩa là lúc đó họ có „ngay ý thức nhận biết cái tác ý họ đang là…m“, nghĩa là buông bỏ, dứt điểm „ngay lập tức cái tác ý đã là bất nhân quả“ thì „CÁI TÁC Ý dẫn đến hành động ĐANG LÀM“ của họ TỨC là CÁI SẼ là (giác ngộ) và TƯƠNG LAI của họ được xác định NGAY NƠI HÀNH ĐỘNG ĐANG LÀM ấy!
F.
Như vậy „ĐANG LÀ…M“ chính là một hành động, là động từ „làm“ biểu hiện như lời nói hay hành động do TÁC Ý „chủ động“ NGAY ĐANG là…m = just moment
Vì thế cho nên, không cần phải sử dụng phương tiện hay liệu pháp nào để „lui về quá khứ“ để xử lý, chuyển hoá cái đã là.
Cũng như chẳng cần phải suy tính nghĩ ngợi đến tương lai – cái sẽ Là.
Mà chỉ CẦN Ý THỨC NHẬN BIẾT CÁI TÁC Ý „ĐANG LÀ“ (trạng thái) và sự việc „ĐANG LÀM“ (hành động) để chuyển hoá và bình thường hoá mọi bế tắc, rối loạn kể cả bệnh khổ tâm đau thân – gọi là NGHIỆP bệnh (!)
Nếu được phép „chơi chữ“, thì hai nhóm từ „ĐANG LÀ“ và „ĐANG LÀ(M)“ chỉ có khác nhau một chữ „M“.
1) Chữ „M“ theo tiếng Anh là „M-ove“ – di chuyển, chuyển động, làm … là một ĐỘNG TỪ.
2) Và chữ M cũng có nghĩa là „M-oment“, nghĩa là „hier and now“ = „tại đây và bây giờ“ mang tính không gian và thời gian, nghĩa là:
ĐANG LÀ là một TRẠNG THÁI (moment)
ĐANG LÀ…M là một HÀNH ĐỘNG (move)
TRẠNG THÁI và HÀNH ĐỘNG này HIỆN HỮU và DIỄN RA NGAY ĐANG LÀ (just moment) do TÁC Ý vận hành.
Xin lưu ý: JUST MOMENT là một hiện hữu có mặt liên tục không bị vô thường chi phối! Còn „HIER und NOW“ (ở đây và bây giờ) KHÔNG THẬT CÓ bởi do nhân duyên sanh, nên vẫn bị vô thường hci phối!
SỰ SỐNG của mọi loài chúng sanh cũng vậy!
Vì thế cho nên, chỉ có một sự „SỐNG THẬT SỰ“ khi cón hít vào thở ra được NGAY „ĐANG LÀ“ just moment), chứ không có cái gọi là tôi „ĐÃ sống“ và „SẼ sống“ hoàn toàn chỉ là những HOANG TƯỞNG, ẢO GIÁC!
G.
Đối với nữ bệnh nhân kề trên: Triệu chứng HOANG TƯỞNG của bàkhông phải DO DI TRUYỀN mà vì sự TÁC Ý: THƯƠNG HẠI QUÁ LỚN của bàđối với hoàn cảnh của người khác!
I. Thưa các Bạn! Dĩ nhiên, chúng tôi chỉ giải thích sơ lược về khái niệm di truyền theo Y Lý của TÂM-THỂ P.E.R.G.® để người chồng nắm bắt được Y Học và Y Thuật của Y Pháp này – một tư tưởng y học và y thuật đang được nhiều nghiên cứu thần kinh học trong việc trị liệu những triệu chứng bệnh tâm lý và tâm thần „xác chứng!“.
Nhưng sẳn có ngẫu hứng với đề tài DI TRUYỀN nên chúng tôi mạn phép dài dòng chia sẻ với các Bạn đôi điều về Y LÝ của TÂM-THỂ P.E.R.G.® trong việc can thiệp các chứng bệnh gọi là DI TRUYỀN, chỉ có thế thôi!
Đồng thời, qua những dòng chia sẻ này, các Bạn yêu thích Y Pháp „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ cũng có DUYÊN đọc, tham khảo để hiểu biết thêm về Y Lý – Y Học và Y Thuật của người khai sáng ra Y Pháp này!
