TƯ LIỆU . ĐAU MÃN TÍNH (chronic pain) và TÂM-THỂ P.E.R.G.®

Trong thời gian qua, chúng tôi có ghi nhận nhiều yêu cầu cũng như đề nghị của rất nhiều Bạn hữu xa gần của „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“ – viết ngắn là Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® hay ngắn hơn nữa là  P.E.R.G.® – muốn tìm hiểu về nhiều thông tin hay khái niệm qua các bài viết cũng như  kết quả các công trình khảo sát, nghiên cứu v.v… mới nhất ở nước ngoài, như nơi chúng tôi đang cư ngụ trên 50 năm qua là nước Đức, liên quan đến Thần kinh hệ, Não bộ, Tâm thần, Tâm lý, Tâm thể học…

Nay chúng tôi tạo một hạng mục mới gọi là „PSYCHE News“ (Tin Tức Tâm Lý) gồm những bài viết, kết quả nhiều nghiên cứu khảo sát đượng đại v.v… của nhiều tác giả, chuyên gia đăng tải trên các cổng thông tin cũng như theo tài liệu giáo khoa y học… liên quan đến chủ đề liên hệ nhằm đáp ứng yêu cầu của các Bạn cũng như việc học hỏi trau dồi kiến thức liên tục không ngừng nghỉ của chúng tôi – mặc dù Y Lý, Y Học và Y Thuật của P.E.R.G.® có thể hoàn toàn khác hẳn với khoa Tâm lý học và Tâm lý trị liệu cổ điển và hiện đại v.v…

Theo tinh thần tứ hoằng thệ nguyện của pg phát triển (mahayana): pháp môn vô lượng thệ nguyện học và theo quán chiếu của chúng tôi, hàm ý câu trên có nghĩa là: tất cả mọi cái gọi là „pháp môn“ (lối vào) vẫn chỉ là các phương pháp, phương tiện… ngay cả giáo lý của đức phật hay các tông phái khác nhau của hậu duệ dòng họ thích cũng thế… và tất cả „pháp môn“ cũng đều là những ngón tay „hướng đến mặt trăng“… chứ mặt trăng không hề là ngón tay (!)

điều quan trọng là học tất cả mọi cách, biết „nhiều ngón tay“ chỉ mặt trăng… rồi phải buông bỏ những thứ đó… những phương tiện đó… mới có thể thong dong với cách „của mình“ để thể nhập với mặt trăng – nghĩa là „mặt trăng“ và „ta“ không khác chẳng giống (!) chứ không thể rập khuôn theo cách của người khác để có thể đến mặt trăng được!

cho nên điều tối kỵ là: không phải chỉ học được vài „pháp môn“ hay biết „vài ngón tay chỉ mặt trăng“ rồi ôm chặt nó, trang điểm nó, sợ mất nó v.v… thì rốt cuộc cũng chỉ cùng lắm là ở „đầu ngón tay“ mà cứ tưởng rằng „ta đang ở mặt trăng“… tình trạng này ngày nay nhiều vô kể, các bạn ạ!
. . . . .

ĐAU MÃN TÍNH (chronic pain): Tính LINH HOẠT (flexibility) là CHÌA KHOÁ cho SỨC KHOẺ TÂM LÝ (mental well-being) – Vai trò của KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG (adaptability) cho việc thiết lập mục tiêu sức khỏe tâm lý trong cơn đau mãn tính.

Kết quả một nghiên cứu mới từ Đại học Edith Cowan (ECU) đã cho thấy rằng đối với những người bị đau mãn tính, không nhất thiết là cường độ cơn đau của họ, mà là mức độ ảnh hưởng nghiệm trọng đến cuộc sống hàng ngày của họ luôn là mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe tinh thần của họ.

Các nhà nghiên cứu của đại học ECU như cô Tara Swindells và Giáo sư Joanne Dickson đã khảo sát ý kiến của hơn 300 người bị đau mãn tính không phải do ung thư. Những người tham gia đã trả lời các câu hỏi về sức khỏe tâm lý, “cường độ đau” và mức độ mà cơn đau ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt đơn giản hàng ngày của họ – cái gọi là “sự can thiệp của cơn đau” (pain interference).

Giáo sư Dickson giải thích rằng: Kết quả nghiên cứu cho thấy mọi người về mặt tâm lý và vật lý bởi đau nhức không có khả năng tham gia những hoạt động giúp họ đạt được mục tiêu cá nhân. Điều này có thể là tác động đáng kể đến tình trạng sức khỏe tâm lý của họ.

“Tuy nhiên, nghiên cứu đã cho thấy rằng: Sự linh hoạt của cá nhân đối với mục tiêu – nghĩa là khả năng thích ứng với những khó khăn và trở ngại trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến mọi nỗ lực bảo vệ hoặc đạt được mọi điều quan trọng của họ – sẽ tạo ra một cái đệm phòng hộ cho việc duy trì và hỗ trợ  sức khoẻ tốt cho tâm lý”, theo cô tara swindells.

1. Ý nghĩa „SỨC KHOẺ TÂM LÝ“ (mental wellbeing)
trái ngược với mong đợi, nghiên cứu cho thấy những người bị đau mãn tính cảm nhận “sự suy giảm cơn đau” có vấn đề nhiều hơn là “cường độ đau”.
“những kết quả của việc khảo sát cho thấy rằng: sự ảnh hưởng nghiêm trọng của cơn đau (pain impairment) đối với cuộc sống hàng ngày thay vì cường độ đau (pain intensity) luôn có tác động tiêu cực mạnh đối với sức khoẻ tâm lý” cô nói.
“kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy mọi người có thể tìm cách duy trì tâm lý thoải mái ngay cả khi đối với „cường độ đau cao“, miễn là cơn đau không ảnh hường gì đến mọi khía cạnh quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của họ.”

2. LINH HOẠT TINH THẦN (mental flexibility) giúp ích được gì?
theo giáo sư swindells, công trình khảo sát đã quan tâm đến sự kiên trì theo đuổi những mục tiêu kiên trì (goal persistence) và thích nghi những mục tiêu đó để có thể đương đầu với mọi thất bại hay trở ngại cái gọi là mục tiêu linh hoạt (goals flexibility). điều này có thể giúp giải thích cách mà một số người bị đau mãn tính duy trì cảm giác (feeling) sức khoẻ tinh thần.

BàTara Swindells nói rằng, kết quả lần đầu tiên cho thấy rằng: Một số quá trình động viên mục tiêu nhất định dường như có tác dụng phòng hộ và làm đệm cho sức khỏe tâm lý của những người bị đau mãn tính.
Bà nói: “Cụ thể, chúng tôi phát hiện ra rằng: MỤC TIÊU LINH HOẠTMỤC TIÊU KIÊN TRÌ dường như có thể làm giảm tác động cảm xúc tiêu cực của chứng rối loạn đau nhức (pain disorder) đối với sức khỏe tâm lý, ở tính linh hoạt (flexibility) thậm chí còn mạnh hơn tính kiên trì (persistence).”

“Vì vậy, nếu bạn có khả năng thích nghitìm cách đạt được những gì quan trọng nhất với mình bất chấp mọi trở ngại trong cuộc sống, điều đó sẽ bảo vệ sức khoẻ tâm lý của bạn.”
Cô Tara Swindells nhấn mạnh rằng: Việc điều trị cơn đau (pain therapy) và sức khoẻ tâm lý (mental heath) có khía cạnh (facets).

Nhiều nghiên cứu khảo sát trước đây về đề tài đau nhức (pain) đã cho thấy rằng: Những yếu tố thể chất (physical faktos) ví dụ như giấc ngủ, chấn thương, bệnh tật v.v…  và các yếu tố xã hội (social factors) ví dụ như việc làm, hỗ trợ xã hội… và nhiều yếu tố về kinh tế (economic factors) đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị cơn đau, theo cô Tara Swindells.

“Những kết quả sự khảo sát của chúng tôi bổ sung thêm kiến ​​thức này. Cô cho biết rằng: Mọi biến thể trong quá trình tâm lý thích ứng cung cấp một góc nhìn hữu ích khác để hiểu mối liên hệ giữa sự can thiệp cơn đau (pain interferenz) và sức khoẻ tâm lý (mental heath).”