II. Trở lại ca lâm sàng – Người vợ đã kê khai mọi triệu chứng bà đang hiện có. Bởi chúng tôi chẳng hứng thú gì và cũng không phải mất nhiều thì giờ để nghe bà kể về những triệu chứng từ căn bệnh gọi là di truyền của bà! Và bà cũng đã chán kể lại câu chuyện về bệnh sử của bà suốt 10 năm qua, mỗi lần đến bác sĩ hay chuyên gia tâm lý trị liệu phương Tây!
Theo Tây Y, một bệnh nhân „được“ NGHI rằng có triệu chứng bệnh tâm thần hay tâm lý thì
(1) bệnh nhân đó khai báo tất tần tật theo bảng câu hỏi đã được thiết kế sẳn cùng cấp độ triệu chứng.
(2) Kế đến, nhân viên trực tiếp can thiệp cài hết những câu trả lời vào máy vi tính.
(3) Máy vi tự động dựa vào Cẩm nang Chẩn đoán Triệu chứng Bệnh gọi là ICD-11 (ICD: „International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems“, thống kê phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe / con số „11“ là sự phân loại lần thứ 11 có hiệu lực từ ngày 01.01.2022) mà truy tìm (chẩn) ra MÃ số (code) căn bệnh, cấp độ bệnh, cách trị liệu, chỉ định thuốc dùng, thời gian trị liệu…
(4) Với những thông số này, bác sĩ tâm lý trị liệu chỉ cần gửi chúng đến Cơ Quan hay Công Ty Bảo Hiểm Y Tế của bệnh nhân yêu cầu thanh toán phí chẩn trị v.v…
(5) Sau thời gian quy định, nếu bệnh tình không thuyên giảm… thì tiếp tục quy trình như thế để chẩn trị tiếp…
(6) Thậm chí ngưng luôn – cho về nhà uống thuốc an thần… suốt đời (!)
(7) nếu có những hành vi gây nguy hại cho bản thân, xã hội, cộng đồng v.v… thì người này sẽ là cư dân của những bệnh viện tâm thần…
Điều đáng muốn nói ở đây là: Tới nay, CHƯA có một phương pháp Tâm Lý Trị Liệu nào có CÁCH CHẨN TÌM GỐC – điều mà chúng tôi gọi là tác nhân, căn nguyên nghĩa là TÁC Ý dẫn đến các triệu chứng TÂM LÝ gây bệnh VẬT LÝ – để trị tận gốc bệnh… Mà chỉ toàn CHẨN TRỊ „NGỌN“ nghĩa là TRIỆU CHỨNG. Thậm chí kể cả phương pháp „cổ điển“ thôi miên của cha đẻ ngành tâm lý học và trị liệu và hầu hết các phương pháp gọi lá tâm ly trị liệu cũng chỉ ở bình diện chữa NGỌN (!)
Vì thế cho nên, điều quan trọng tiên quyết của Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® là CHẨN để „TÌM“ TÂM (tác) Ý hiện đang làm cuộc sống của bệnh nhân bị bế tắc, rối loạn hoặc gây tật bệnh khổ tâm đau thân cho họ!
Tất cả những triệu chứng bà kể ra, cho thấy bà đang bị trầm cảm „nặng“:
1) Bà luôn có ý nghĩ „mọi ý nghĩ, lời nói hay hành động KHÔNG PHẢI LÀ CỦA MÌNH“ (hoang tưởng).
2) Nên bà thường dùng dao lam rạch tay để tìm CẢM GIÁC „TỰ THÂN“ (mất tự tin).
3) Bởi vì quá BUỒN PHIỀN, nhưng không biết nguyên nhân, nên thường có ý nghĩ TỰ TỬ (suizid)…
Bà đã “được” bác sĩ chỉ định uống „thuốc chống động kinh“ còn gọi là „thuốc an thần (kinh)“ (Neuroleptika) từ nhiều năm qua.
III. NEUROLEPTIKA
THUỐC AN THẦN (kinh), cũng được gọi là thuốc có chứa chất ma tuý (psychotrope) có tác dụng:
a) chống loạn thần kinh (antipsychotic),
b) giảm đau (sedativ) và
c) giảm hoạt động của thần kinh (psychomotor).