Những kết quả phát hiện của công trình khảo sát nghiên cứu đã được công bố trên Tạp chí Quốc tế về Nghiên cứu Môi trường và Sức khỏe Cộng đồng (International Journal of Environmental Research and Public Health), Những điều này có thể có ý nghĩa đối với việc phát triển chính sách y tế công cộng và các chiến dịch y tế công cộng tập trung vào việc thúc đẩy sức mạnh tâm lý (psychological power) thay vì làm suy giảm (deficits) nó – chẳng hạn: Những thông điệp tích cực về việc tự chăm sóc (self care) liên quan đến việc điều trị đau nhức (pain therapy).

Tham khảo, trích dịch, biên soạn: Tạp chí Nghiên cứu Môi trường và Sức khỏe Cộng đồng Quốc tế (2023). DOI: 10.3390/ijerph20021278 – Psylex
. . . . .

CẢM NHẬN
Trên đây là một báo cáo về mối tương quan giữa SỨC KHOẺ TÂM LÝ hay nói cách khác là TÌNH TRẠNG TÂM LÝ bởi ĐAU MÃN TÍNH.

Để hỗ trợ cho sức khoẻ tâm lý, các chuyên gia khảo sát bằng cách thăm dò ý kiến của 300 người bị ảnh hưởng qua một bảng câu hỏi đã được thiết lập sẳn (điều kiện cách) rồi đánh giá bằng cách thống kê theo phần trăm các câu trả lời nào nhiều nhất – còn việc đưa ra quan điểm hay nhận định chưa hẳn hợp lý, và việc đề suất một phương pháp chung áp dụng cho tất cả mọi trường hợp đau mãn tính cũng không mang tính phổ biến!

Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là ĐAU MÃN TÍNH theo định nghĩa của Y Học phương Tây.

A. ĐAU MÃN TÍNH (chronic pain) – ảnh hưởng đến chất lượng sống của vô số người. Thử thách đối với những người bị ảnh hưởng thường bắt đầu bằng cơn đau cấp tính do chấn thương hay bệnh tật. Trong một số trường hợp, chúng phát triển theo thời gian gọi là đau mãn tính theo thời gian. Tình trạng này vẫn tồn tại ngay cả sau khi tổn thương mô gây ra đã lành – cơn đau „tự nó“ trở thành một căn bệnh.

1. ĐỊNH NGHĨA – Đau mãn tính là gì? Đau mãn tính là cơn đau hầu như luôn suất hiện
a. ít nhất ba (03) đến sáu (06) tháng hoặc
b. tái phát thường xuyên
c. ảnh hưởng nghiêm trọng đến bệnh nhân về thể chất (physically): mất khả năng vận động, suy giảm chức năng…); nhận thức (cognitive): độ nhạy cảm, tâm trạng, suy nghĩ… cũng như về mặt xã hội.

Ở đây, theo y khoa phương Tây: CƠN ĐAU là triệu chứng chủ yếu (leading symptom) của hội chứng đau mãn tính này.

Về mặt y học gọi  là „Hội Chứng Đau Mãn Tính“ (chronic pain syndrome) – không còn là một tín hiệu báo động hợp lý cho thấy cơ thể ĐANG bị tổn thương chẳng hạn ĐANG bị chấn thươnghay ĐANG bệnh tật cục bộ. Thay vào đó, chúng biểu hiện cho một chứng đau riêng biệt không có nguyên nhân rõ ràng (1).

1. ĐAU MÃN TÍNH
1.1 thường đi kèm nhiều triệu chứng khác chẳng hạn như rối loạn giấc ngủ (sleep disorders), sợ ăn (fear of food), dễ cáu kỉnh (increased irritability), tâm trạng trầm cảm (depressive moods).
1.2. Ngoài ra, chúng còn có nghĩa là nhiều hạn chế nghiêm trọng trong cuộc sống hàng ngày, công việc và giải trí
2. MÃN TÍNH HOÁ (chronification) – Một hội chứng đau mãn tính thường phát sinh từ các triệu chứng cấp tính (acute complaints): Mọi kích thích đau (pain stimuli) dai dẳng khiến các tế bào thần kinh (nerv cells) phản ứng ngày càng nhạy cảm hơn đối với sự kích thích theo thời gian – điều đó có nghĩa là ngưỡng đau giảm xuống.

Khi mọi kích thích đau LẶP ĐI LẶP LẠI sẽ để lại “những DẤU VẾT ĐAU” (pain marks) và phát triển thành “KÝ ỨC ĐAU” (pain memory). Khi đó, bệnh nhân LUÔN cảm thấy ngay cả những kích thích đau “nhỏ nhất” hoặc thậm chí chạm vào là đau.