Nó ảnh hưởng mạnh đến ảo giác và sự hoang tưởng; làm giảm kích thích cảm xúc, giảm tính năng động, ngăn ngừa những hành động đột xuất, có biểu hiện ở mặt và thân, buồn ngủ liên miên…
1. Thuốc an thần chủ yếu được sử dụng điều trị các chứng rối loạn tâm thần (psychose), động kinh (epileptic), chống hoang tưởng (halluzination) trong thời gian cai nghiện hay có ý tưởng tự tử… cũng như được sử dụng chống các chứng đau nhức mãn tính…
2. Phản ứng phụ hay tai hại của thuốc an thần (kinh) neuroleptika là: Rối loạn cảm xúc, luôn có tâm trạng sợ sệt, ngủ li bì, mất cần bằng thân và tâm, ảnh hưởng gây rối loạn hoạt động tuần hoàn tim mạch và khí quản…
H. CHẨN và TRỊ theo y pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®.
I. CHẨN:
Sau thao tác CHẨN, chúng tôi phát hiện TÂM (tác) Ý dẫn đến những triệu chứng theo những lời khai bệnh của bà là ý nghĩ „THƯƠNG HẠI“.
Khi nghe được cụm từ này, người chồng vỗ đùi và đứng lên nói. „Trúng phóc!“. Rồi bước đến ôm chầm lấy tôi cám ơn!
Còn người vợ thì khóc sướt mướt. Kế đến bà thở phào và nét mặt sáng, tươi hẳn ra rồi nói: Thế mà 10 năm qua, chẳng ai tìm ra được! Mà nói là tôi bị di truyền không thể chữa lành! Điều này làm tôi luôn sợ hãi, nên thường suy nghĩ vẫn vơ, đêm ngủ luôn bị ác mộng. Tình trạng này dẫn đến hoang tưởng, ảo giác và có ý muốn tự tử.
Bà nói tiếp: Trước đây 10 năm, tôi là thư ký cho các phiên xử của toà án Dân Sự, Xã Hội, Lao Động và Gia Đình. Nhiều vụ án rất thương tâm, không những cho tội nhân mà còn cho những người bị liên hệ. Nhất là những vụ ly dị. Nhìn các trẻ em ngồi nghe cha mẹ tranh cãi để dành quyền lợi kinh tế do nhà nước trợ cấp cho người được hưỡng quyền chăm sóc con sau khi ly dị v.v…
Tôi có ý nghĩ BUỒN, ĐAU XÓT và THƯƠNG HẠI họ. Cái ý nghĩ này nó dày vò tư tưởng của tôi, vì tôi cảm thấy BẤT LỰC không thể giúp gì được cho họ. Từ đó tôi bị TRẦM CẢM.
Triệu chứng này ngày càng trầm trọng hơn. Nên tôi được nghỉ việc ăn hưu sớm ở tuổi 45. Sau đó, tôi đã và đang rất mỏi mệt để lê lết từ phòng mạch này sang bệnh viện khác. Cuối cùng, căn bệnh của tôi bị đánh giá là do DI TRUYỀN và cơ hội chữa lành rất mong manh! Vì thế tôi được chỉ định suốt đời uống thuốc an thần (neuroleptika) để ngăn ngừa và làm giảm triệu chứng.
Và chính tác dụng của cái „thứ quỷ quái“ này nó đã làm cho cuộc sống của tôi ngày càng thê thảm hơn. Thành thật cám ơn món quà „trao tặng sức khoẻ và cuộc sống“ của Thầy, vì mấy ngày nữa tôi mừng sinh nhật. Đây là món quà „nhớ đời“ của tôi Thầy ạ! Xin cám ơn Thầy!
II. TRỊ LIỆU
Ứng dụng y thuật „Kích Hoạt Não Bộ (brain stimulation, BS) Cài Đặt (install) Lập Trình (software) „mPERG“ Chuyển Hóa Ổn Định Cân Bằng TÂM Ý cho việc Hình Thành những Thần Kinh MỚI đểthiết lập vùng NÃO MỚI cho mục đích Chữa Lành bệnh chứng“, bà đã cùng chúng tôi thực tập thao tác quy trình này.
Sau khi thao tác trị liệu chấm dứt, bà đứng lên ôm chúng tôi thắm thiết, bất kể sự có mặt của người chồng! Có lẽ bà cũng nhận ra điều này, nên đã xin lỗi chồng về hành động trên. Người chồng hoan hỷ chấp nhận!
Chúng tôi đã trắc nghiệm cơ địa của bà để ra toa chỉ định. Kết quả: bà phải nghiêm túc chấp hành thao tác y thuật trên trong 14 ngày, mỗi ngày 3 lần.
Và để kiểm nghiệm hiệu ứng của y pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®, chúng tôi đã TEST và cơ địa bà đồng ý „tạm ngưng uống thuốc trong vòng 14 ngày“. Bà và chồng cũng đồng thuận đề nghị này!