Các tế bào thần kinh thậm chí đôi khi TỰ gửi tín hiệu đau đến hệ thần kinh trung ương (central nervous system) – mặc dù nguyên nhân ban đầu của cơn đau, chẳng hạn bị chấn thương đã lành từ lâu!

Vì vậy cho nên, “NÓ” đau – mặc dù thật sự không còn bất kỳ nguyên nhân hữu cơ nào cho “nó” nữa!

B. MÃN TÍNH (chronic) theo Liệu Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®
Cái gọi MÃN TÍNH là:
1. Một thuật ngữ dùng nói đến một tình trạng, triệu chứng, hội chứng … gọi là LẶP ĐI LẶP LẠI trong lúc nguyên nhân ban đầu „không còn tồn tại“2. Tình trạng này xảy ra do sự TÁC Ý của người bị ảnh hưởng – nghĩa là: GỐC của cái gọi là MÃN TÍNH chính là TÁC NHÂN tâm thức – không phải „tâm lý“, bởi „tâm lý“ là sự biểu hiện ra bên ngoài của Tâm Thức.
Chúng tôi gọi nó là sự TÁC Ý, tức là Ý (nghĩ) MUỐN THỰC HIỆN (tạo tác) một điều gì đó qua lời nói (khẩu), hành động (thân) cũng như diễn bày bằng một cảm giác nào đó… ở trường hợp này là „cái“ ĐAU (pain).
Và điều này đã được Y Khoa xác nhận từ lâu!

Tuy nhiên, dù biết như vậy, nhưng họ vẫn tìm cách nghiên cứu, khảo sát, áp dụng mọi cách để làm giảm cơn đau, chứ chưa thể chạm được GỐC của cơn đau là gì – tức là tác nhân (tác ý) của nó – để có thể giúp người bị ảnh hưởng chuyển hoá triệt để „cái“ tác ý gây bệnh này…

3. Vì thế cho nên, việc khám chẩn (test) tìm tác nhân (tác ý)gây mọi triệu chứng tật dịch dị bệnh khổ tâm đau thân là điều TIÊN QUYẾT trước khi lên PHÁC ĐỒ „trị liệu“ đối với chúng tôi – Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®.

Bởi mọi tình trạng MÃN TÍNH (tác ý) ở mỗi người HOÀN TOÀN KHÁC NHAU, không thể có kiểu MÃN TÍNH chung chung được.
Điều này đơn giản dễ hiểu thôi, bởi: Cách LẶP ĐI LẶP LẠI mọi KÍCH THÍCH ĐAU để lưu lại “những DẤU VẾT ĐAU” (pain marks) rồi phát triển thành “KÝ ỨC ĐAU” (pain memory) ở mỗi người HOÀN TOÀN „KHÔNG GIỐNG NHAU“ – bởi TÙY nội dung TÁC Ý của họ!

Như vậy, những điều trên cho thấy rõ rệt và thuyết phục rằng: Mọi ứng dụng cho việc điều trị hiện nay đều chỉ là chữa ngọn – kể cả cái gọi là Thiền Chữa Bệnh v.v… (sic) – Vì sao? Khi CHƯA „BIẾT“ thật sự „TÁC NHÂN gây QUẢ BỆNH“ thì thiền kiểu gì cũng là cách chữa ngọn chung chung!
C. TRỊ LIỆU theo Y Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®
Dù ở trạng thái cấp tính hay mãn tính của mọi triệu chứng Thân hay Tâm – như chúng tôi đã trình bày ở điểm B trên – thì việc chuyển hoá cái gọi là tác ý (tác nhân) chỉ có thể ngay đang là bằng phương thức „ĐEM TÂM VỀ THÂN“.

Khái niệm ĐEM TÂM VỀ THÂN của Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.® hoàn toàn không GIỐNG
1. các Thiền sư thường nhắc đến là hành động „ÔM ẤP NỖI ĐAU“ ấy – rất nguy hiểm theo kết quà nhiều khảo sát nghiên cứu tâm lý hay tâm thần trị liệu đã cho thấy;
2. hay thiền chánh niệm (vipssana) – cũng chỉ có kết quả giới hạn ở một số triệu chứng nào đó; nhưng đối với các triệu chứng tâm lý hay tâm thần nặng đều không khả thi;
3. hoặc cách ám thị như một số phương pháp tâm lý trị liệu „cổ điển“ hoặc „đương đại“ v.v…;
4. cũng như các phương pháp dùng ngôn từ, khái niệm tâm lý chỉ có khả năng ru ngủ người bị ảnh hưởng… chứ không thật sự vào thẳng gốc.