Trước khi từ giã, người chồng nói với chúng tôi rằng: Nếu sau 14 ngày, vợ tôi được CHỮA LÀNH thì tôi sẽ đưa „cả họ“ đến cho Thầy CẮT ĐI cái DI TRUYỀN này ạ!“ Tôi chắp hai tay, cúi đầu cám ơn!
KẾT
CHỮA LÀNH: Ba (3) ngày sau, nghĩa là chưa hết liệu trình 14 ngày, bà đã điện thoại và vui mừng nói cho chúng tôi biết rằng: Trong ba ngày qua, bà đã nghiêm túc thao tác „toa chỉ định“ được cơ-địa bà chấp nhận. Kết quả sơ bộ như sau: Bà ngủ ngon và sâu, không bị ác mộng, hành vi có ý thức nhiều hơn, không có suy nghĩ vẫn vơ, hoang tưởng hay ảo giác cũng như không còn ý nghĩ tự tử nữa (!)
Nói chung là các triệu chứng được cho là do di truyền (!) đã thuyên giảm gần hết!
Chúng tôi cũng vui lây với niềm hạnh phúc của bà và yêu cầu bà tiếp tục thao tác cho hết 14 ngày, rồi báo cáo tiếp cho chúng tôi rõ. Xin chúc phúc cho bà!
Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® BẤT KHẢ TƯ NGHÌ!
Sau một tháng, tôi nhận được những cú điện thoại đặt lịch chẩn trị. Họ là bà con thân nhân họ hàng bên vợ của nữ bệnh nhân trên – tất cả đều được Tây y chẫn đoán là bệnh di truyền (!)
Kính thưa các Bạn, tất cả đều vô cùng đơn giản dễ hiểu, bởi Phật dạy rằng:
Mọi PHÁP KHÔNG THẬT CÓ
bởi DO NHÂN DUYÊN SINH
NHÂN QUẢ luôn CÓ THẬT
ĐANG vận hành TỪNG SÁT NA
vì thế
Bà ĐANG là
Cái TÁC Ý của bà ĐÃ là;
Bà SẼ là
TÁC Ý của bà ĐANG là…m!
cũng như thế:
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN ĐANG là
từ TÁC Ý chủ nhân của nó ĐÃ là;
Tật bệnh khổ TÂM đau THÂN SẼ là…nh
cũng do TÁC Ý chủ nhân của nó ĐANG là…m!
Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát
Chúng con thương kính chúc mười phương chúng sanh Thân Tâm Thường Lạc, luôn An Lành với Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNH, NHÂN SINH có thể AN LẠC ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối! Và nguyện cho những hương linh qua đời từ vô lượng kiếp trong quá khứ nhẫn đến hiện tại và tương lai được vãng sanh về cảnh giới AN LÀNH thuận theo nghiệp lực hay nguyện lực của mình!
Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya
Tâm chú DƯỢC SƯ:
“Om Bhaisajye Bhaisajye Mahabhasajye bhaisayaraje sammudgate svaha”
“Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Tóa Ha”
Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Reseah and Treatment of Long-COVID Diseases”
Thứ HAI ngày 18.08.2025
Trân trọng kính giới thiệu Phòng Khám Chẩn Điều Trị (Praxis) của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ tại tổ hợp y khoa “Wendepunkt” ngay trung tâm thành phố Hannover.
https://hannover-wendepunkt.de/team/
Các Bạn khắp năm Châu nếu có nhu cầu khám chẩn điều trị mọi bệnh tật hay triệu chứng đau nhức thân hay những bệnh nan y như ung thư các kiểu; các bệnh tâm lý hay tâm thần; bệnh tâm do thân gây ra; các hội chứng Long-Covid, mọi triệu chứng Rối Loạn Phát Triển ở trẻ em và Thanh Thiếu niên như tăng động (ADHD), chậm hay không nói, bạo hành, nghiện ngập v.v… bằng phương pháp Năng Lượng TÂM-THỂ P.E.R.G.® trực tiếp tại phòng khám hay trực tuyến Online, kính xin các Bạn liên hệ với chúng tôi qua các cách như sau để đặt lịch (Termin) khám chẩn điều trị:
1. Điện thoại di động: (+49) 176-4341 1238
2. E.Mail: thichon@arcor.de
3. Liên hệ : https://nangluongtamtheperg.de/contact/
4. Inbox Facebook Messenger: Ngoc Diep Ngo


Bình luận