Vì sao? Như chúng tôi luôn đề cập đến là vì: Mọi phương pháp này đều chữa ngọn chứ chưa thể biết cách chẩn để phát hiện GỐC bệnh…

Ngay cả trong Phật Giáo khi nói đến cái KHỔ.
KHỔ chỉ là một khái niệm chung – nghĩa là tham – sân – si hay vô thừờng là khổ!
Nhưng tham -sân – si như thế nào và hiểu vô thường như thế nào để dẫn đến KHỔ ra sao, thì cái GỐC tham – sân – si và sự hiểu biết về Vô Thường thật sự mà nói: Ở mỗi người hoàn toàn khác nhau dẫn đến cái „chất lượng“ (quality) và „mức độ“ (intensity) khổ cho họ cũng hoàn toàn khác. Điều này có giá trị cho tất cả mọi bệnh chứng hay hội chứng của đau THÂN và khổ TÂM bệnh!

Vì thế cho nên, không thể có một phác đồ kiểu thống kê hóa để điều trị bất kỳ một triệu chứng thân hay tâm nào cả – khi chưa phát hiện ra được cái tác ý dẫn đến mọi hiện tượng không những cho sức khoẻ, hạnh phúc … mà thậm chí còn cho bệnh tật, dị bệnh, rối loạn phát triển… hoặc mọi hội chứng mãn tính v.v…

Bởi:
Ý DẪN ĐẦU các PHÁP
 (tác nhân)
Ý LÀM CHỦ, Ý TẠO TÁC (tác ý)

Chân thành niệm ân các Bạn thường xuyên tham khảo các bài chia sẻ của chúng tôi; mặc dù các bài chia sẻ rất dài, khó chấp nhận… đơn giản, dễ hiểu thôi… bởi Liệu Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.® với Y Lý, Y Học và y Thuật của nó hoàn toàn mới mẻ đối với nền y học Cổ Điển đông tây nam bắc mang tính thống kê hóa – kể cả đối với tư tưởng ứng dụng giáo lý Phật Đà vào Y Học gọi là Y Phương Minh HOÀN TOÀN KHÁC đối với mọi phương cách của các Thiền sư ứng dụng từ trước đến nay và hiện giờ vẫn còn được hậu duệ của các Ngài rao giảng (!)

Bởi, NGAY ĐANG LÀ là phương châm duy nhất làm cơ sở cho Y Lý, Y Học và Y Thuật của Liệu Pháp TÂM-THỂ P.E.R.G.®. theo chân ngôn sau:

Chúng ta ĐANG
CÁI
chúng ta tác ý ĐÃ là
Chúng ta SẼ
CÁI
chúng ta tác ý ĐANG là…m

Nam Mô THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát Ma Ha Tát

Thương kính chúc muôn loài Sức Khỏe Bình Thường, luôn An Lành với „Ý NHƯ VẠN SỰ như nó đang là nghĩa là BIẾT KHÔNG THÊM để THÂN có thể YÊN, TÂM có thể AN, THẾ GIỚI có thể HÒA BÌNHNHÂN SINH có thể AN LẠC được ngay sát-na đang là và trong vô lượng sát-na đang là tiếp nối!

Nam Mô DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG PHẬT
Namo Bhaisaijya Guru Vaiḍuria Prabhà Ràjàya Tathàgatàya

Gs. THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Tổ sư phát minh „Năng Lượng TÂM-THỂ Liệu Pháp P.E.R.G.®“; sáng lập “Zentrum PFBC” là chữ viết gọn của „Trung Tâm PERG Nghiên Cứu Chẩn Trị bệnh Long-COVID“ – tiếng Đức: „Zentrum PERG für Forschung und Behandlung Long-COVID Krankheiten“, tiếng Anh: “PERG-Center for Research and Treatment of Long-COVID Diseases”
CHỦ NHẬT ngày 03.03.2024

Khám phá thêm từ P.E.R.G.® nach NGOs

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc